6 thg 11, 2017

Xin kiếu (7.11.2017 – Thứ ba Tuần 31 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 14, 15-24
Khi ấy, một trong những kẻ đồng bàn với Ðức Giêsu nói với Người: “Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa!” Người đáp: “Một người kia làm tiệc lớn và đã mời nhiều người. Ðến giờ tiệc, ông sai đầy tớ đi thưa với quan khách rằng: “Mời quý vị đến, cỗ bàn đã sẵn.” Bấy giờ mọi người nhất loạt bắt đầu xin kiếu. Người thứ nhất nói: “Tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm; cho tôi xin kiếu.” Người khác nói: “Tôi mới tậu năm cặp bò, tôi đi thử đây; cho tôi xin kiếu.” Người khác nói: “Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được.” Ðầy tớ ấy trở về, kể lại sự việc cho chủ. Bấy giờ chủ nhà nổi cơn thịnh nộ bảo người đầy tớ rằng: “Mau ra các nơi công cộng và đường phố trong thành, đưa các người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt vào đây.” Ðầy tớ nói: “Thưa ông, lệnh ông đã được thi hành mà vẫn còn chỗ.” Ông chủ bảo người đầy tớ: “Ra các nẻo đường, dọc theo bờ rào bờ giậu, ép người ta vào đầy nhà cho ta. Tôi nói cho các anh biết: Những khách đã được mời trước kia, không ai sẽ được dự tiệc của tôi.”
Suy nim:
Bài Tin Mừng hôm nay vẫn nằm trong bối cảnh của bữa tiệc 
do một ông Pharisêu chức sắc mời Đức Giêsu vào ngày sabát (Lc 14, 1). 
Những lời Ngài nói trong bữa tiệc đã đánh động một người cùng bàn. 
Ông chia sẻ với Đức Giêsu về niềm hạnh phúc 
của người được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa (c. 15), 
ở đó có mặt các tổ phụ và thiên hạ từ khắp tứ phương (Lc 13, 28-29). 
Chính vì thế Đức Giêsu đã muốn kể một dụ ngôn về Nước Trời.
Nước Trời giống như một đại tiệc do một người khoản đãi. 
Ông đã mời nhiều quan khách đến dự. 
Khi đến giờ đãi tiệc, ông còn sai đầy tớ đi mời họ lần nữa. 
“Mời quý vị đến, vì mọi sự đã sẵn sàng rồi” (c. 17). 
Tiếc thay lời mời ấy, đại tiệc ấy, lại bị mọi người coi nhẹ. 
Ai cũng có lý do để xin kiếu từ. 
Kẻ thì kiếu vì cần phải đi xem miếng đất mới mua (c. 18). 
Kẻ thì kiếu vì phải đi kiểm tra năm cặp bò mới tậu (c. 19). 
Kẻ khác lại xin kiếu vì phải ở nhà với người vợ mới cưới (c. 20). 
Có vẻ các lý do đưa ra đều có lý phần nào. 
Nhưng thực sự chúng có phải là những lý do chính đáng 
để từ chối đại tiệc mà mình đã được mời cách trân trọng hay không? 
Vấn đề chỉ là chọn lựa. 
Xem đất mới mua, xem bò mới tậu, ở nhà với vợ mới cưới, 
những điều ấy hẳn cần thiết và quan trọng. 
Nhưng có quan trọng bằng chuyện đi dự tiệc không? 
