12 thg 10, 2016

Xao lãng lẽ công bình (12.10.2016 – Thứ tư Tuần 28 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 11, 42-46
42 Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu! Các người nộp thuế thập phân về bạc hà, vân hương, và đủ thứ rau cỏ, mà xao lãng lẽ công bình và lòng yêu mến Thiên Chúa. Các điều này phải làm, mà các điều kia cũng không được bỏ.43 Khốn cho các người, hỡi các người Pha-ri-sêu! Các người thích ngồi ghế đầu trong hội đường, thích được người ta chào hỏi ở nơi công cộng.44Khốn cho các người! Các người như mồ mả không có gì làm dấu, người ta giẫm lên mà không hay.”45 Một người trong số các nhà thông luật lên tiếng nói: “Thưa Thầy, Thầy nói như vậy là nhục mạ cả chúng tôi nữa! “46 Đức Giê-su nói: “Khốn cho cả các người nữa, hỡi các nhà thông luật! Các người chất trên vai kẻ khác những gánh nặng không thể gánh nổi, còn chính các người, thì dù một ngón tay cũng không động vào.
Suy niệm:
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu trách các nhà lãnh đạo. 
Họ là những người Pharisêu, những nhà thông luật. 
Họ được dân chúng kính nể vì học thức, vì chức vụ, vì đời sống đạo đức. 
Nhưng họ cũng có những khiếm khuyết cần sửa đổi.
Đức Giêsu ba lần nói “Khốn cho” đối với người Pharisêu (cc. 42-44). 
Khốn cho thứ nhất vì họ quá chú tâm giữ những điều lặt vặt, phụ thuộc, 
mà xao lãng cái chính yếu và quan trọng. 
Họ nộp thuế 10% về những thứ rau cỏ ngoài vườn để tỏ lòng đạo đức. 
Tiền thuế này được dùng để giúp đỡ các tư tế và các thầy Lêvi. 
Nhưng tiếc là họ không để ý đến sự công bình đối với tha nhân, 
và lòng yêu mến đối với Thiên Chúa (c. 42). 
Tương quan hai chiều của họ bị tổn thương. 
Việc nộp thuế, dâng cúng cho nhiều cũng không sao kéo lại được. 
Đức Giêsu đòi giữ cả hai, nhất là những bổn phận chính yếu: 
“Các điều này phải làm mà các điều kia cũng không được bỏ.”
Khốn cho thứ hai vì họ thích tiếng khen từ người đời. 
Không yêu mến Thiên Chúa, nhưng họ lại yêu mến ghế đầu nơi hội đường, 
và yêu thích được chào hỏi nơi công cộng (c. 43). 
Địa vị, tiếng tăm là điều họ tha thiết tìm kiếm. 
Mọi việc họ làm đều nhằm tôn vinh cho cái tôi. 
Chính vì thế một đời sống bề ngoài có vẻ sống cho Chúa, 
kỳ thực lại là một tìm kiếm hư danh cho chính mình. 
Khốn cho thứ ba gắn liền với sự giả hình trên đây. 
Đức Giêsu ví họ với mồ mả người chết chôn dưới đất. 
Vì không có gì làm dấu, nên chẳng ai biết đó là mồ mả để tránh. 
Nhiều người giẫm lên nên bị ô nhơ mà không hay.
Nghe Đức Giêsu nói, một nhà thông luật cảm thấy bị xúc phạm. 
Đức Giêsu cũng sẽ nói ba lần Khốn cho đối với các vị này. 
Họ là những nhà chuyên môn giải thích luật và là thầy dạy dân chúng. 
Khốn cho đầu tiên vì họ đã làm cho luật trở nên một gánh quá nặng. 
Những giải thích của họ làm sinh ra bao cấm đoán và đòi buộc 
vượt xa những gì chính bản văn lề luật đòi hỏi. 
Thí dụ trong ngày sabát, có 39 loại công việc không được phép làm. 
Luật thay vì là nguồn vui, nguồn hạnh phúc, thì lại trở nên ách nặng nề. 
Nhiệm vụ của người thông luật không phải chỉ là dạy luật, 
mà còn là giúp người khác giữ luật. 
Với thái độ đứng ngoài, không muốn động vào, 
không muốn trợ giúp, dù bằng một ngón tay (c. 46), 
người thông luật sẽ không làm cho người ta cảm thấy tình yêu Thiên Chúa.
