7 thg 2, 2017

Từ trái tim con người (8.2.2017 – Thứ Tư Tuần 5 Thường niên)


Lời Chúa: Mc 7, 14-23
14 Sau đó, Đức Giê-su lại gọi đám đông tới mà bảo: “Xin mọi người nghe tôi nói đây, và hiểu cho rõ:15 Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế.16 Ai có tai nghe thì nghe! ” 17 Khi Đức Giê-su đã rời đám đông mà vào nhà, các môn đệ hỏi Người về dụ ngôn ấy.18 Người nói với các ông: “Cả anh em nữa, anh em cũng ngu tối như thế sao? Anh em không hiểu sao? Bất cứ cái gì từ bên ngoài vào trong con người, thì không thể làm cho con người ra ô uế,19 bởi vì nó không đi vào lòng, nhưng vào bụng người ta, rồi bị thải ra ngoài? ” Như vậy là Người tuyên bố mọi thức ăn đều thanh sạch.20 Người nói: “Cái gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế.21 Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người,22 ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng.23 Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế.”
Suy nim:
Sách Lêvi chương 11 nói đến một số cấm kỵ về ăn uống dành cho người Do thái. 
Chỉ được ăn những con vật vừa có móng chẻ hai, vừa nhai lại. 
Bởi đó không được ăn thịt lạc đà, thỏ, heo (Lv 11, 3-8). 
Chỉ được ăn những con vật ở dưới nước nếu chúng có vây và có vẩy. 
Chỉ được ăn các côn trùng có cánh đi bằng bốn chân, 
nếu chúng có thêm càng để nhảy trên đất. 
Bởi đó được ăn dế, châu chấu, cào cào (Lv 11, 20-23). 
Nếu ai ăn những thức ăn bị cấm, người đó sẽ trở nên ô uế, 
không được tham dự những nghi lễ ở nơi thờ tự. 
Chúng ta không quên chuyện bảy anh em bị vua Antiôkhô ép ăn thịt heo, 
và họ đã chấp nhận cái chết hơn là vi phạm luật Chúa (2 Mcb 7).
Ngày nay chúng ta ngạc nhiên về chuyện cấm đoán này, 
nhưng vấn đề ăn uống đã từng là chuyện nóng bỏng trong Giáo Hội sơ khai. 
Một câu hỏi đã khiến Giáo Hội phải suy nghĩ: 
Sau khi trở nên Kitô hữu, dân ngoại có phải giữ những cấm kỵ trên không? 
Công đồng đầu tiên chỉ cấm họ không được ăn huyết và thú chết ngạt (Cv 15, 20).
Lập trường của Đức Giêsu trong đoạn Tin Mừng hôm nay rất khác thường. 
Ngài nói một nguyên tắc có vẻ như đi ngược với sách Lêvi: 
Không có gì từ ngoài vào trong con người, lại có thể làm nó ra ô uế” (c.15), 
Mọi thứ từ bên ngoài vào trong con người không thể làm nó ra ô uế” (c. 18).
Đối với Đức Giêsu, chính cái xấu xa từ bên trong, từ trái tim con người, 

cái ấy mới làm cho con người nên ô uế. (cc. 15, 20, 23).
Con người hôm nay dễ mắc bệnh tim mạch. 
Trái tim, một cơ quan nhỏ bé nằm ở bên trái lồng ngực, 
thường bị căng thẳng và quá tải, dẫn đến đột quỵ. 
Đức Giêsu mời chúng ta đi vào trái tim mình (c.21), 
khám phá ra thế giới tối tăm ẩn khuất của nó. 
Chúng ta có thể ngỡ ngàng khi thấy ở đó không có tình yêu bác ái vị tha, 
mà chỉ có những tình cảm hỗn độn của lòng vị kỷ (cc. 21-22). 
Đức Giêsu mời chúng ta nhận ra 
những cái ô uế từ ngoài đi vào bên trong trái tim (c. 19), 
và những ý định ô uế từ trong trái tim xuất ra ngoài. 
Những ý định này có thể biến thành hành động hết sức nguy hiểm.
Vấn đề không phải là khám tim định kỳ hay khi thấy đau ngực. 
Vấn đề là thanh lọc trái tim khỏi những đam mê tội lỗi 
đang làm nó bị hư hỏng từ bên trong.
Cầu nguyn:
Lạy Chúa Giêsu,
xin dẫn con vào nhà của con,
căn nhà của trái tim,
căn nhà vừa quen vừa lạ.
Xin hãy cho con thấy
những phức tạp, rắc rối, những che đậy, giằng co,
những mâu thuẫn và vô lý nơi con.
Xin hãy cho con thấy
những nhỏ mọn, ích kỷ, 
những yếu đuối, khô khan,
những cứng cỏi và tự ái nơi con.
Xin cho con ý thức
những lo âu, sợ hãi
đang đè nặng làm con ngột ngạt,
những nỗi đau thầm kín khiến đời con mất vui,
những vết thương không biết bao giờ lành,
những đổ vỡ khiến lòng con khép lại.
Lạy Chúa Giêsu,
xin giúp con dọn những bề bộn nơi tim con.
Xin biến đổi tim con, để nó trở nên đơn sơ hơn,
hồn nhiên hơn và tươi tắn hơn.
Ước gì con nhìn mọi sự, mọi người,
bằng trái tim bao dung của Chúa.
Và ước gì khi đã ra khỏi nỗi bận tâm về mình,
trái tim con được nhẹ nhàng hơn và tự do hơn
để yêu mến mọi người. Amen.  
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

