4 thg 8, 2012

THÁNH GIOAN MARIA VIANNEY



Thánh Gioan Maria Vianney và Tòa Giải Tội
Đức Giáo Hoàng Piô XII viết về cha thánh Gioan Maria Vianney một câu thật ngắn gọn: “Một chuyên viên thành thạo nhất về các tội nhân”.
Công việc mục vụ ngồi tòa, giải tội là sứ vụ đức ái mục tử đẹp nhất trong cuộc đời của cha thánh, là hoạt động sáng chói nhất trong nhiệm vụ của một mục tử.
Thời trẻ Gioan có một tâm nguyện: “Nếu một ngày nào đó tôi được làm Linh mục, tôi sẽ đưa nhiều linh hồn về cho Chúa”. Khi làm Linh mục, ngài đã thực hiện tâm nguyện ấy. Tòa giải tội là nơi ngài đưa các linh hồn về cho Chúa nhiều nhất. Tòa giải tội đã thu hút biết bao hối nhân tìm đến với xứ Ars. Tòa giải tội là phép lạ lớn nhất trong cuộc đời của thánh nhân.

Thời gian ở tòa giải tội.
Một phần lớn cuộc đời Linh mục của cha Vianney trôi qua trong tòa giải tội. Trong 30 năm dài, một làn sóng người hành hương không ngừng đổ về ngôi nhà thờ cũ kỷ của họ Ars. Mùa đông rét buốt, số người đến đây không ít hơn các mùa ấm áp.
Tứ tháng 11 đến tháng 3, cha sở phải ngồi tòa trung bình không dưới 12-13 giờ mỗi ngày. Người ta đứng thành hàng dài, từ trong nhà thờ ra bên ngoài, nối đuôi nhau không ngớt chờ đợi tới phiên mình.

Trong năm 1845, có ngày số người hành hương đến Ars lên tới ba hay bốn trăm. Tại nhà ga lớn nhất của Lyon, người ta mở một văn phòng hoạt động 24/24 để bán vé tàu cho khách đi Ars, vé có giá trị tám ngày, đó là thời gian trung bình người ta phải đợi cho đến phiên mình vào tòa xưng tội với vị Linh mục thánh thiện nổi tiếng.

Vào mười năm cuối đời, Thánh Vianney phải giải tội từ mười sáu đến mười tám tiếng một ngày! Còn khách hành hương nói chung phải đợi ba mươi, năm mươi, bảy mươi giờ trước khi được lãnh nhận bí tích hòa giải. Cũng có khi người ta mua lại chỗ đứng của người nghèo. Ai muốn đi ra ngoài phải thỏa thuận vời người bên cạnh hoặc với người bảo vệ nhà thờ. Đêm thì sao? Khi cửa nhà thờ đóng lại, người ta đánh số chổ của mình. (x.Linh mục, người loan báo Tin Mừng, Lm Nguyễn Hồng Giáo, OFM).

Ai đến với tòa giải tội?
Họ gồm đủ mọi thành phần và lứa tuổi: có giáo dân, tu sĩ, linh mục và đôi khi cả giám mục nữa; họ là quý tộc và bình dân, kẻ vô chủ nghĩa và người học thức, người thành thị và người thôn quê,… Có khi nguyên một gia đình ngồi trên xe ngựa đến từ những tỉnh xa xôi. Từ những vùng lân cận, người ta tuôn về đây bằng đôi chân hay bằng xe, theo đường bộ hay đường thủy.
 Năm cuối cùng của cuộc đời cha Vianney (1858-1859), số khách hành hương lên tới tám mươi ngàn, chỉ tính riêng số người dùng các phương tiện chuyên chở công cộng; còn tính chung có lẽ là khoảng một trăm ngàn đến một trăm hai mươi ngàn.