Những lời Khốn cho của Đức Giêsu cách đây hai mươi thế kỷ 
vẫn còn nguyên giá trị cho Hội Thánh của các Kitô hữu hôm nay. 
Để có thể xây dựng một Hội Thánh Việt Nam cho kỷ nguyên mới, 
chúng ta cần tránh những lỗi của người xưa.
Cầu nguyện:
Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận,
xin dạy con biết phục vụ âm thầm.
Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt,
xin dạy con biết yêu thương tự hiến.
Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ,xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.
Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị,
xin dạy con biết coi mọi người như anh em.
Lạy Chúa Ba Ngôi,Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng,
xin cho các Kitô hữu chúng con
trở thành tình yêu
cho trái tim khô cằn của thế giới.
Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài,biết sống nhờ và sống cho tha nhân,
biết quảng đại cho đi
và khiêm nhường nhận lãnh.
Lạy Ba Ngôi chí thánh,xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa
ở sâu thẳm lòng chúng con,
và trong lòng từng con người bé nhỏ.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

10 thg 10, 2016

Bên ngoài, bên trong (11.10.2016 – Thứ ba Tuần 28 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 11, 37-41
37 Đức Giê-su đang nói, thì có một ông Pha-ri-sêu mời Người đến nhà dùng bữa. Tới nơi, Người liền vào bàn ăn.38Thấy vậy, ông Pha-ri-sêu lấy làm lạ vì Người không rửa tay trước bữa ăn.39 Nhưng Chúa nói với ông ấy rằng: “Thật, nhóm Pha-ri-sêu các người, bên ngoài chén đĩa, thì các người rửa sạch, nhưng bên trong các người thì đầy những chuyện cướp bóc, gian tà.40 Đồ ngốc! Đấng làm ra cái bên ngoài lại đã không làm ra cái bên trong sao?41 Tốt hơn, hãy bố thí những gì ở bên trong, thì bấy giờ mọi sự sẽ trở nên trong sạch cho các người.
Suy niệm:
Một ông Pharisêu mời Đức Giêsu đến dùng bữa. 
Cử chỉ đó cho thấy thiện cảm của ông đối với Ngài. 
Đức Giêsu đã đáp lại lời mời, đã đến nhà ông và liền ngồi vào bàn tiệc. 
Ông chủ nhà bị sốc vì thấy khách không rửa tay trước khi ăn. 
Đối với ông đây là một thói quen quan trọng, không thể thiếu. 
Thế là Đức Giêsu đã giảng cho ông một bài hẳn hoi. 
Tuy nhiên, vì tế nhị, vì là khách mời cho một bữa ăn, 
nên chắc Ngài đã chẳng nặng lời đến mức đó. 
Bài Tin Mừng này thật ra phản ánh sự căng thẳng từ sau năm 70, 
giữa những người Pharisêu thuộc giới lãnh đạo hội đường với các Kitô hữu.
Đức Giêsu đã dùng hình ảnh một cái chén uống nước và cái đĩa. 
Đối với Ngài, các người Pharisêu chỉ lo lau rửa ở bên ngoài chén đĩa. 
Chú trọng tỉ mỉ đến cái bên ngoài là nét riêng của họ. 
Lắm khi cái bên ngoài chỉ là những cái phụ thuộc, không cần thiết. 
Điều họ muốn mọi người tuân giữ lại không phải là chính Luật Môsê, 
nhưng chỉ là những lời giải thích chi li Luật đó 
được truyền miệng nơi các rabbi, rồi sau này được viết lại thành sách. 
Đức Giêsu cho thấy cái bên trong của người Pharisêu, 
cái bên trong của chén và đĩa mà họ không để tâm lau rửa. 
“Cái bên trong của các người thì đầy chuyện cướp bóc, gian tà” (c. 39). 
Như thế cái bên trong của chén đĩa 
tượng trưng cho cái bên trong của tâm hồn con người. 
Rửa sạch cái bên ngoài của chén đĩa, không đủ. 
Cần phải rửa sạch cả cái lòng tham lam chiếm đoạt và lòng độc ác gian tà. 
Rửa sạch cái bên trong mới là điều quan trọng hơn, cấp thiết hơn, khó hơn. 
Có khi vì khó nên người ta né tránh bằng cách làm cái dễ.
Đức Giêsu bực bội về sự tương phản này nơi một số người Pharisêu, 
tương phản giữa cái bên ngoài rất sạch và cái bên trong rất dơ, 
khiến nhiều người có thể bị ngộ nhận. 