6 thg 2, 2017

Lòng chúng thì xa Ta (7.2.2017 – Thứ ba Tuần 5 Thường niên)


Lời Chúa: Mc 7, 1-13
1 Có những người Pha-ri-sêu và một số kinh sư tụ họp quanh Đức Giê-su. Họ là những người từ Giê-ru-sa-lem đến.2 Họ thấy vài môn đệ của Người dùng bữa mà tay còn ô uế, nghĩa là chưa rửa.3 Thật vậy, người Pha-ri-sêu cũng như mọi người Do-thái đều nắm giữ truyền thống của tiền nhân: họ không ăn gì, khi chưa rửa tay cẩn thận;4 thức gì mua ngoài chợ về, cũng phải rảy nước đã rồi mới ăn; họ còn giữ nhiều tập tục khác nữa như rửa chén bát, bình lọ và các đồ đồng.5 Vậy, người Pha-ri-sêu và kinh sư hỏi Đức Giê-su: “Sao các môn đệ của ông không theo truyền thống của tiền nhân, cứ để tay ô uế mà dùng bữa? “6 Người trả lời họ: “Ngôn sứ I-sai-a thật đã nói tiên tri rất đúng về các ông là những kẻ đạo đức giả, khi viết rằng:
Dân này tôn kính Ta bằng môi bằng miệng,
còn lòng chúng thì lại xa Ta.
7 Chúng có thờ phượng Ta thì cũng vô ích,
vì giáo lý chúng giảng dạy chỉ là giới luật phàm nhân.
8 Các ông gạt bỏ điều răn của Thiên Chúa, mà duy trì truyền thống của người phàm.”9 Người còn nói: “Các ông thật khéo coi thường điều răn của Thiên Chúa để nắm giữ truyền thống của các ông.10 Quả thế, ông Mô-sê đã dạy rằng: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ và kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử!11 Còn các ông, các ông lại bảo: “Người nào nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ đều là “co-ban” nghĩa là lễ phẩm đã dâng cho Chúa” rồi,12 và các ông không để cho người ấy làm gì để giúp cha mẹ nữa.13 Thế là các ông lấy truyền thống các ông đã truyền lại cho nhau mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa. Các ông còn làm nhiều điều khác giống như vậy nữa! “
Suy nim:
Trong Bài Tin Mừng hôm nay có năm từ truyền thống (cc. 3, 5, 8, 9, 13). 
Đó là truyền thống của tiền nhân, truyền thống của người phàm, 
truyền thống mà các ông Pharisêu nắm giữ và muốn người khác phải theo. 
Sông song với truyền thống này là điều răn của Thiên Chúa (cc. 8, 9) 
Đức Giêsu tố cáo người Pharisêu đã gạt bỏ, đã coi thường điều răn này 
chỉ vì muốn khư khư giữ lấy truyền thống của họ (cc 8, 9, 13).
Đây là một điều đáng tiếc, 
vì mục tiêu của người Pharisêu không phải là hủy bỏ lời của Thiên Chúa (c. 13). 
Trái lại, họ muốn dân Do thái sống nghiêm túc hơn ơn gọi của mình, 
sống như một dân tộc thánh thiện giữa một xã hội vàng thau thời Đức Giêsu. 
Chính vì thế họ chẳng những muốn tuân giữ điều được viết trong Luật Môsê 
mà còn muốn sống theo những truyền thống 
dựa trên luật truyền khẩu được ban cho Môsê nữa.
Họ đòi cả dân chúng cũng phải sống theo các luật về thanh sạch của các tư tế. 
Bởi vậy, họ than phiền chuyện vài môn đệ của Đức Giêsu 
đã không rửa tay trước khi ăn. 
Thật ra chẳng phải người Do thái nào cũng giữ luật rửa tay trước khi ăn. 
Các sách Cựu Ước cũng không hề đòi hỏi chuyện này (x. Lêvi 11-15). 
Đáng tiếc là khi tập trung vào chuyện sạch sẽ bên ngoài, 
người Pharisêu có nguy cơ bỏ rơi hay lơ là chuyện trong sạch nơi trái tim. 
Đây mới là điều quan trọng mà Đức Giê su muốn nhấn mạnh.
Theo truyền thống hội đường Do Thái, có cả thảy 613 điều răn, 
365 điều cấm làm và 248 điều phải làm. 
Cả một rừng điều răn này chi phối toàn bộ đời sống của người Do thái giáo. 
Người Pharisêu cho rằng sự thánh thiện nằm ở chỗ chu toàn hết mọi luật này. 
Còn Đức Giêsu coi sự thánh thiện nằm ở sâu nơi trái tim thuộc trọn về Chúa. 
Ngài trích lời của ngôn sứ Isaia (29, 13): 
“Dân này tôn kính Ta bằng môi miệng, còn lòng chúng thì xa Ta.”
Làm thế nào để trái tim của chúng ta gần với Chúa? 
Làm thế nào chúng ta khỏi trở thành những kẻ đạo đức giả? 
Làm thế nào chúng ta giữ luật Chúa và Giáo Hội với sự mềm mại, tự do, vui tươi? 
Ước gì từng hành vi giữ luật của ta được chi phối bởi trái tim đầy yêu mến.
Cầu nguyn:
Lạy Chúa, 
xin cho con quả tim của Chúa.
Xin cho con đừng khép lại trên chính mình, 
nhưng xin cho quả tim con quảng đại như Chúa 
vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường 
để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ.
Xin cho con vượt qua mọi hờn oán nhỏ nhen, 
mọi trả thù ti tiện. 
Xin cho con cứ luôn bình an, trong sáng, 
không một biến cố nào làm xáo trộn, 
không một đam mê nào khuấy động hồn con.
Xin cho con đừng quá vui khi thành công, 
cũng đừng quá bối rối khi gặp lời chỉ trích. 
Xin cho quả tim con đủ lớn 
để yêu người con không ưa. 
Xin cho vòng tay con luôn rộng mở 
để có thể ôm cả những người thù ghét con.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