Đám đông này rất trật tự và nghiêm trang. Họ đến là để nhìn một vị thánh, để xưng tội, để cầu nguyện hay để hoàn thành một lời khấn với thánh nữ Philomêna. Có những người vào làng Ars như vào một đền thánh; vừa nhìn thấy tháp chuông nhà thờ, họ liền cất nón mũ xuống và làm dấu thánh giá. Một nhân chứng kể lại quang cảnh họ nhìn thấy vào tháng ba năm 1859: đông đảo những người ngoài họ Ars đứng trong nghĩa trang cũ và đến tận trong những con đường nhỏ kế cận chờ đến phiên vào tòa giải tội.
Buổi sáng vào khoảng chín giờ, Cha Vianney dành một số thời gian cho các tu sĩ và linh mục. Ngài giải tội cho họ ở một tòa đặt sau bàn thờ chính. Có lần Đức Giám mục địa phận nhà cũng ngồi chờ phiên mình. Cha giải tội cũng dành một số ngoại lệ cho giáo dân con chiên cha, người bệnh, người tản tật và những hối nhân không thể chờ đợi. Đối với trường hợp cuối cùng này, ngài thường dùng ơn “nhìn thấy trong tâm hồn” để nhận ra từ trong dòng người chờ đợi, rồi ưu tiên cho họ.(sđd, trang 62-63).

Cha Gioan Maria Vianney khuyên bảo hối nhân như thế nào ?
Nói chung, ngài mạnh mẽ thẳng thắn, nhân từ nhưng không yếu đuối. Ngài biết cần phải “đánh” điểm nào cho trúng đích. Đọc một số lời khuyên còn ghi lại, tôi thấy ngài thường ngắn gọn, đầy tâm tình chứ không máy móc lạnh lùng.
Để lay tỉnh những “đại tội nhân”, khá nhiều khi ngài tung ra một câu đanh thép: “này con, con bị luận phạt đời đời”. Phát ra từ môi miệng một vị thánh mà người ta tin là ngài đọc được tương lai, câu đó giống như một lời phán quyết khủng khiếp. Nhưng thật ra ngài chỉ muốn nói: “nếu con không xa lánh dịp tội ấy, nếu con cứ duy trì cái thói quen tội lỗi ấy, nếu con không nghe theo lời khuyên dạy thì con sẽ bị luận phạt”.
Đối với những người đạo đức, ngài không cần nhiều lời. Nhưng ngay cả với trường hợp này, vẫn là những mũi tên nóng bỏng đâm thấu tận con tim: “xin Đức Cha yêu thương các Linh mục của ngài!”. Đó là lời duy nhất ngài nói với Đức cha De Langalerie, Giám mục địa phận Belly đang quỳ gối trước mặt ngài. Một cộng sự viên gần gũi của ngài xưng thú: “con đã lười biếng làm điều này nhưng tận đáy lòng, con vẫn thiện chí”, cha giải tội đáp lại duy nhất một câu “Ồ! thiện chí, thiện chí … hỏa ngục cũng lót toàn thiện chí”. Linh mục Monnin kể: “tôi đã xưng tội với ngài hai lần. Lần nào cũng thế, sau mỗi tội tôi xưng ra dù là tội nhẹ nhất, ngài đều nói: ‘đáng tiếc quá’. Từ một người khác, đó có thể là một cách nói thông thường, nhưng từ môi miệng của Cha Sở họ Ars, Linh mục Monnin coi như là tiếng kêu của lòng tin, lòng thương xót và sự ghê tởm đối với tội lỗi; ngài thêm: “Nhất là giọng nói đầy âu yếm đã đánh động tôi” (sđd, trang 64).

Cha Vianney yêu thương tội nhân.
Cha Vianney ghê tởm tội lỗi bao nhiêu thì yêu mến người tội lỗi bấy nhiêu. Ngài có một lòng cảm thương vô bờ đối với hối nhân. Tình yêu ấy được biểu lộ qua những nhân đức sau đây

Cầu nguyện cho tội nhân.
Xen lẫn với kinh nguyện hằng ngày, ngài thường khóc lóc mà thưa với Chúa: “Lạy Chúa, Chúa không muốn kẻ có tội phải chết… Những người có tội thật đáng thương. Ước gì con có thể thú tội thay cho họ”. Một người thân tín nói với ngài: “Cha cầu nguyện cho họ ít đi một tí được không? Thấy cha vất vả đau khổ quá!. Ngài trả lời: “Biết sao được. Cha đã hứa cầu nguyện cho họ, cha không thể bỏ…”. Lần khác ngài tâm sự: “Tôi chỉ thực sự là tôi khi tôi cầu nguyện cho những người tội lỗi”