Nhưng Thiên Chúa thì không. 
Ngài thấy cả hai, vì ngài đã làm ra cả cái bên ngoài lẫn cái bên trong (c. 40). 
Đức Giêsu cho ta cách để tẩy rửa cái bên trong nhơ uế, đó là bố thí (c. 41). 
Trong tiếng Hy Lạp, bố thí có nghĩa gốc là bày tỏ lòng thương xót. 
“Bấy giờ mọi sự trở nên sạch cho các người.” 
Khi bố thí chia sẻ, người ta biến đổi từ bên trong. 
Tấm lòng tham lam ác độc trở nên đầy tình bác ái xót thương.
Đức Giêsu đưa chúng ta về với cái bên trong, cái cốt lõi của đời Kitô hữu. 
Như người Pharisêu cách đây hai ngàn năm,  
chúng ta vẫn bị cám dỗ để dừng lại và mãn nguyện với cái bên ngoài. 
Làm sao để chúng ta thực sự trong sạch dưới ánh mắt của Thiên Chúa? 
Làm sao để cái bên ngoài của chúng ta thực sự phản ánh cái bên trong? 
Đời Kitô hữu chính là một nỗ lực đi từ việc giữ đạo hời hợt, hình thức, 
đến việc sống đạo từ trong máu thịt mình. 
Xin Chúa giúp ta rút ngắn khoảng cách giữa cái bên ngoài và cái bên trong.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
khi đến với nhau,
chúng con thường mang những mặt nạ.
Chúng con sợ người khác thấy sự thật về mình.
Chúng con cố giữ uy tín cho bộ mặt
dù đó chỉ là chiếc mặt nạ giả dối.
Khi đến với Chúa,
chúng con cũng thường mang mặt nạ.
Có những hành vi đạo đức bên ngoài
để che giấu cái trống rỗng bên trong.
Có những lời kinh đọc trên môi,
nhưng không có chỗ trong tâm hồn,
và ngược hẳn với cuộc sống thực tế.
Lạy Chúa Giêsu,
chúng con cũng thường ngắm mình trong gương,
tự ru ngủ và đánh lừa mình,
mãn nguyện với cái mặt nạ vừa vặn.
Xin giúp chúng con cởi bỏ mọi thứ mặt nạ,
đã ăn sâu vào da thịt chúng con,
để chúng con thôi đánh lừa nhau,
đánh lừa Chúa và chính mình.
Ước gì chúng con xây dựng bầu khí chân thành,
để chúng con được lớn lên trong bình an.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Tìm kiếm dấu lạ (10.10.2016 – Thứ hai Tuần 28 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 11, 29-32
29 Khi dân chúng tụ họp đông đảo, Đức Giê-su bắt đầu nói: “Thế hệ này là một thế hệ gian ác; chúng xin dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được thấy dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Giô-na.30 Quả thật, ông Giô-na đã là một dấu lạ cho dân thành Ni-ni-vê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là một dấu lạ cho thế hệ này như vậy.31 Trong cuộc Phán Xét, nữ hoàng Phương Nam sẽ đứng lên cùng với những người của thế hệ này và bà sẽ kết án họ, vì xưa bà đã từ tận cùng trái đất đến nghe lời khôn ngoan của vua Sa-lô-môn; mà đây thì còn hơn vua Sa-lô-môn nữa.32 Trong cuộc Phán Xét, dân thành Ni-ni-vê sẽ chỗi dậy cùng với thế hệ này và sẽ kết án họ, vì xưa dân ấy đã sám hối khi nghe ông Giô-na rao giảng; mà đây thì còn hơn ông Giô-na nữa.
Suy niệm:
Theo nhận xét của thánh Phaolô trong thư gửi giáo hữu Côrintô, 
“Người Do Thái đòi hỏi dấu lạ, 
còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan” (1 Cr 1, 22). 
Có vẻ người Do Thái sính dấu lạ và đòi hỏi dấu lạ để tin. 
Đối với họ, dấu lạ là một bảo đảm cho tính chân thực của lời rao giảng.
Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ trong mấy năm rao giảng Tin Mừng. 
Trừ quỷ và chữa những bệnh nan y là những dấu lạ Ngài hay làm. 
Ngài chữa người mù bẩm sinh, người phong, người nhiều năm bất toại. 