5 thg 2, 2017

Chạm đến thì được khỏi (6.2.2017 – Thứ hai Tuần 5 Thường niên)


Lời Chúa: Mc 6, 53-56
53 Khi qua biển rồi, Đức Giê-su và các môn đệ ghé vào đất liền tại Ghen-nê-xa-rét và lên bờ.54 Thầy trò vừa ra khỏi thuyền, thì lập tức người ta nhận ra Đức Giê-su.55 Họ rảo khắp vùng ấy và nghe tin Người ở đâu, thì bắt đầu cáng bệnh nhân đến đó.56 Người đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường ngoài chợ, và xin Người cho họ ít là được chạm đến tua áo choàng của Người; và bất cứ ai chạm đến, thì đều được khỏi.
Suy nim:
Tiếng Việt có nhiều động từ nói về xúc giác: 
sờ, mó, đụng, chạm, rờ… 
Xúc giác là một trong năm ngũ quan. 
Nhìn thấy, nghe thấy, ngửi thấy, có khi vẫn chưa đủ. 
Người ta còn muốn sờ thấy, xem đằng mặt, bắt đằng tay. 
Sờ là một cách kiểm chứng đôi khi được coi là đáng tin hơn thấy. 
Đức Giêsu phục sinh đã nói với các môn đệ: 
“Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! 
Cứ rờ xem, ma đâu có xương thịt như anh em thấy Thầy có đây?” (Lc 24, 39). 
Thánh Tôma xem ra thích kiểm chứng bằng đụng chạm: 
“…nếu tôi không đặt ngón tay tôi vào lỗ đinh, 
không đặt bàn tay tôi vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin” (Ga 20, 25). 
Đức Giêsu phục sinh đã chiều Tôma (Ga 20, 27). 
Thiên Chúa đã chiều nhân loại, khi cho Con Ngài làm người như ta, 
nhờ đó chúng ta có thể đụng chạm đến Thiên Chúa theo nghĩa đen. 
Thánh Gioan đã reo lên khi loan báo Tin Mừng này: 
“Điều vẫn có ngay từ lúc đầu, điều chúng tôi đã nghe, 
Điều chúng tôi đã thấy tận mắt, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng, 
và bàn tay chúng tôi đã chạm đến, đó là Lời sự sống” (1 Ga 1, 1).
Bài Tin Mừng hôm nay là một bản tóm lược dài về quyền năng của Đức Giêsu. 
Quyền năng này được thi thố qua việc chữa bệnh. 
“Người ở đâu thì người ta cáng bệnh nhân đến đó. 
Người đi tới đâu…người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở chỗ công cộng” (cc. 55-56). 
Dân chúng tin vào sức mạnh xuất phát từ chính con người Đức Giêsu. 
Ở đây không phải là chuyện Ngài đụng chạm vào các bệnh nhân để chữa họ, 
mà là các bệnh nhân xin “ít là được chạm đến tua áo choàng của Người; 
và “bất cứ ai chạm đến, thì đều được khỏi” (c. 56). 
Cái chạm của bệnh nhân là cái chạm của lòng tin vào Đức Giêsu. 
Nó giống với cái chạm của người phụ nữ bị băng huyết (Mc 5, 28). 
Không phải chỉ là chạm bằng tay, mà bằng cả con người.
Nơi đáy lòng con người vẫn có khát khao được đụng chạm đến Thiên Chúa, 
cả nơi những người không tin có Ngài hay bướng bỉnh như Tôma. 
Truyền giáo là giúp người ta thực hiện ước mơ chính đáng: chạm đến Thiên Chúa. 
Nhà truyền giáo phải là người đã có kinh nghiệm chạm đến Thiên Chúa. 
Mong mỗi Kitô hữu trở nên một nhà truyền giáo 
nhờ đụng chạm đến Lời Chúa và các Bí Tích mỗi ngày.
Cầu nguyn:
Con đã yêu Chúa quá muộn màng ! 
Ôi lạy Chúa là vẻ đẹp vừa cổ kính, 
vừa luôn mới mẻ, 
con đã yêu Chúa quá muộn màng ! 
Bấy giờ Chúa ở trong con 
mà con thì ở ngoài, 
con cứ chạy đi tìm Chúa ở ngoài.
Con thật hư hỏng, 
khi chạy theo các thụ tạo xinh đẹp. 
Bởi thế, bấy giờ Chúa ở với con 
mà con lại không ở với Chúa. 
Các thụ tạo xinh đẹp kia cứ giữ con ở xa Chúa, 
trong khi chúng hiện hữu được là nhờ Chúa.
Chúa đã gọi con, đã gọi to 
và phá tan sự điếc lác của con. 
Chúa đã soi sáng 
và xua đi sự mù lòa của con. 
Chúa đã tỏa hương thơm ngát 
để con được thưởng thức, 
và giờ đây hối hả quay về với Chúa. 
Con đã nếm thử Chúa 
và giờ đây con đói khát Người. 
Chúa đã chạm đến con, 
nên giờ đây con nóng lòng 
chạy đi tìm an bình nơi Chúa.
(Thánh Âu-Tinh)
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