Đền tội thay cho họ.
Ngài ăn chay hãm mình để đền bù tội lỗi và mongcho tội nhân hối cải.Trong những năm cuối đời, ngài thường ra việc đền tội nhẹ cho hối nhân. Ngài nói: “Tôi ra việc đền tội nhẹ cho họ, phần đền tội còn lại, tôi sẽ làm thay”. Và ngài làm thay bằng chính sự khổ chế của mình. Tất nhiên, không phải lúc nào cũng vậy. Đối với những lỗi nặng mà cứ tái phạm mãi, ngài bắt hối nhân phải làm những việc đền tội nặng, để họ chứng tỏ sự chân thành và quyết tâm sửa đổi, hầu đem lại lợi ích cho chính họ. Cha Vianney nhiều khi còn khóc trong tòa giải tội nữa. Ngài khóc vì người ta xúc phạm tới Chúa, ngài cũng khóc vì thương các linh hồn… Chính sự thánh thiện của ngài mang lại cho lời khuyên răn và nước mắt của ngài có sức mạnh và hiệu lực.Có người hỏi: “sao cha khóc thế?” ngài đáp ngắn gọn: “tôi khóc vì các ông các bà không khóc cho đủ”.

Yêu thương tội nhân
Đối với những tội nhân cứng lòng, ngài tìm hết cách giúp họ thống hối như gặp gỡ, khuyên nhủ, khi nặng khi nhẹ, và ngay cả bằng nước mắt. Nước mắt và Thánh giá, nhờ ngài, có thể làm cho một trái tim chai đá trở thành trái tim thịt mềm. Có người lúc trước đã trả lời thẳng thừng: “Tôi không muốn xưng tội”, hoặc: “Tôi không đến đây để làm cái chuyện đạo đức của mấy bà”. Mặc kệ. Cuối cùng tất cả đều quỳ xuống dưới chân ngài và xưng thú. Chúa đã ban cho ngài một trực giác lạ lùng để nhận ra giữa đám đông hoặc giữa những người đi qua, ai là kẻ cần được đưa về với Chúa nhất để giúp họ, trước sự ngạc nhiên của chính họ. Do đó mà khi có người buột miệng hỏi: “Mỗi năm cha bắt được bao nhiêu cá lớn?”, ngài trả lời ngay, không lưỡng lự: “Hơn 700”. Không nhớ con số sao được đối với những con cá như thế

Luôn nhẫn nại
Một dù vất vả ngồi tòa và có những chuyện dễ làm người ta bực mình, nhưng ngài thì không. Ngược lại, ngài tỏ ra đặc biệt nhẫn nại. Đây là một trong những đức tính nổi bật nhất nơi ngài. Một linh mục đã nhận xét : Tôi đã từng quan sát kỹ xem ngài có tỏ ra bất nhẫn bực tức lúc nào không, mà không thấy. Đem chuyện này hỏi ngài thì được ngài trả lời: “Phải nhẫn nại mới có thể cho cái người ta cần chứ ! Bất nhẫn thì được cái gì ?” Ngài cũng nói với một cha bạn: “Hãy học tập sự nhẫn nại của Chúa”.