Ngài hoàn sinh con gái ông Giairô, con trai bà góa thành Nain, 
và nhất là cho anh Ladarô chết chôn trong mồ bốn ngày được sống lại. 
Có những dấu lạ Ngài làm trên thiên nhiên mà chỉ các môn đệ biết, 
như bắt bão táp phải lặng yên hay đi trên mặt nước lúc sóng gió. 
Cũng có dấu lạ trước mặt cả ngàn người như làm cho bánh hóa nhiều. 
Không ai có thể phủ nhận chuyện Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ (Ga 11, 47).
Nhưng Ngài không làm dấu lạ để biểu diễn phô trương. 
Ngài cũng không dùng dấu lạ để mua lòng tin của dân chúng. 
Dấu lạ của Đức Giêsu không qui về vinh quang hay lợi lộc cho Ngài, 
nhưng nhắm đến việc khai mở Nước Thiên Chúa và hạnh phúc nhân loại. 
Nhiều lần Ngài thắng được cám dỗ làm dấu lạ. 
Ngài đã không biến đá thành bánh để ăn cho no bụng 
hay nhảy xuống từ nóc Đền thờ để dân chúng kinh ngạc tung hô. 
Ngài cũng không biểu diễn vài dấu lạ trước mặt Hêrôđê để được tha. 
Trên thập giá, Ngài đã không đáp lại thách đố của các nhà lãnh đạo. 
“Hắn đã cứu người khác, thì hãy cứu lấy mình đi!” (Lc 23, 35). 
Đức Giêsu đã làm dấu lạ cho người khác, nhưng không làm cho mình. 
Ngài không tự cứu lấy mình, nghĩa là không xuống khỏi thập giá.
Hôm nay, chúng ta có thể không mãn nguyện như người Do Thái xưa. 
Tuy Đức Giêsu đã làm nhiều dấu lạ trong đời ta, 
nhưng, như họ, ta vẫn đòi một dấu lạ đầy ấn tượng từ trời. 
Chúng ta muốn một dấu chỉ không thể chối cãi được 
để tin thật sự có Thiên Chúa, tin Ngài mạnh hơn sự dữ ở quanh ta. 
Nhưng chúng ta quên rằng Thiên Chúa cũng là Đấng ẩn mình, 
và quyền năng của Ngài được biểu lộ qua sự bao dung khiêm hạ. 
Chúng ta chờ dấu lạ về việc Đức Giêsu hùng mạnh đến giải thoát ta, 
nhưng lại quên rằng Ngài cũng thích cùng ta âm thầm chịu đau khổ.
Làm sao tôi nhận ra được những dấu rất lạ mà lại rất đỗi bình thường, 
những dấu lạ lớn lao mà nhỏ bé Chúa vẫn làm cho đời tôi? 
Làm sao tôi nhận ra được cái bình thường của đời tôi cũng là dấu lạ? 
Ngỡ ngàng như trẻ thơ trước những điều mà nhiều người coi là tự nhiên, 
tôi dần dần hiểu rằng đời tôi được bao bọc bởi tình yêu là dấu lạ. 
Thay vì bôn chôn tìm kiếm và đòi hỏi những điều ngoạn mục, ly kỳ, 
tôi khám phá ra Chúa vẫn ở bên tôi trong những điều đơn sơ nhỏ bé. 
Xin được ơn sám hối chỉ vì những dấu lạ bình thường Chúa ban cho đời tôi.
Cầu nguyện:
Con tạ ơn Cha vì những ơn Cha ban cho con,những ơn con thấy được,
và những ơn con không nhận là ơn.
Con biết rằngcon đã nhận được nhiều ơn hơn con tưởng,
biết bao ơn mà con nghĩ là chuyện tự nhiên.
Con thường đau khổ vì những gìCha không ban cho con,
và quên rằng đời con được bao bọc bằng ân sủng.
Tạ ơn Cha vì những gìCha cương quyết không ban
bởi lẽ điều đó có hại cho con,
hay vì Cha muốn ban cho con một ơn lớn hơn.
Xin cho con vững tin vào tình yêu Chadù con không hiểu hết những gì
Cha làm cho đời con.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

9 thg 10, 2016

Chúa Nhật XXVIII Thường Niên - Năm C


Tin Mừng Lc 17: 11-19
       
Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đi qua biên giới giữa hai miền Sa-ma-ri và Ga-li-lê. Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phong hủi đón gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giê-su, xin dủ lòng thương chúng tôi!” Thấy vậy, Đức Giê-su bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế.” Đang khi đi thì họ được sạch. Một người trong bọn, thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giê-su mà tạ ơn. Anh ta lại là người Sa-ma-ri. Đức Giê-su mới nói: « Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?” Rồi Người nói với anh ta: “Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh.”