4 thg 2, 2017

Là muối, là ánh sáng (5.2.2017 – Chúa nhật 5 Thường niên A)


Lời Chúa (Mt 5,13-16)
Hôm ấy, trên một ngọn núi kia, Ðức Giêsu dạy các môn đệ rằng:
13 “Chính anh em là muối cho đời.  Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối cho nó mặn lại?  Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi. 14 Chính anh em là ánh sáng cho trần gian.  Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được.
15 Cũng chẳng có ai thắp neon lên rồi lại đặt bên dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế, và nó soi sáng cho mọi người trong nhà.
16 Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Ðấng ngự trên trời.”
Suy Niệm
Anh em là muối cho đời:
một định nghĩa tuyệt vời về người Kitô hữu.
Kitô hữu gắn liền với cuộc đời, hòa mình với mọi người,
như muối thấm vào thức ăn,
giữ cho nó khỏi hư và thêm đậm đà.
Vị mặn của muối là yếu tố quan trọng.
Mặn thuộc về bản chất của muối.
Muối nhạt chẳng đáng gọi là muối, vì chẳng ướp được gì.
Khi đánh mất bản chất của mình,
nó cũng hoàn toàn trở nên vô dụng.
Anh em là ánh sáng cho trần gian:
một định nghĩa kinh khủng về người Kitô hữu,
bởi lẽ chỉ Thiên Chúa mới là Ánh Sáng (1Ga 1,5).
Chỉ Ðức Giêsu mới dám nhận mình là Ánh Sáng (Ga 8,12).
Anh em là ánh sáng vì anh em gần Thầy,
gần đèn thì sáng.
Thế giới hôm nay tiến bộ về khoa học kỹ thuật,
nhưng lại là một thế giới nhạt nhẽo, mất ý nghĩa,
một thế giới tối tăm và vẩn đục.
Chúng ta hay phàn nàn về sự xuống cấp, suy đồi,
nhưng người Kitô hữu ít khi nhìn nhận
phần trách nhiệm của mình trước thực trạng đó.
Vì tôi là muối nhạt nên thế giới này vô vị.
Vì tôi là đèn hết dầu, nên thế giới còn nhiều bóng tối.
Thế giới sẽ mang bộ mặt mới,
nếu chúng tôi sống đúng định nghĩa của Ðức Giêsu.
Khi hoà mình với đời,
chúng ta có thể trở thành muối nhạt,
ngọn đèn chúng ta có thể bị hết dầu.
Cần được ướp lại bằng vị mặn của Ðức Giêsu,
ngọn đèn cần được nuôi bằng dầu của Người.
Phải liên tục trở lại với Ðức Giêsu
để đừng đánh mất bản sắc Kitô hữu của mình.
Anh em ở trong thế gian, nhưng không thuộc về thế gian.
Vẫn còn nhiều Kitô hữu, có khả năng nhưng lại rụt rè,
đặt ngọn đèn đời mình dưới thùng.
Họ không dám dấn thân vào đời, vì sợ nguy hiểm,
vì thiếu tự tin vào bản lãnh của mình,
hay vì hiểu sai thế nào là khiêm tốn thực sự.
Cần có nhiều Kitô hữu làm băng video, viết kịch, quay phim.
Cần nhiều người là văn nghệ sĩ, làm nhà nghiên cứu.
Cuộc sống chúng ta phải tỏa sáng, qua bao điều tốt đẹp,
để mọi người nhận ra Thiên Chúa là Nguồn ánh sáng
và cất tiếng ngợi ca tôn vinh.
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
tạ ơn Chúa đã cho chúng con
ánh sáng mặt trời, mặt trăng,
và ánh sáng từ những nguồn năng lượng trên mặt đất.
Tạ ơn Chúa
vì Chúa đã gọi chúng con là ánh sáng.
Ðó là vinh dự
và cũng là một trách nhiệm nặng nề.
Xin cho chúng con có khả năng đẩy lui bóng tối
của hận thù và bất công,
của buồn phiền và thất vọng.
Xin cho chúng con biết gìn giữ ngọn lửa
mà Chúa đã thắp lên trong lòng chúng con,
và biết vâng theo những soi sáng của Chúa
qua từng phút giây của cuộc sống.
Lạy Chúa Giêsu,
cuộc chiến giữa ánh sáng và bóng tối
vẫn còn tiếp diễn trên thế giới và trong lòng chúng con.
Ước gì chúng con
đừng chỉ lo nguyền rủa bóng tối,
nhưng can đảm thắp lên những ngọn lửa,
để cả trái đất ngập tràn ánh sáng Chúa.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Đến một nơi thanh vắng (4.2.2017 – Thứ bảy Tuần 4 Thường niên)