Hiền hòa, kính trọng hối nhân.
Vào thời kỳ cao điểm, bình quân mỗi ngày có từ 300 đến 400 người xếp hàng xưng tội. Công việc vất vả và liên tục trong 30 năm này đã làm cho ngài kiệt lực, đến nỗi có lần ngài tự thú: “Khi tôi rời tòa giải tội, tôi phải lấy tay sờ vào đùi xem nó có còn ở đấy không. Đôi khi ra khỏi nhà thờ, tôi phải vịn vào tường mà đi cho khỏi ngã. Đầu tôi nặng trĩu. Thực sự tôi đã không biết mình chống lại như thế nào”.
Suốt ngày bị công việc mục vụ dồn ép như thế, ngồi nghe hối nhân hàng giờ như thế mà ngài vẫn không mất kiên nhẫn, không la lối nạt nộ ai bao giờ, thật là lạ lùng.
Ngài luôn hiền hòa, tế nhị, kính trọng đối với hối nhân, bất kể là ai. Có Linh mục sa ngã nặng đến xưng tội vẫn được ngài yêu mến, kính trọng. Lời khuyên dành cho Đức Giám Mục Giáo Phận đến xưng tội với ngài là : xin Đức cha hãy yêu thương các Linh mục của Đức cha.
Dù có đông người xếp hàng bên tòa giải tội, ngài vẫn dành cho mỗi người một thời gian cần thiết, bởi người nào cũng có vấn đề riêng của mình. Ngài không khuyên dài, nhiều khi chỉ một lời thôi, nhưng là lời làm cho hối nhân phải động tâm suy nghĩ, một lời tác động mạnh trên họ có khi cả đời. Chính sự thánh thiện và yêu thương đem lại sức mạnh và hiệu năng cho lời đó.(x. Thánh Gioan Maria Vianney, bổn mạng các Linh mục, Lm Micae Trần Đình Quảng; simonhoadalat.com).

Để có thể thi hành tác vụ của lòng thương một cách hữu hiệu, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II khuyên Linh mục phải sống khả tín và khả ái.
  • Khả tín: Thật vậy, dù ơn Chúa ban có thể hoàn tất công trình cứu rỗi qua những thừa tác viên bất xứng, nhưng thường tình Thiên Chúa muốn tỏ ra những việc lạ lùng của Ngài qua những vị sẵn sàng đi theo sự thúc giục và hướng dẫn của Thánh Thần hơn, bằng kết hợp mật thiết với Chúa Kitô và bằng một đời sống thánh thiện” (PO, 12)
  • Khả ái: Người ta thường muốn được nhận biết và chăm sóc, vì chính trong tư thế gần gũi này mà họ có thể cảm nghiệm được tình yêu Thiên Chúa một cách mạnh mẽ hơn” (Thư TNTT số 9). Linh mục phải làm hết cách để lòng thương xót của Thiên Chúa được sáng lên giữa những cử hành“Nghiêm nhặt quá làm cho dân chúng bị dằn vặt tháo lui. Dễ dãi quá gây hiểu lầm và ngộ nhận. Đấng giải tội rập theo gương Chúa Chiên lành mà tha tội phải diễn đạt đúng mực thước lòng đã sẵn có và sự tha thứ hầu mang lại an bình và chữa lành” (Thư TNTT số 8).  
Nhân ngày lễ kính thánh Gioan Maria Vianney (ngày 4 tháng 8), đọc lại nét tiêu biểu cuộc đời thánh nhân nơi tòa giải tội. Như người ta đã nói: phép lạ lớn nhất của cha Vianney thánh thiện là tòa giải tội của ngài bị bao vây suốt ngày đêm.
Cũng có thể nói cách khác: phép lạ tiêu biểu của ngài là sự hoán cải của những người tội lỗi. Các Linh mục noi gương cha thánh thực thi sứ vụ khó khăn và cao đẹp này.Mỗi lần ban ơn xá giải là Linh mục thấy mình được cộng hưởng trên đường nên thánh.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