Sunday XXVIII in Ordinary Time - YearC
Gospel Lk 17: 11-19
As Jesus continued his journey to Jerusalem,
he traveled through Samaria and Galilee.
As he was entering a village, ten lepers met him.
They stood at a distance from him and raised their voices, saying,
"Jesus, Master! Have pity on us!"
And when he saw them, he said,
"Go show yourselves to the priests."
As they were going they were cleansed. 
And one of them, realizing he had been healed,
returned, glorifying God in a loud voice;
and he fell at the feet of Jesus and thanked him. 
He was a Samaritan.
Jesus said in reply,
"Ten were cleansed, were they not?
Where are the other nine? 
Has none but this foreigner returned to give thanks to God?" 
Then he said to him, "Stand up and go;
your faith has saved you."

8 thg 10, 2016

Chín người kia đâu (9.10.2016 – Chúa nhật 28 thường niên C)


Lời Chúa: (Lc 17,11-19)
11 Trên đường lên Giêrusalem, Ðức Giêsu đi qua biên giới giữa hai miền Samaria và Galilê.12 Lúc Người vào một làng kia, thì có mười người phong hủi đón gặp Người. Họ dừng lại đằng xa 13 và kêu lớn tiếng: “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi!” 14 Thấy vậy, Ðức Giêsu bảo họ: “Hãy đi trình diện với các tư tế”. Ðang khi đi thì họ đã được sạch. 15 Một người trong bọn, thấy mặt được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. 16 Anh ta sấp mình dưới chân Ðức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Samari. 17 Ðức Giêsu mới nói: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? 18 Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?” 19 Rồi Người nói với anh ta: “Ðứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh”.
Suy Niệm
Mười người phong đón gặp Ðức Giêsu.
Họ chỉ dám đứng xa, nài xin Ngài thương xót.
Ðức Giêsu không chữa cho họ ngay,
Ngài muốn thử thách lòng tin của họ.
Ngài bảo họ hãy đi trình diện với các tư tế
như thể họ đã được khỏi bệnh rồi.
Mười người phong đã vâng phục lên đường,
và chính trên đường đi, tất cả được khỏi bệnh.
Niềm vui bất ngờ ùa vào lòng mọi người.
Cả nhóm tiếp tục cuộc hành trình,
trừ một người phong ở vùng Samari.
Lòng biết ơn đối với Ðức Giêsu khiến anh quay lại,
sấp mình dưới chân Ngài mà tạ ơn.
Chín người kia đâu?
Ðức Giêsu ngạc nhiên đặt câu hỏi.
Chắc họ đã đi trình diện các tư tế như lời Ðức Giêsu,
nhưng họ quên Ðấng mới ban ơn cho họ.
Họ vui mừng ngừng lại ở quà tặng,
nhưng không vươn tới người tặng quà.
Họ đã có lòng tin nên được khỏi bệnh,
nhưng họ lại thiếu lòng biết ơn cần thiết.
Lòng biết ơn khiến lòng tin trở nên sâu xa hơn,
vì là gặp lại chính Ðấng đã ban tặng.
Chín người kia đâu?
Ðức Giêsu không làm phép lạ để được biết ơn.
Ngài mong những người kia trở lại để gặp họ,
và trao cho họ chính con người Ngài.
Ðiều này còn quý hơn cả ơn được khỏi bệnh.
Ơn lành bệnh chỉ là nhịp cầu
để ta gặp gỡ Ðấng ban ơn,
và lớn lên trong niềm tin cậy mến.
Chín người kia đâu?
Có khi tôi thường thuộc về nhóm chín người.
Tôi quá quen với những ơn Chúa ban,
đến độ thấy đó là chuyện bình thường,
đến độ không thấy cần phải tỏ lòng biết ơn.
Thật ra, biết ơn phải là tâm tình chủ yếu
chi phối lời cầu nguyện và cuộc sống của tôi.
Toàn bộ đời tôi là một hồng ân, một quà tặng.
Tôi muốn sống đời tôi như một lời tạ ơn không ngừng.