Lời Chúa: Mc 6, 30-34
30 Các Tông Đồ tụ họp chung quanh Đức Giê-su, và kể lại cho Người biết mọi việc các ông đã làm, và mọi điều các ông đã dạy.31 Người bảo các ông: “Chính anh em hãy lánh riêng ra đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” Quả thế, kẻ lui người tới quá đông, nên các ông cũng chẳng có thì giờ ăn uống nữa.32 Vậy, thầy trò xuống thuyền đi lánh riêng ra một nơi hoang vắng.33 Thấy các ngài ra đi, nhiều người hiểu ý, nên từ khắp các thành, họ cùng nhau theo đường bộ chạy đến nơi, trước cả các ngài.34 Ra khỏi thuyền, Đức Giê-su thấy một đám người rất đông thì chạnh lòng thương, vì họ như bầy chiên không người chăn dắt. Và Người bắt đầu dạy dỗ họ nhiều điều.
Suy nim:
Các môn đệ trở về gặp lại Thầy Giêsu 
sau cuộc hành trình tông đồ đầu tiên nhiều thú vị. 
Họ cùng nhau tụ họp chung quanh Thầy 
và thi nhau kể cho Thầy nghe tất cả những gì họ đã làm và đã dạy. 
Thầy Giêsu thấy họ vui vì đã có thể đuổi được quỷ, chữa được bệnh. 
Những ông đánh cá ít học, nói năng bỗ bã, 
trở thành người rao giảng mạnh bạo Tin Mừng về Nước Trời.
Nhưng Thầy Giêsu cũng thấy nét mệt mỏi nơi khuôn mặt họ. 
Các tông đồ không có giờ ăn uống vì bị đám đông bao vây. 
“Anh em hãy lánh riêng ra, 
đến một nơi thanh vắng mà nghỉ ngơi đôi chút.” (c.31). 
Lời mời trên cho thấy mối quan tâm của Thầy đối với các môn đệ, 
những người thợ cần được nghỉ ngơi cả thân xác lẫn tinh thần. 
Họ cần tách mình ra khỏi đám đông, khỏi công việc, 
để đến nơi hoang mạc mà tĩnh tâm. 
Tĩnh tâm là nghỉ ngơi bên Thầy trong sự ấm áp của tình thầy trò, 
không bị vướng bận bởi công việc phục vụ. 
Tĩnh tâm là dành một thời gian để lòng mình lắng xuống, 
đọc lại những biến cố đã xảy ra trong đời mình, 
nhìn lại những kinh nghiệm mình đã trải qua bằng cái nhìn của Chúa, 
cả những khó khăn và thất bại, những bất trung và vấp ngã… 
Nhưng tĩnh tâm không phải chỉ để nhìn lui, mà còn để nhìn tới. 
Các tông đồ cần vượt qua những hứng khởi nhất thời do thành công. 
Họ cần trầm lắng để chuẩn bị cho những khó khăn sắp đến.
Lời mời của Thầy Giêsu vẫn đụng đến chúng ta hôm nay, 
những con người tất bật, vội vã, lo âu và căng thẳng, 
những con người kiệt sức vì đòi hỏi của công việc hay vì nghiện việc. 
Lánh riêng, nghỉ ngơi ở nơi hoang vắng, tĩnh tâm, 
đó không phải là những điều dành riêng cho giới tu sĩ. 
Đó là nhịp bình thường của những người bỗng thấy mình đang bị cuốn đi, 
trôi đi, mất hướng, mất chính mình, trở nên con rối ngờ nghệch.
Tuy nhiên, không dễ tìm được nơi hoang vắng, để cách ly mình khỏi công việc. 
Khi Thầy và các môn đệ đến được nơi hoang vắng ưng ý, 
thì chỗ đó chẳng còn vắng nữa, vì dân chúng đã đến trước rồi. 
Chúng ta vẫn cứ phải tìm chỗ vắng riêng cho mình với Chúa suốt đời.
Cầu nguyn:
Khi bị bao vây bởi muôn tiếng ồn ào, 
xin cho con tìm được những phút giây thinh lặng. 
Khi bị rã rời vì trăm công ngàn việc, 
xin cho con quý chuộng những lúc 
được an nghỉ trước nhan Chúa.
Khi bị xao động bởi những bận tâm và âu lo, 
xin cho con biết thanh thản ngồi dưới chân Chúa 
để nghe lời Người.
Khi bị kéo ghì bởi đam mê dục vọng, 
xin cho con thoát được lên cao 
nhờ mang đôi cánh thần kỳ của sự cầu nguyện.
Lạy Chúa, 
ước gì tinh thần cầu nguyện 
thấm nhuần vào cả đời con. 
Nhờ cầu nguyện, 
xin cho con gặp được con người thật của con 
và khuôn mặt thật của Chúa.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