1 thg 8, 2012

THÁNH ANPHONG



Thánh Anphong Maria Liguori, Đấng sáng lập DCCT

Dòng Chúa Cứu Thế là một Dòng truyền giáo được Thánh Alphonso Maria Ligori sáng lập ngày 9-11-1732 tại làng Scala, miền Nam nước Ý. Sứ mạng đặc biệt của các tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế là rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó, cô thế cô thân.
Tất Cả Cho Người Nghèo.
Bắt đầu với một nhóm linh mục ít ỏi bé nhỏ nhưng đầy nhiệt thành, ngày nay Dòng Chúa Cứu Thế đã vươn mạnh thành một Dòng thừa sai lớn của Giáo Hội. Gần 6500 tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế, gồm các linh mục và các thầy đồng trợ hiện diện trên hơn 50 quốc gia, đang miệt mài rao giảng Tin Mừng cứu rỗi bằng tất cả mọi phương tiện có thể có.
DÒNG CHÚA CỨU THẾ VIỆT NAM
Thể theo lời yêu cầu của Ðức Cha Henry Lecroart, Khâm sai kinh lược của Tòa Thánh tại Việt Nam năm 1923, Thánh bộ Truyền giáo đã ký thác cho vị Chủ tịch Thánh bộ là Ðức Hồng Y Van Rossum, thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, việc tìm kiếm và vận động thành lập Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam.

Tỉnh Dòng Thánh Anna Beaupré (Canada) được ký thác công cuộc lập Dòng tại Việt Nam. Ngày 30/11/1925, hai linh mục và một thầy đồng trợ Dòng Chúa Cứu Thế tiên khởi đặt chân lên đất Việt. Cũng với một nhóm tu sĩ ít oi nhỏ bé đó, Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam trong 65 năm qua vẫn không ngừng kiên trì rao giảng Tin Mừng cho đồng bào mình trên mọi nẻo đường đất nước. Chúa Cứu Thế chúc lành cho công cuộc truyền giáo của Tỉnh Dòng bằng cách gởi đến thêm nhiều thợ gặt nhiệt thành.Năm 1964, Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam trở thành một Tỉnh độc lập, với Cha F.X. Trần Tử Nhãn, Giám Tỉnh tiên khởi.
Rao Giảng Tin Mừng
Mục đích chính của Dòng Chúa Cứu Thế là rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô bằng các phương thức phổ biến như Ðại phúc, Cấm phòng, Tĩnh tâm. Sứ mạng rao giảng này được mở rộng bằng việc tông đồ báo chí, hầu có thể đáp ứng nhu cầu của nhiều người sống ở phương xa. Tại Hoa Kỳ, Nguyệt san Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp hàng tháng cung cấp lương thực tinh thần cho hàng ngàn đồng hương trên khắp năm châu.
Sứ Mạng Truyền Giáo
Dòng Chúa Cứu Thế cũng đảm nhận việc truyền giáo cho lương dân tại Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La-Tinh. Hiện nay, tu sĩ của các Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Hoa Kỳ đang phục vụ tại các trung tâm truyền giáo ở Puerto Rico, Brazil, Paraguay, Thái Lan và Nigeria. Tại Việt Nam, các địa sở truyền giáo cho đồng bào Thượng đã được thiết lập từ lâu tại Fyan (Tuyên Ðức) và Pleikly (Pleiku).
Hoạt Ðộng Tông Ðồ Chuyên Biệt