Tạ ơn là mãn nguyện về những gì đã lãnh nhận,
là thấy mình được bao bọc bởi Tình Yêu,
và muốn làm mọi sự để đáp lại Tình Yêu đó.
Người phong vùng Samari đã trở lại tôn vinh Thiên Chúa,
vì Ngài đã chữa anh lành bệnh qua Ðức Giêsu.
Chúng ta cũng đã nhận được biết bao ơn Chúa
từ tay những người xa lạ hay thân quen.
Xin cám ơn cuộc đời, cám on mọi người.
Ðời tôi là quà tặng của Chúa cho tôi.
Ước gì nó thành quà tặng của tôi cho mọi người.
 Cầu Nguyện
Con tạ ơn Cha vì những ơn Cha đã ban cho con,
những ơn con thấy được,
và những ơn con không nhận là ơn.
Con biết rằng
con đã nhận được nhiều ơn hơn con tưởng,
biết bao ơn mà con nghĩ là chuyện tự nhiên.
Con thường đau khổ
vì những gì Cha không ban cho con,
và quên rằng đời con được bao bọc bằng ân sủng.
Tạ ơn Cha vì những gì Cha cương quyết không ban
bởi lẽ điều đó có hại cho con,
hay vì Cha muốn ban cho con một ơn lớn hơn.
Xin cho con vững tin vào tình yêu Cha
dù con không hiểu hết những gì Cha làm cho đời con.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Phúc thay lòng dạ (8.10.2016 – Thứ bảy Tuần 27 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 11, 27-28
27 Khi Đức Giê-su đang giảng dạy, thì giữa đám đông có một người phụ nữ lên tiếng thưa với Người: “Phúc thay người mẹ đã cưu mang và cho Thầy bú mớm! “28 Nhưng Người đáp lại: “Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ lời Thiên Chúa.”


Suy niệm:
Thánh Luca hẳn đã dựa vào một nguồn tài liệu riêng 
để viết nên đoạn Tin Mừng rất ngắn này. 
Khung cảnh có vẻ diễn ra ở ngoài trời, có đám đông dân chúng. 
Đức Giêsu đang giảng dạy, còn dân chúng thì nghe. 
Bất ngờ có một phụ nữ cất cao giọng mà nói với Ngài rằng: 
“Phúc cho lòng dạ đã cưu mang Thầy, và vú đã cho Thầy bú mớm.”
Đây là một lời ca ngợi thân mẫu của Thầy Giêsu. 
Người phụ nữ chắc đã rất tâm đắc với những lời Thầy giảng, 
nên từ lòng ngưỡng mộ đối với Thầy, 
bà đã bật lên lời ngợi khen đối với người mẹ của Thầy. 
Bà không ngại nói đến những nét đặc trưng và kín đáo của một người mẹ, 
những gì nơi thân xác mẹ cần cho sự sống của con. 
Lòng dạ của thân mẫu Thầy đã cưu mang Thầy chín tháng. 
Chín tháng đủ để một thai nhi cứng cáp mà nhìn thấy ánh mặt trời. 
Chín tháng ấp ủ, mẹ và con gần gũi nhau như là một. 
“Và vú đã cho Thầy bú mớm.” 
Không phải chỉ chín tháng cưu mang, mà còn ba năm bú mớm. 
Mẹ nuôi con bằng chính dòng sữa của mình, sự sống của mình. 
để con được lớn lên, có thể đứng đây mà giảng thuyết. 
Rõ ràng thân xác mẹ là cái nôi ru cho con lớn lên. 
Mẹ vừa lo sinh, vừa lo dưỡng. 
Lời khen ngợi của người phụ nữ vang ra cả đám đông. 
Khen mẹ chính là khen con một cách gián tiếp. 
Phải là một người mẹ tuyệt vời 
mới sinh được một người con tuyệt vời đến thế! 
Maria có phúc vì Mẹ được chọn để sinh dưỡng Đấng cứu độ. 
Bà Êlisabét đã từng lớn tiếng kêu lên mối phúc này (Lc 1, 42) : 
“Em có phúc hơn mọi phụ nữ, và phúc cho hoa trái của bụng dạ em.” 
Như thế Mẹ có phúc vì Con có phúc.
Đức Giêsu không phản đối hay phủ nhận câu nói của người phụ nữ 
đang đứng nghe giảng cùng với đám đông. 