Nếu đi dự tiệc để diễn tả sự hiệp thông của tình bạn 
thì có thể hoãn các chuyện khác không, để chọn điều có giá trị hơn?
Chúng ta hiểu được sự nổi giận của ông chủ, 
khi thấy bữa tiệc dành để khoản đãi các khách quý lại bị đổ vỡ. 
Ông thấy chính mình bị xúc phạm, tình bạn bị coi thường. 
Ông quyết định dành bữa tiệc này cho những ai không phải là khách quý, 
những người thuộc giới hạ lưu, nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù (c. 21). 
Và khi phòng tiệc vẫn còn chỗ trống, ông đã khẩn khoản lôi kéo vào 
cả những người ở ngoài đường hay trong vườn nho (c. 23). 
Cuối cùng, người được mời trước thì bị loại, vì họ tự loại chính họ (c. 24). 
Còn những người có vẻ không xứng đáng lại được ngồi vào bàn.
Chẳng ai xứng đáng được dự bàn tiệc Nước Thiên Chúa 
nếu Thiên Chúa không mời. 
Nhưng chẳng ai bị loại trừ khỏi bàn tiệc cánh chung 
nếu họ không cố ý từ chối lời mời đó. 
Chẳng ai có thể tự cứu mình mà không cần đến Thiên Chúa, 
nhưng con người có thể làm mình bị trầm luân mãi mãi 
chỉ vì thái độ khép kín của mình trước ơn Chúa ban. 
“Tôi xin kiếu”, đó là câu nói của nhiều người Kitô hữu hôm nay. 
Chúng ta xin kiếu một cách quá dễ dàng, 
chẳng để ý gì đến nỗi thất vọng và đau đớn của người đãi tiệc. 
Lời mời của Thiên Chúa bị từ chối chỉ vì những chuyện không đâu. 
Chuyện tất bật làm ăn, chuyện vui chơi giải trí, chuyện mời mọc của bạn bè. 
Có nhiều chuyện thấy có vẻ quan trọng hơn, khẩn trương hơn, 
đến nỗi có người bỏ tham dự thánh lễ Chúa Nhật. 
Hãy chọn Thiên Chúa và biết quý những gì Ngài muốn ban cho ta. 
Đại tiệc Thiên Chúa đã dọn sẵn rồi, 
không chỉ ở đời sau, mà ngay ở đời này. 
Ngài mong ta đến để dự tiệc, hay đúng hơn để chia sẻ một tình bạn.
Cầu nguyn:
Lạy Chúa Giêsu,
nhiều bạn trẻ đã không ngần ngại
chọn những cầu thủ bóng đá,
những tài tử điện ảnh
làm thần tượng cho đời mình.
Hôm nay
Chúa cũng muốn biết chúng con chọn ai,
và chúng con thật sự đắn đo
trước khi chọn Chúa.
Bởi chúng con biết rằng
chọn Chúa là lội ngược dòng,
theo Chúa là bước vào con đường hẹp:
con đường nghèo khó và khiêm nhu,
con đường từ bỏ và phục vụ.
Hôm nay, chúng con chọn Chúa
không phải vì Chúa giàu có,
tài năng hay nổi tiếng,
nhưng vì Chúa là Thiên Chúa làm người.
Chẳng ai đáng chúng con yêu mến bằng Chúa.
Chẳng ai hoàn hảo như Chúa.
Ước gì chúng con can đảm chọn Chúa
nhiều lần trong ngày,
qua những chọn lựa nhỏ bé,
để Chúa chiếm lấy toàn bộ cuộc sống chúng con,
và để chúng con
thông hiệp vào toàn bộ cuộc sống của Chúa. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