Nhiều tu sĩ DCCT phụ trách các hoạt động tông đồ đặc biệt như quản nhiệm các giáo xứ theo yêu cầu của các Giám mục sở tại, tông đồ cho người câm điếc, tật nguyền, tuyên úy cho người di dân. Hiện nay một số linh mục DCCT Việt Nam hải ngoại đang làm tuyên úy cho các cộng đoàn Công Giáo Việt Nam, cho trại tù và phục vụ các thanh niên không gia đình.
Cổ Võ Lòng Sùng Kính Ðức Mẹ
Tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế có một lòng sùng kính đặc biệt đối với Mẹ Maria. Năm 1866 Ðức Thánh Cha Piô IX ký thác cho Dòng bức họa thời danh hay làm phép lạ, có tên "ÐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP". Ngài truyền: "Hãy làm cho cả thế giới yêu mến Mẹ!". Ngày nay, việc kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp thường được tổ chức hàng tuần tại các giáo xứ Mỹ cũng như tại các Ðền Ðức Mẹ trên toàn thế giới. Bên quê nhà, đền Ðức Mẹ tại Thái Hà Ấp (Hà Nội), Huế và Sài Gòn là những trung tâm hành hương thân thuộc với đồng bào lương giáo Việt.
Chứng Nhân Anh Hùng
Có bốn tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế đã được tôn phong Hiển thánh, hai vị được tôn phong Á thánh và nhiều Ðấng đáng kính, với ơn Chúa, đang chờ ngày Giáo Hội vinh thăng hiển thánh. Những nhân chứng anh hùng của các bậc cha anh luôn là niềm hứng khởi, thúc đẩy thế hệ đàn em mạnh tiến.
Thánh ALPHONSO LIGORI (1696-1787), Ðấng sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế, là Tiến Sĩ Hội Thánh và là một trong những nhà thần học luân lý lừng danh nhất trong lịch sử Giáo Hội. Mối quan tâm đến phần rỗi các linh hồn cũng thúc đẩy ngài dấn thân vào việc tông đồ bằng ngòi bút. Tổng số tác phẩm của ngài lên đến 111 cuốn, bao gồm các lãnh vực luân lý, tín lý và tu đức.
Thánh CLÊMENTÊ HOFBAUER (1751-1820) là một linh mục quản xứ nhiệt thành, một tông đồ tận tình với người nghèo và cả giới sinh viên trí thức. Ngài có công quảng bá DCCT qua khỏi biên cương nước Ý năm 1785.
Thánh GIÊRAÐÔ MAJELLA (1726-1755) là một thầy đồng trợ thánh thiện. Giáo dân kính ngài như thánh bổn mạng các bà mẹ và hằng kêu cầu ngài những khi gặp gian nan. Ðặc biệt, Hội Bảo trợ Ơn gọi DCCT cũng đã nhận Ngài làm Thánh Quan Thầy của Hội.
Thánh GIOAN NEUMANN (1811-1860) là một thừa sai di cư từ Âu Châu sang Hoa Kỳ. Ngài là Giám mục địa phận Philadephia, Pennsylvania, và là người đầu tiên thiết lập hệ thống trường công giáo tại giáo xứ ở Hoa Kỳ.
Á Thánh GASPAR STANGASSINGER (1871-1899) dành trọn cuộc đời ngắn ngủi cho giới trẻ. Ngài được Ðức Gioan Phaolô II nâng lên hàng Á thánh ngày 24-4-1988.
Cha PHANXICÔ SEELO (1819-1867) là một nhà truyền giáo không mệt mỏi tại Hoa Kỳ. Ngài tận tụy phục vụ bệnh nhân dịch sốt vàng tại New Orleans, Louisiana và cuối cùng đã qua đời vì nhiễm bệnh dịch này.