Ngài chỉ muốn điều chỉnh cho hợp với bầu khí hiện tại, 
khi những người trong đám đông đang ở tư thế lắng nghe. 
“Phúc cho những ai lắng nghe và giữ lời của Thiên Chúa.” 
Một mối phúc mới tưởng như không liên hệ gì với mối phúc trước, 
kỳ thực đó là điều Mẹ Maria đã sống từ lâu. 
Ai lắng nghe tiếng Chúa bằng Mẹ? Ai giữ lời Chúa bằng Mẹ? 
Trước khi cưu mang Ngôi Lời nơi thân xác, 
Mẹ Maria đã đón lấy Lời Chúa vào cuộc đời mình.
Đám đông đang lắng nghe lời Thầy Giêsu. 
Họ còn cần tuân giữ lời đó nữa mới được hưởng mối phúc thật sự. 
Chúng ta không được ban mối phúc sinh dưỡng Đức Giêsu như Mẹ, 
nhưng vẫn được chia sẻ mối phúc nghe và giữ lời Chúa của đám đông.
Cầu nguyện:
Lạy Mẹ sầu bi,
Chúng con khâm phục Mẹ, vì Mẹ đã can đảm tiến lên Núi Sọ
để chứng kiến cái chết của người Con yêu dấu.
Chính tình yêu đã cho Mẹ sức mạnh phi thường
để theo Đức Giêsu đến cùng như một môn đệ trung tín.
Mẹ cảm nhận từng đớn đau trên thân xác của người Con Một,
người Con Mẹ đã cưu mang và cho bú mớm.
Mẹ đã thấy cái chết từ từ nuốt chửng Đấng ban sự sống,
một cái chết khủng khiếp và bất công.
Mẹ không ngại nhận mình là mẹ của tên tử tội Giêsu,
với tất cả đắng cay nhục nhã.
Lạy Mẹ tín trung,
Xin cho chúng con có được can đảm của Mẹ,
bước theo Chúa trong những ngày thật buồn.
Xin cho chúng con vẫn đứng gần thập giá như Mẹ,
dù nhiều khi không hiểu được kế hoạch lạ lùng của Chúa.
Xin cho chúng con vẫn nói tiếng xin vâng như Mẹ,
khi mọi sự dường như sụp đổ.
Lạy Mẹ khiêm nhu,
Xin gìn giữ đức tin chúng con qua bao thử thách giữa đời.
Mỗi khi thấy Chúa vắng mặt lặng thinh,
xin cho chúng con có thái độ nguyện cầu và kiên trì chờ đợi,
vì tin rằng tình yêu sẽ thắng hận thù,
ánh sáng thắng bóng tối, sự sống thắng tử thần.
Cuối cùng, xin Mẹ cho chúng con đừng mất niềm hy vọng
có ngày được vui hưởng vinh quang phục sinh. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

6 thg 10, 2016

Đức Chúa ở cùng bà (7.10.2016 – Lễ Đức Mẹ Mân Côi)


Lời Chúa: (Lc 1,26-38)
26 Bà Elisabét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, 27 gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc nhà Ðavít. Trinh nữ ấy tên là Maria. 28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ân sủng, Ðức Chúa ở cùng bà. 29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. 30 Sứ thần liền nói: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.31 Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. 32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Ðức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Ðavít, tổ tiên Người. 33 Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.” 34 Ba Maria thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” 35 Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Ðấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, người con sinh ra sẽ là thánh, và được gọi là Con Thiên Chúa. 36 Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy gìa rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. 37 Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.38 Bấy giờ bà Maria nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Rồi sứ thần từ biệt ra đi.
Suy Niệm
Con người hôm nay mệt mỏi, lo âu, căng thẳng, vội vã.
Chuỗi Mân Côi làm lòng ta lắng xuống, thanh thản bình an
để chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu và ca ngợi Mẹ.
Kính Mừng Maria đầy ơn phúc.
Ðây là lời sứ thần chào Mẹ lúc truyền tin,
lời mời Mẹ vui lên vì ơn cứu độ nay đã đến.
Mẹ đầy ơn phúc vì được Thiên Chúa đặc biệt yêu thương.
Tình thương Chúa chở che Mẹ ngay từ lúc chưa chào đời,
và tình thương ấy còn bao bọc Mẹ mãi mãi.
Mẹ được tuyển chọn làm Mẹ Ðấng Cứu Thế,
nên Mẹ được giữ gìn khỏi vết nhơ nguyên tội.