5 thg 11, 2017

Đáp lễ (6.11.2017 – Thứ hai Tuần 31 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 14, 12-14
Khi ấy Ðức Giêsu nói với kẻ đã mời Người rằng: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại”.
Suy nim:
“Bánh ít đi, bánh quy lại” hay “Có đi có lại mới toại lòng nhau”:
đó vẫn được coi là cách cư xử bình thường giữa người với người.
Hơn nữa ai làm như vậy còn được coi là người biết cách xử thế.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, 
Đức Giêsu mời ta vượt lên trên lối cư xử đó,
không ngừng lại ở chỗ tôi cho anh, để rồi anh cho tôi (do ut des).
Ngài dạy cho ông chủ tiệc biết nên mời ai và không nên mời ai.
Có bốn hạng người không nên mời dự tiệc:
bạn bè, anh em, bà con họ hàng, hay láng giềng giàu có.
Ngài đưa ra lý do: “kẻo họ mời lại ông, và ông được đáp lễ” (c.12).
Hơn nữa, Ngài còn nói đến bốn hạng người nên mời dự tiệc:
những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù (c.13).
Đức Giêsu khuyên nên mời những hạng người này,
vì họ không có khả năng mời lại hay đáp lễ (c.14).
Như thế Đức Giêsu cho ta tiêu chuẩn để mời khách dự tiệc.
Không mời những người quen biết, thân thích, giàu sang,
để mời những người nghèo hèn, những kẻ chẳng được ai mời.
Qua đề nghị khó thực hiện này của Đức Giêsu, 
Ngài đụng đến một khuynh hướng tự nhiên mà ít người để ý.
Đó là khi làm điều tốt cho ai 
ta cũng mong được hoàn trả cách này cách khác.
Có khi mong được trả lại tương đương hay hậu hỹ hơn.
Có khi mong trả lại bằng một bia đá ghi công hay một lời tri ân đơn giản.
Nói chung để làm một hành vi hoàn toàn vô vị lợi là điều rất khó.
Chỉ ai thành thật đi vào lòng mình mới thấy mình ít khi cho không.
Đức Giêsu muốn hạn chế khuynh hướng này.
Ngài mời chúng ta ra khỏi thế giới của những người quen biết,
không kết thân với những người giàu có và thế lực, 
để mong họ đem lại lợi nhuận hay làm ô dù cho ta.
Ngài đưa ta đến với những người nghèo và không có địa vị,
những người không có khả năng mời lại hay đáp lễ.
Có khi những người đó chẳng ở đâu xa.
Họ nằm ngay trong số bạn hữu, bà con, anh em, hay hàng xóm.
Khi mời họ dự tiệc, trân trọng họ như khách quý, 
chúng ta làm sống lại những mối tương quan tưởng như không còn.
 Đức Giêsu mời ta thanh luyện ý hướng của mình khi làm điều tốt,
trở nên siêu thoát và từ bỏ những tìm kiếm tự nhiên quy về mình.
Bài Tin Mừng đơn sơ này có thể tạo một bước ngoặt trong đời Kitô hữu.
Chúng ta sẽ được nếm một mối phúc mới:
Phúc cho ai làm một việc tốt mà không được ai biết đến và đáp lễ.
Họ sẽ được Thiên Chúa “đáp lễ” trong ngày phục sinh (c. 14).
Cầu nguyn:
Lạy Ngôi Lời Thiên Chúa rất đáng mến,
xin dạy con biết sống quảng đại,
biết phụng sự Chúa cho xứng với uy linh Ngài,
biết cho đi mà không tính toán,
biết chiến đấu không ngại thương tích,
biết làm việc không tìm an nghỉ,
biết hiến thân mà không mong chờ phần thưởng nào
ngoài việc biết mình đã chu toàn Thánh Ý Chúa. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

4 thg 11, 2017

Là anh em với nhau (5.11.2017 – Chúa nhật 31 Thường niên Năm A)