Mẹ Hằng Cứu Giúp,
Đấng hiện diện trong mọi công việc tông đồ của Dòng

Nguồn TGM Hải Phòng

26 thg 7, 2012

GIOAKIM và ANNA

Phụ Mẫu của Đức Trinh Nữ Maria.

Thánh tích của Thánh Gioakim và Thánh Anna được trao cho các vị đại diện của Nhà thờ Thánh Anna, thuộc Chính thống giáo Hy Lạp, vào ngày 3-8-2007 tại Nhà thờ Mẹ Thiên Chúa Byzantine Thế kỷ X ở Chalkeon, tọa lạc tại Quảng trường Aristotelous ở Texalônica, Hy Lạp. Giáo sĩ Cherubim Apostolou, thuộc Huynh đoàn Theophileon Thánh Anna của tu viện Lavra trên Núi Athos, Hy lạp, cùng phái đoàn đã nhận thánh tích từ ĐHY Joachim Miesner, TGP Cologne (Đức), trong một nghi lễ riêng hồi năm 1997.
Thánh Gioakim và Thánh Anna là song thân của Đức Maria, Mẹ của Chúa Giêsu. Những gì chúng ta biết về các ngài là do vài nguồn, mới đầu là Phúc Âm của Giacôbê, người con út trong bảy người con của Giuse và người vợ Salome. Mặc dù các phần văn bản được coi là xác thực, còn lại những bản sao của Phúc Âm này, rồi được thêm vào nhiều thứ mang tính dân gian, đó là lý do sách này không được tính vào bộ Tân ước.
Thánh Gioakim là người chăn chiên thuộc chi tộc Giuđa từ Nadarét thuộc Galilê, còn Thánh Anna ở Belem thuộc miền Giuđa. Thánh Anna là con gái của tư tế Matthan thuộc chi tộc Lêvi. Lúc 20 tuổi, Thánh Gioakim kết hôn với Thánh Anna. Hai người sống với nhau gần 50 năm mà không có con, hai người thề hứa rằng nếu có con thì sẽ dâng hiến cho Chúa.
Giacôbê kể rằng tư tế Rueben khước từ ông Gioakim và các lễ vật vào ngày lễ Dâng hiến và lễ Ánh sáng vì ông không có con cái. Ông Gioakim ra khỏi đền thờ, đưa đàn súc vật lên núi, thề ăn chay và cầu nguyện tới khi Thiên Chúa ghé mắt đoái thương. Bà Anna rời sân dành cho phụ nữ ở đền thờ và về nhà khóc lóc, than thân trách phận mình vô sinh.
Kinh thánh “ngoại hạng” kể rằng Tổng lãnh thiên thần Gabrien đã hiện ra với cả ông Gioakim và bà Anna và nói rằng họ sẽ có con, và bảo họ tới Hoàng Môn (Golden Gate, cửa vàng) của thành Giêrusalem, họ sẽ được đón tiếp, mang thai trong lúc tuổi già, và sinh hạ Maria tại nhà gần Chiên Môn (Sheep Gate, cửa chiên) của thành Giêrusalem. Ông Gioakim qua đời lúc 80 tuổi và bà Anna qua đời lúc 79 tuổi.
Thánh tích của Thánh Gioakim và Thánh Anna, ông bà ngoại của Chúa Giêsu, được các Kitô hữu đầu tiên rước đi từ cổng vườn Gếtsêmani. Dù thánh tích này là kho tàng vô giá của Giêrusalem, nhưng vẫn được chia sẻ với các tôn giáo khác. Tiến sĩ Stilianos Bakirtzidis, giáo sư khoa Tiểu sử Chư thánh (Hagiography) cùng với trường ĐH Đức ở Texalônica, giải thích rằng thánh tích này đã được Charlemagne đưa tới Pháp hồi thế kỷ IX.
Sau đó thánh tích được đưa tời Cologne (Đức), một số thánh tích được đặt tại các Thánh đường tôn kính Thánh Gioakim và Thánh Anna, một số thánh tích được đặt tại tòa TGM Cologne. Giáo sư Bakirtizidis kết luận rằng thánh tích của Thánh Gioakim và Thánh Anna thuộc loại cực kỳ hiếm. Ngoài phần sọ của Thánh Anna được trao cho một nhà thờ hồi năm 2005, có thể là tu viện ở Cappadocia (Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay), thánh tích của Thánh Gioakim có thể là phần duy nhất đến Hy Lạp và vẫn là thánh tích duy nhất của Thánh Gioakim ở Nhà thờ Chính thống giáo tại Mỹ châu.
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ SaintAnna.org)

TIBÊRIA - DẤU LẠ NGÀN XƯA

5 Chiếc Bánh và 2 Con Cá.



24 thg 7, 2012

GIACÔBÊ TÔNG ĐỒ



THÁNH GIACÔBÊ TÔNG ĐỒ



Trong danh sách mười hai Tông đồ mà Chúa chọn, có hai người cùng mang tên là Giacôbê, một người là anh của Thánh Gioan viết Phúc âm, con ông Giêbêđê  và một người là con của ông Alphê. Để phân biệt hai Tông đồ này, người ta gọi Thánh Giacôbê Tông đồ hậu và Giacôbê Tông đồ tiền.
 Phụng vụ vào ngày 25 tháng 7 hằng năm cử hành lễ kính Thánh Giacôbê Tông đồ Tiền.