2 thg 2, 2017

Vì đã trót thề (3.2.2017 – Thứ sáu Tuần 4 Thường niên)


Lời Chúa: Mc 6, 14-29
14 Vua Hê-rô-đê nghe biết về Đức Giê-su, vì Người đã nổi danh. Có kẻ nói: “Đó là ông Gio-an Tẩy Giả từ cõi chết trỗi dậy, nên mới có quyền năng làm phép lạ.”15 Kẻ khác nói: “Đó là ông Ê-li-a.” Kẻ khác nữa lại nói: “Đó là một ngôn sứ như một trong các ngôn sứ.”16 Vua Hê-rô-đê nghe thế, liền nói: “Ông Gio-an, ta đã cho chém đầu, chính ông đã trỗi dậy! “
17 Số là vua Hê-rô-đê đã sai người đi bắt ông Gio-an và xiềng ông trong ngục. Lý do là vì vua đã lấy bà Hê-rô-đi-a, vợ của người anh là Phi-líp-phê,18 mà ông Gio-an lại bảo: “Ngài không được phép lấy vợ của anh ngài! “19 Bà Hê-rô-đi-a căm thù ông Gio-an và muốn giết ông, nhưng không được.20 Thật vậy, vua Hê-rô-đê biết ông Gio-an là người công chính thánh thiện, nên sợ ông, và còn che chở ông. Nghe ông nói, nhà vua rất phân vân, nhưng lại cứ thích nghe.
21 Một ngày thuận lợi đến: nhân dịp mừng sinh nhật của mình, vua Hê-rô-đê mở tiệc thết đãi bá quan văn võ và các thân hào miền Ga-li-lê.22 Con gái bà Hê-rô-đi-a vào biểu diễn một điệu vũ, làm cho nhà vua và khách dự tiệc vui thích. Nhà vua nói với cô gái: “Con muốn gì thì cứ xin, ta sẽ ban cho con.”23 Vua lại còn thề: “Con xin gì, ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được.”24 Cô gái đi ra hỏi mẹ: “Con nên xin gì đây? ” Mẹ cô nói: “Đầu Gio-an Tẩy Giả.”25 Lập tức cô vội trở vào đến bên nhà vua và xin rằng: “Con muốn ngài ban ngay cho con cái đầu ông Gio-an Tẩy Giả, đặt trên mâm.”26 Nhà vua buồn lắm, nhưng vì đã trót thề, lại thề trước khách dự tiệc, nên không muốn thất hứa với cô.27 Lập tức, vua sai thị vệ đi và truyền mang đầu ông Gio-an tới. Thị vệ ra đi, chặt đầu ông ở trong ngục,28 bưng đầu ông trên một cái mâm trao cho cô gái, và cô gái trao cho mẹ.29 Nghe tin ấy, môn đệ đến lấy thi hài ông và đặt trong một ngôi mộ.
Suy nim:
Như mọi con người khác ở trên đời, 
con người của Hêrôđê bị giằng co giữa cái xấu và cái tốt. 
Vấn đề là ông ta sẽ ngả theo cái nào.
Hêrôđê biết Gioan là người công chính thánh thiện nên sợ ông. 
Hêrôđê đã bảo vệ che chở cho Gioan và thich nghe ông nói, 
dù những điều đó làm Hêrôđê hết sức bối rối (c. 20). 
Nhưng Hêrôđê cũng là người đã sai bắt Gioan và xiềng ông trong ngục, 
chỉ vì Gioan dám nói: “Nhà vua không được lấy vợ của anh mình.” 
Rõ ràng cái ác trong Hêrôđê đã thắng cái thiện, cái xấu đã thắng cái tốt. 
Hêrôđê thuộc loại người “nghe lời thì liền vui vẻ đón nhận, 
nhưng không đâm rễ, mà là những kẻ nông nổi nhất thời…” (Mc 4, 16-17). 
Chính vì thế khi gặp thử thách thì ông vấp ngã ngay.
Hêrôđê còn quỵ ngã một lần nữa nặng hơn. 
Ngày sinh nhật của ông cũng là ngày chết của một vị ngôn sứ. 
Khi con gái bà Hêrôđia biểu diễn một điệu múa làm vui lòng mọi người, 
Hêrôđê đã lỡ thề hứa một điều thiếu khôn ngoan, 
trước mặt bá quan văn võ và các thân hào miền Galilê: 
“Con xin gì, ta cũng cho, dù một nửa nước của ta cũng được” (c. 23). 
Không biết lúc đó Hêrôđê đã say chưa, 
nhưng chắc chắn nhà vua đã quên một điều quan trọng. 
Ông quên mình chỉ là một tiểu vương nắm vùng Galilê và Pêrê (Lc 3,1), 
nên ông không có quyền cho đất hay chia đất. 
Bà Hêrôđia đã không bỏ lỡ cơ hội ngàn vàng này để trả thù Gioan. 
Bà nói với cô con gái xin đầu Gioan Tẩy giả (c. 24). 
Hẳn điều này là một bất ngờ lớn đối với Hêrôđê . 
Lập tức ông bị đặt vào thế giằng co xâu xé. 
Một mặt ông hết sức đau buồn vì quý mạng sống của Gioan. 
Mặt khác ông lại không muốn thất hứa với cô bé, 
một lời hứa đã trót nói ra công khai trước mặt quan khách dự tiệc. 
Hêrôđê có dám chịu đánh mất chút danh dự của mình không 
khi khiêm tốn xin rút lại lời thề hứa vội vàng, bồng bột? 
Ông có dám nhận mình đã sai và chịu mất mặt không? 
Tiếc quá ! Hêrôđê đã không có được can đảm này.
Như người thanh niên giàu có buồn rầu bỏ đi (Mc 10, 22), 
Hêrôđê cũng sẽ buồn suốt đời vì cái chết do ông gây ra. 
Như Hêrôđê, sau này Philatô cũng chịu áp lực khi ông xử án Đức Giêsu. 
Ông cũng phạm đúng tội của Hêrôđê trước đám đông (Mc 15, 15), 
coi ghế ngồi của mình quý hơn mạng sống của Đức Giêsu, người vô tội.
Cầu nguyn:
Lạy Thiên Chúa, đây lời tôi cầu nguyện: 
Xin tận diệt, tận diệt trong tim tôi 
mọi biển lận tầm thường.
Xin cho tôi sức mạnh thản nhiên 
để gánh chịu mọi buồn vui.
Xin cho tôi sức mạnh hiên ngang 
để đem tình yêu gánh vác việc đời.
Xin cho tôi sức mạnh ngoan cường 
để chẳng bao giờ khinh rẻ người nghèo khó, 
hay cúi đầu khuất phục trước ngạo mạn, quyền uy.
Xin cho tôi sức mạnh dẻo dai 
để nâng tâm hồn vươn lên khỏi ti tiện hằng ngày.
Và cho tôi sức mạnh tràn trề 
để âu yếm dâng mình theo ý Người muốn. 
(R. Tagore – Ðỗ Khánh Hoan dịch)  
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