Lời Chúa: (Mt 23, 1-12)
1 Một hôm, Ðức Giêsu nói với dân chúng và các môn đệ Người rằng: 2 “Các kinh sư và các người Pharisêu ngồi trên tòa ông Môsê mà giảng dạy. 3 Vậy, những gì họ nói thì anh em hãy làm, hãy giữ; nhưng đừng theo hành động của họ mà làm, vì họ nói mà không làm. 4 Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào. 5 Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài. 6 Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, 7 ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “rápbi”. 8 “Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là “rápbi”, vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau. 9 Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời. 10 Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Ðức Kitô. 11 Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em. 12 Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên.
Suy Niệm
Nửa sau của bài Tin Mừng hôm nay
có thể làm chúng ta bị sốc.
Ðức Giêsu bảo ta đừng để ai gọi mình là thầy,
vì chỉ có một Thầy, một vị lãnh đạo là chính Ngài;
cũng đừng gọi ai là cha,
vì chỉ có một Cha là Thiên Chúa trên trời.
Vậy mà chúng ta vẫn gọi nhiều vị trong Hội Thánh
là cha, là Ðức Thánh Cha,
là giáo phụ, thượng phụ, viện phụ…
Chúng ta có làm sai lời Chúa dạy không?
Ta có phải hiểu theo nghĩa đen lời của Ðức Giêsu không?
Hội Thánh sơ khai đã không hề hiểu theo nghĩa đen.
Thánh Phaolô đã coi mình là cha sinh ra các tín hữu,
đã gọi họ là con (1Cr 4,14-17; Gl 4,19).
Hội Thánh cũng có những thầy dạy (Cv 13,1; 1Cr 12,28),
và những vị lãnh đạo (Cv 15,22; Rm 12,8)
Vậy đâu là điều Ðức Giêsu muốn nhắn nhủ chúng ta?
Chắc chắn Ngài không hề muốn phá bỏ
những cơ cấu cần thiết cho thân thể Hội Thánh,
Ngài cũng không loại bỏ phẩm trật và quyền hành.
Ngài chỉ muốn chúng ta đừng quên:
mọi quyền bính trong Hội Thánh
đều bắt nguồn từ Thiên Chúa và phải quy về Thiên Chúa.
Nếu có ai làm thầy, làm người lãnh đạo,
thì vì họ được chia sẻ quyền làm Thầy của Ðức Giêsu.
Nếu họ được gọi là cha,
thì vì họ được chia sẻ quyền làm Cha của Thiên Chúa.
Dù có chức vụ hay chức vị gì trong Hội Thánh,
tôi cũng không được quên chân lý này:
còn tất cả anh em đều là anh em với nhau,
con một Cha trên trời.
Chỉ có một vị Thầy là Ðức Giêsu.
Nhưng Thầy Giêsu lại sống như bạn của các môn đệ,
như anh em với họ (Ga 15,14; Mt 12,49-50),
và nhất là như tôi tớ phục vụ họ (Mt 20,28).
Ðức Giêsu mãi mãi là gương cho các nhà lãnh đạo.
Quyền lãnh đạo chính là để phục vụ con người.
Phần đầu của bài Tin Mừng cho thấy sự giả hình
của một số người pharisêu, có quyền giảng dạy Lề Luật.
Giả hình là không làm điều mình dạy người khác,
là dễ dãi với chính mình,
nhưng khắt khe với tha nhân.
Giả hình là biến việc thờ phượng Chúa thành thờ mình,
làm việc tốt để người ta thấy và thán phục.
Khi nhìn khuôn mặt của người pharisêu giả hình,
tôi thấy tôi: háo danh, khoa trương, ích kỷ,
dám “đốc” chứ không dám làm…
Có những đoạn Tin Mừng làm chúng ta nhức nhối,
vì mở cho chúng ta những chân trời xa,
cho chúng ta thấy những điều cần làm, phải làm, nhưng chưa làm.
 Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
khi đến với nhau,
chúng con thường mang những mặt nạ.
Chúng con sợ người khác thấy sự thật về mình.
Chúng con cố giữ uy tín cho bộ mặt
dù đó chỉ là chiếc mặt nạ giả dối.
 Khi đến với Chúa,
chúng con cũng thường mang mặt nạ.
Có những hành vi đạo đức bên ngoài
để che giấu cái trống rỗng bên trong.
Có những lời kinh đọc trên môi,
nhưng không có chỗ trong tâm hồn,
và ngược hẳn với cuộc sống thực tế.
 Lạy Chúa Giêsu,
chúng con cũng thường ngắm mình trong gương,
tự ru ngủ và đánh lừa mình,
mãn nguyện với cái mặt nạ vừa vặn.
 Xin giúp chúng con cởi bỏ mọi thứ mặt nạ,
đã ăn sâu vào da thịt chúng con,
để chúng con thôi đánh lừa nhau,
đánh lừa Chúa và chính mình.
Ước gì chúng con xây dựng bầu khí chân thành,