Thân thế của Thánh Giacôbê 
Ông xuất thân trong một gia đình ngư phủ tương đối khá giả tại Betsaiđa, thân sinh là ông Giêbêđê có người làm thuê (Mc 1, 19-20). Cũng theo Tin mừng của Marcô thì Giacôbê là một trong bốn môn đệ được Chúa gọi đầu tiên tại biển hồ Galilêa (Mc 1, 16-20).

Trong những biến cố quan trọng của cuộc đời Đức Giêsu, vị Tông đồ này luôn có mặt, ông đã chứng kiến phép lạ Chúa chữa nhạc mẫu Phêrô khỏi bệnh (Mt 1, 29-31), con gái ông Giairô sống lại (Mc 5, 37-43), Chúa biến hình trên núi (Mc 9,2-8), và lúc chúa Giêsu hấp hối ở vười Gietsimani (Mt 26,37).

 Hai anh em Giacôbê và Gioan được Chúa đặt cho một biệt hiệu khá “kêu” là :”Boanergès” có nghĩa là cơn sấm sét (Mc 3,17). Chắc cũng vì cá tính của Giacôbê hơi nóng nảy khi cùng với Chúa Giêsu đi vào làng Samari và dân làng không đón tiếp. Thấy vậy, Giacôbê và Gioan cùng đề nghị với Chúa rằng: ”Thưa Thầy,Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu hủy chúng nó không?” (Lc 9, 54). 

Cuộc Tử đạo của Ngài 
Theo sách Công vụ kể lại thì có thể Thánh Giacôbê chịu tử đạo dưới thời vua Hêrôđê Agrippa I, vào cuối thế kỷ thứ II, khoảng năm 44 A.D: Thời kỳ ấy, vua Hêrôđê ra  tay ngược đãi một số người trong Hội thánh.Nhà vua đã cho chém đầu ông Giacôbê là anh ông Gioan” (Cv 12,1-2).

 Đây là thời kỳ bách hại các Kitô hữu rất dữ dội, trong suốt ba thế kỷ đầu và chỉ tạm lắng xuống sau sắc chỉ Milan của hòang đế Constantianop vào năm 313. Giáo hội phương tây mừng kính Ngài từ thế kỷ thứ VIII. Các Giáo hội theo nghi lễ Copte và Byzantin thì mừng lễ Ngài sớm hơn vào một ngày gần lễ Phục sinh.
  
Thông điệp của Thánh nhân 
Khi xin Chúa Giêsu cho được ngồi bên hữu và bên tả của Ngài, Giacôbê đã được Chúa báo trước cuộc tử đạo mà những ai muốn theo Chúa phải đón nhận. Chén đắng cùng với mũ triều thiên vinh quang trong nước trời. Bài giảng của Thánh Gioan Kim Khẩu đã làm sáng tỏ chén đắng mà Chúa Giêsu uống, khi Người trao lại cho Thánh nhân, và Giacôbê sẵng sàng đón nhận:” ngay từ phút đầu tiên, Người đã cháy lửa nhiệt tình, và trong sự khinh chê lạ thường các lợi lộc trần gian, Người đã tiến tới đỉnh cao đến độ tức thời bị đem đi giết”( trích bài giảng của Thánh Gioan Kim Khẩu trong bài đọc giờ kinh sách). 

Lm Giacôbê Tạ Chúc


22 thg 7, 2012

Gx. ThiênÂn - MỘT CHUYẾN ĐI (P. 3)

Rời TàPao và Bãi Dâu, đoàn đến thăm chia sẻ với các em Cô nhi viện Thiên Bình,(Tam Phước, Long Thành, Đồng Nai), thuộc GP. Xuân Lộc.

Nơi đây có các nữ tu chuyên cần phục vụ cưu mang hàng trăm mảnh đời bất hạnh,những trẻ mồ côi, khuyết tật, các người già neo đơn không nơi nương tựa...
Hãy đến để thấy...để cảm nghiệm, trải lòng mình ra,và để mang "Tấm Bánh Cho Đời "những sẻ chia tình người ...

Những ánh mắt đợi chờ yêu thương


Những Du sinh thiện nguyện Nước ngoài đến chăm sóc cho các em trong dịp nghỉ Hè.