1 thg 2, 2017

Ánh sáng và vinh quang (2.2.2017 – Dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh)


Lời Chúa: Lc 2, 22-40
Khi đã đến ngày lễ thanh tẩy của các ngài theo luật Mô-sê, bà Ma-ri-a và ông Giu-se đem con lên Giê-ru-sa-lem, để tiến dâng cho Chúa,23 như đã chép trong Luật Chúa rằng: “Mọi con trai đầu lòng phải được gọi là của thánh, dành cho Chúa”,24 và cũng để dâng của lễ theo Luật Chúa truyền, là một đôi chim gáy hay một cặp bồ câu non.25 Hồi ấy ở Giê-ru-sa-lem, có một người tên là Si-mê-ôn. Ông là người công chính và sùng đạo, ông những mong chờ niềm an ủi của Ít-ra-en, và Thánh Thần hằng ngự trên ông.26 Ông đã được Thánh Thần linh báo cho biết là ông sẽ không thấy cái chết trước khi được thấy Đấng Ki-tô của Đức Chúa.27 Được Thần Khí thúc đẩy, ông lên Đền Thờ. Vào lúc cha mẹ Hài Nhi Giê-su đem con tới để chu toàn tập tục Luật đã truyền liên quan đến Người,28 thì ông ẵm lấy Hài Nhi trên tay, và chúc tụng
Thiên Chúa rằng:
29 “Muôn lạy Chúa, giờ đây
theo lời Ngài đã hứa,
xin để tôi tớ này được an bình ra đi.
30 Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ
31 Chúa đã dành sẵn cho muôn dân:
32 Đó là ánh sáng soi đường cho dân ngoại,
là vinh quang của Ít-ra-en Dân Ngài.”
33 Cha và mẹ Hài Nhi ngạc nhiên vì những lời ông Si-mê-ôn vừa nói về Người.34 Ông Si-mê-ôn chúc phúc cho hai ông bà, và nói với bà Ma-ri-a, mẹ của Hài Nhi: “Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Ít-ra-en ngã xuống hay đứng lên. Cháu còn là dấu hiệu cho người đời chống báng;35 và như vậy, những ý nghĩ từ thâm tâm nhiều người sẽ lộ ra. Còn chính bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà.”
36 Lại cũng có một nữ ngôn sứ tên là An-na, con ông Pơ-nu-ên, thuộc chi tộc A-se. Bà đã nhiều tuổi lắm. Từ khi xuất giá, bà đã sống với chồng được bảy năm,37 rồi ở goá, đến nay đã tám mươi tư tuổi. Bà không rời bỏ Đền Thờ, những ăn chay cầu nguyện, sớm hôm thờ phượng Thiên Chúa.38 Cũng vào lúc ấy, bà tiến lại gần bên, cảm tạ Thiên Chúa, và nói về Hài Nhi cho hết những ai đang mong chờ ngày Thiên Chúa cứu chuộc Giê-ru-sa-lem.
39 Khi hai ông bà đã làm xong mọi việc như Luật Chúa truyền, thì trở về nơi cư ngụ là thành Na-da-rét, miền Ga-li-lê.40 Còn Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa. 
Suy nim:
“Thứ bốn thì ngắm, Đức Bà dâng Chúa Giêsu trong đền thánh, 
ta hãy xin cho được vâng lời chịu lụy.” 
Đức Mẹ đã muốn giữ Luật Chúa một cách nghiêm chỉnh. 