để chúng con được lớn lên trong bình an.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

2 thg 11, 2017

Chữa khỏi và cho về (3.11.2017 – Thứ Sáu Tuần 30 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 14, 1-6
1 Một ngày sa-bát kia, Đức Giê-su đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pha-ri-sêu để dùng bữa: họ cố dò xét Người.2 Và kìa trước mặt Đức Giê-su, có một người mắc bệnh phù thũng.3 Người lên tiếng nói với các nhà thông luật và những người Pha-ri-sêu: “Có được phép chữa bệnh ngày sa-bát hay không? “4 Nhưng họ làm thinh. Người đỡ lấy bệnh nhân, chữa khỏi và cho về.5 Rồi Người nói với họ: “Ai trong các ông có đứa con trai hoặc có con bò sa xuống giếng, lại không kéo nó lên ngay, dù là ngày sa-bát? “6Và họ không thể đáp lại những lời
Suy niệm:
Sau khi dự nghi thức ở hội đường vào ngày sabát, 
người ta thường mời khách về nhà dùng bữa trưa. 
Bữa ăn này đã được chuẩn bị từ ngày hôm trước. 
Hôm nay Đức Giêsu lại được một người Pharisêu mời dùng bữa. 
Đây là lần thứ ba Ngài được mời ăn như thế (x. Lc 7, 36; 11, 37). 
Và đây cũng là lần thứ ba có sự căng thẳng 
vì Ngài chữa bệnh trong ngày sabát (x. Lc 6, 6; 13, 10). 
Những người Pharisêu trong bữa ăn hôm nay chăm chú nhìn Ngài (c. 1).
Chúng ta không rõ người mắc bệnh phù thũng có là khách không. 
Hay phải chăng anh ấy là người không mời mà đến? 
Nếu là khách thì tại sao Đức Giêsu lại cho anh về sau khi chữa khỏi? 
Dù sao thì anh ấy cũng đang đứng trước mặt Đức Giêsu (c. 2). 
Ngài thấy những dấu hiệu của bệnh phù thũng nơi thân xác anh. 
Trên người anh có chỗ sưng lên vì nước bị ứ lại. 
Chính Đức Giêsu là người chủ động đặt vấn đề với người Pharisêu. 
“Có được phép chữa bệnh trong ngày sabát không ?” (c. 3). 
Hiển nhiên đối với họ, chỉ được phép chữa những bệnh nhân hấp hối. 
Anh bị phù thũng không nằm trong diện này. 
Vậy mà họ đã giữ thái độ thinh lặng trước câu hỏi đó (c. 4).
Đức Giêsu đã chữa bệnh cho anh chỉ bằng một cử chỉ đỡ lấy. 
Không có lời nói nào kèm theo. 
Có lẽ anh đã đi về nhà, lòng vui sướng vì được khỏi bệnh. 
Đức Giêsu đã muốn biện minh cho hành vi chữa bệnh trong ngày sabát 
bằng một câu hỏi về cách ứng xử trong một trường hợp cụ thể (c. 5). 
“Giả như các ông có đứa con trai hoặc con bò sa xuống giếng, 
các ông lại không kéo nó lên ngay lập tức, dù là ngày sabát sao?” 
Họ đã không thể đưa ra câu trả lời, 
vì dĩ nhiên là phải kéo nó lên ngay, trước khi nó chết dưới giếng. 
Đối với Đức Giêsu, chữa bệnh đơn giản là kéo một người lên ngay. 
Dù Ngài không phủ nhận tầm quan trọng của việc giữ ngày sabát, 
nhưng ngày sabát lại không cấm làm điều phải làm, đó là chữa bệnh.
Rõ ràng Đức Giêsu quan tâm đến nhu cầu của con người. 
Nếu để đến hôm sau mới chữa cho anh phù thũng thì cũng được. 
Nếu để bà còng lưng mười tám năm chịu thêm một ngày cũng không sao. 
Nhưng Ngài muốn giải phóng con người ngay lập tức, khi có thể được. 
Ngài muốn làm vơi nỗi đau kéo dài đã lâu của con người. 
Chính vì bà còng lưng đã mười tám năm đau khổ 
nên không cần kéo dài thêm, dù chỉ một ngày nữa. 
Luật lệ đạo đời nhằm phục vụ cho hạnh phúc thực sự của con người. 
Trong cuộc sống hôm nay, có nhiều việc cần làm ngay. 
Có bao mảnh đời sắp bị đổ vỡ, có những nguy cơ đe dọa nhân phẩm, 
có những người trẻ đứng trên bờ vực, có những thai nhi bị chối từ. 
Làm sao chúng ta không dửng dưng với những em nhỏ ở kề miệng giếng, 
và không quay lưng với những người đã sa xuống vực sâu?
Cầu nguyện:
Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng
tấm bánh để dành của con thuộc về người đói,
chiếc áo nằm trong tủ thuộc về người trần trụi,
tiền bạc con cất giấu thuộc về người thiếu thốn.
Lạy Cha, có bao điều con giữ mà chẳng dùng,
có bao điều con lãng phí
bên cạnh những Ladarô túng quẫn,
có bao điều con hưởng lợi
dựa trên nỗi đau của người khác,
có bao điều con định mua sắm dù chẳng có nhu cầu.
Con hiểu rằng nguồn gốc sự bất công
chẳng ở đâu xa.
Nó nằm ngay nơi sự khép kín của lòng con.
Con phải chịu trách nhiệm
về cảnh nghèo trong xã hội.
Lạy Cha chí nhân,
vũ trụ, trái đất và tất cả tài nguyên của nó
là quà tặng Cha cho mọi người có quyền hưởng.
Cha để cho có sự chênh lệch, thiếu hụt,
vì Cha muốn chúng con san sẻ cho nhau.Thế giới còn nhiều người đói nghèo
là vì chúng con giữ quá điều cần giữ.
Xin dạy chúng con biết cách đầu tư làm giàu,
nhờ sống chia sẻ yêu thương. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