Chúng ta được dự phần vào niềm vui và ân phúc của Mẹ
vì chúng ta cũng được Thiên Chúa tuyển chọn, yêu thương
được tẩy xóa nguyên tội để trở nên thụ tạo mới.
Ðức Chúa Trời ở cùng Bà.
Trong Cựu Ước, có bao người được Thiên Chúa ở cùng,
để rồi được Ngài sai đi phục vụ Dân Chúa.
Nhưng Thiên Chúa ở cùng Mẹ một cách độc nhất vô nhị.
Khi được đầy tràn Thánh Thần và cưu mang Ngôi Lời,
Mẹ trở nên như Hòm Bia, như Ðền Thánh,
nơi vinh quang Thiên Chúa hiện diện giữa con người.
Nhiều lần trong mỗi Thánh Lễ,
vị linh mục chúc chúng ta: Chúa ở cùng anh chị em.
Kitô hữu là người có Ðức Kitô ở cùng
và được mời gọi đem Ngài đến cho thế giới.
Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ.
Ðó là lời bà Êlisabét ca ngợi Mẹ (Lc 1, 42)
vì chỉ mình Mẹ được diễm phúc sinh hạ Ðấng Mêsia.
Mẹ đã cưu mang Người và cho Người bú mớm (Lc 11, 27).
Nhưng sau đó bà Êlisabét còn ca ngợi Mẹ có phúc
vì đã tin Chúa sẽ thực hiện điều Ngài nói với Mẹ (Lc 1, 45).
Tin là dám buông đời mình trong tay Chúa
và để Ngài dẫn đi trong đêm tối của lòng tin.
Mọi tín hữu đều được mời sống hành trình đức tin như Mẹ,
để được cùng Mẹ chung hưởng hạnh phúc:
“Phúc cho ai không thấy mà tin” (Ga 20, 29)
Thánh Maria, Ðức Mẹ Chúa Trời.
Chỉ Thiên Chúa là Ðấng Thánh và là nguồn mọi sự thánh thiện.
Mẹ được chia sẻ sự thánh thiện ấy cách tuyệt vời,
vì Mẹ được chọn làm Mẹ Ðức Giêsu, Mẹ Thiên Chúa,
và vì chẳng ai thực thi ý Chúa trọn vẹn như Mẹ.
Chúng ta chẳng được diễm phúc sinh ra Ðức Giêsu,
nhưng chính Ngài lại mời gọi ta làm mẹ của Ngài:
“Mẹ tôi và anh em tôi là những ai
nghe Lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” (Lc 8,21).
Khi thực thi Lời Chúa trong cuộc sống,
chúng ta sinh Ðức Giêsu cho nhân loại hôm nay.
Ngài vẫn cần những người mẹ để có mặt đến tận thế.
Chẳng có gì Ðức Maria được hưởng cách viên mãn,
mà Hội Thánh và từng người lại không được dự phần.
Xin Mẹ cầu cho ta khi này và trong giờ lâm tử.
 Cầu Nguyện
Lạy Mẹ Maria,
khi đọc Phúc Âm,
lúc nào chúng con cũng thấy Mẹ lên đường.
Mẹ đi giúp bà Isave, rồi đi Bêlem sinh Ðức Giêsu.
Mẹ đưa con đi trốn, rồi dâng Con trong đền thờ.
Mẹ tìm con bị lạc và đi dự tiệc cưới ở Cana.
Mẹ đi thăm Ðức Giêsu khi Ngài đang rao giảng.
Và cuối cùng Mẹ đã theo Ngài đến tận Núi Sọ.
Mẹ lên đường để đáp lại một tiếng gọi
âm thầm hay rõ ràng, từ ngoài hay từ trong,
từ con người hay từ Thiên Chúa.
Chúng con thấy Mẹ luôn đi với Ðức Giêsu
trong mọi bước đường của cuộc sống.
Chẳng phải con đường nào cũng là thảm hoa.
Có những con đường đầy máu và nước mắt.
Xin Mẹ dạy chúng con
đừng sợ lên đường mỗi ngày,
đừng sợ đáp lại những tiếng gọi mới của Chúa
dù phải chấp nhận đoạn tuyệt chia ly.
Xin giữ chúng con luôn đi trên Ðường-Giêsu
để chúng con trở thành nẻo đường khiêm hạ
đưa con người hôm nay đến gặp gỡ Thiên Chúa.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.