Luật trong sách Lêvi (12, 2-8) đòi buộc người mẹ 40 ngày sau khi sinh con trai 
phải lên đền thờ để được thanh tẩy và phải dâng lễ vật nữa. 
Nếu không đủ khả năng dâng một con chiên và một bồ câu non 
thì phải dâng một cặp bồ câu non hay một đôi chim gáy. 
Ngày nay chúng ta không thể hiểu tại sao Đức Mẹ phải dâng lễ tạ tội 
và phải được thanh tẩy sau khi sinh Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa. 
Tại sao việc sinh nở lại bị coi là ô uế? 
Dù sao Mẹ Đấng Cứu Thế đã vâng theo Luật dạy.
Hơn nữa, cùng với thánh Giuse, Mẹ đã dâng Con cho Chúa trong đền thờ. 
Điều này Luật không buộc, nhưng Mẹ đã làm vì lòng sốt sắng. 
Thật ra để chuộc lại con trai đầu lòng, 
chỉ cần trả cho tư tế gần 60 gam bạc (Ds 18, 15-16). 
Mẹ sung sướng đem Con lên đền thờ dâng cho Thiên Chúa 
vì hơn ai hết Mẹ biết rằng Hài Nhi Giêsu này là quà tặng Chúa ban cho mình. 
Dâng Con là nhìn nhận Con mình mãi mãi thuộc trọn về Chúa, 
ở với Chúa và làm việc cho Chúa suốt đời, 
dù mình đã chuộc Con về bằng một số bạc được ấn định theo Luật dạy. 
Bài Tin Mừng hôm nay có 4 lần nói đến “Luật” (cc.23.24.27.39). 
Về việc giữ Luật, Đức Maria đã không đòi một ngoại lệ hay đặc ân nào.
Hãy nhìn ngắm Thánh Gia lên đền thờ. 
Một đôi vợ chồng nghèo bồng một đứa con còn rất nhỏ. 
Ai có thể nhận ra đứa bé này là Đấng Kitô, là ơn cứu độ cho muôn dân? 
Đó là cụ Simêon, một người đạo hạnh, luôn mong chờ điều Chúa hứa. 
Hơn nữa cụ là người có Thánh Thần hằng ngự trên (c.25), 
người được Thánh Thần linh báo (c. 26), và thúc đẩy lên đền thờ (c. 27). 
Chính Thánh Thần làm cụ nhận ra điều mắt thường không thấy, 
Và cụ sung sướng, mãn nguyện bồng Hài Nhi trên tay. 
Cụ bà ngôn sứ Anna cũng nhận ra Đấng Cứu chuộc đến với mình. 
Cụ là người đạo đức, ăn chay cầu nguyện, đêm ngày thờ phượng Thiên Chúa. 
Cụ bà Anna đã công khai giới thiệu Hài Nhi cho những người chung quanh.
Để gặp được Chúa trong đời thường, chúng ta cần có lòng mong ngóng, 
cần sống đời sống đẹp lòng Chúa và cần được Thánh Thần mách bảo.
Cầu nguyn:
Lạy Chúa,
xin nhận lấy trọn cả tự do, trí nhớ, trí hiểu,
và trọn cả ý muốn của con,
cùng hết thảy những gì con có,
và những gì thuộc về con.
Mọi sự ấy, Chúa đã ban cho con,
lạy Chúa, nay con xin dâng lại cho Chúa.
Tất cả là của Chúa,
xin Chúa sử dụng hoàn toàn theo ý Chúa.
Chỉ xin ban cho con lòng mến Chúa và ân sủng.
Ðược như thế, con hoàn toàn mãn nguyện. Amen.
(Kinh dâng hiến của thánh I-Nhã)
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.