1 thg 11, 2017

Sao Ngài bỏ rơi con? (02.11.2017 – Cầu cho các tín hữu đã qua đời)


Lời Chúa: Mc 15, 33-39
Vào giờ thứ sáu, bóng tối bao phủ khắp mặt đất mãi đến giờ thứ chín. Vào giờ thứ chín, Ðức Giêsu kêu lớn tiếng: “Êlôi, Êlôi, lama sabácthani!” Nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” Nghe vậy, một vài người đứng đó liền nói: “Kìa hắn kêu cứu ông Êlia.” Rồi có kẻ chạy đi lấy một miếng bọt biển, thấm đầy giấm, cắm vào một cây sậy, đưa lên cho Người uống mà nói: “Ðể xem ông Êlia có đến đem hắn xuống không.” Ðức Giêsu lại kêu lên một tiếng lớn, rồi tắt thở. Bức màn trướng trong Ðền Thờ bỗng xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Viên đại đội trưởng đứng đối diện với Ðức Giêsu, thấy Người tắt thở như vậy liền nói: “Quả thật, người này là Con Thiên Chúa.”
Suy niệm:
Ðoạn Tin Mừng trên đây kể lại cho ta 
cuộc đời Ðức Giêsu vào những giây phút cuối. 
Ngài đã đón nhận cái chết một cách không dễ dàng 
sau nhiều giờ hấp hối trên thập giá. 
Ðau đớn đến tột cùng, nhục nhã và cô đơn kinh khủng. 
Có vẻ lúc đó Cha lại vắng mặt và làm thinh. 
“Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?”
Ðức Giêsu có cảm tưởng như Cha bỏ rơi mình 

vào chính lúc Ngài vâng phục Cha, chấp nhận cái chết. 
Chúng ta cần nghe được tiếng kêu xé ruột của Ðức Giêsu. 
Ngài kêu bằng tất cả sức lực còn lại của mình. 
Ngài kêu một tiếng lớn, rồi tắt lịm. 
Chúng ta thích thấy Ðức Giêsu chết bình an hơn, 
chết anh hùng hơn và chết lành hơn. 
Nhưng Ðấng vô tội, chết thay cho cả nhân loại, 
đã chẳng được hưởng chút êm đềm nào từ Thiên Chúa. 
Lời cuối của Ngài là một tiếng gọi: Lạy Thiên Chúa của con, 
một câu hỏi tại sao mà Ngài không rõ câu trả lời. 
Ðức Giêsu đã nhắm mắt trong niềm tin trần trụi.
Tháng 11 được dành để nhớ đến những người đã khuất. 
Ðã có thời người ta cho rằng theo đạo là bất hiếu, 
vì không lo giỗ chạp, cúng vái, nhang đèn… 
Nhưng trong niềm tin của Kitô giáo, 
điều người chết cần không phải là đồ ăn hay vàng mã, 
mà là cầu nguyện, hy sinh, việc lành và thánh lễ. 
Ngọn lửa luyện ngục tuy gây nhiều đau đớn không nguôi, 
nhưng có sức tẩy luyện, biến đổi và thánh hóa. 
Có thể nói các linh hồn ở luyện ngục có phúc hơn ta, 
vì họ biết chắc chắn sớm muộn gì cũng vào thiên đàng. 
Chính vì thế họ vui lòng để cho tình yêu Chúa thanh lọc, 
và càng lúc càng trở nên hoàn hảo hơn để đến gần bên Chúa. 
Chúng ta cần sống mầu nhiệm các thánh thông công. 
Các thánh trên trời chuyển cầu cho Hội Thánh dưới thế. 
Hội Thánh dưới thế chuyển cầu cho các linh hồn đau khổ. 
Tất cả liên đới với nhau như các chi thể của một thân thể.
Trong tháng này Hội Thánh mời chúng ta đi viếng nghĩa trang 
để cầu nguyện cho các người thân yêu đã lìa đời. 
Những hàng mộ nói với ta về cái chết không sao tránh được. 
Dù già hay trẻ, dù khỏe hay đau, dù giàu hay nghèo, 
nhưng cuối cùng cái chết vẫn là điểm hẹn. 
Cái chết được chia đều cho mọi người. 
Nghĩa trang có phải là nơi an nghỉ cuối cùng không? 
Con người còn gì khi thân xác nát tan trong lòng đất? 
Nhờ Ðức Giêsu phục sinh mà mầu nhiệm cái chết được vén mở. 
Cái chết chỉ là nhịp cầu đưa ta vào cõi sống. 
Con người sống là để chết, và chết là để sống mãi, 
sống một cuộc sống hạnh phúc tuyệt vời hơn nhiều.
Cùng với thánh Phanxicô, xin gọi cái chết là chị – Chị Chết. 
Ước gì người Kitô hữu học được nghệ thuật sống 
nhờ biết đón lấy cái chết trong niềm hy vọng tin yêu.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
nếu người ta cứ phải sống mãi trên cõi đời này

thì thật là phiền toái.
Nhưng cái chết vẫn làm chúng con đau đớn
vì phải chia tay với những người thân yêu,
vì bao mộng mơ, dự tính còn dang dở.
Xin cho chúng con đừng nhìn cái chết
như một định mệnh nghiệt ngã và phi lý
nhưng như một hành trình trở về nguồn cội yêu thương.
Lạy Chúa Giêsu, trước cái chết thập giá,
Chúa đã run sợ, nhưng không tháo lui,
và Chúa đã chết trong niềm vâng phục tín thác,
để trở nên người đầu tiên bước vào cõi sống viên mãn.
Xin cho chúng con nghe được lời dạy dỗ của cái chết.
Cái chết cho thấy cuộc sống mong manh, ngắn ngủi,
chính vì thế từng giây phút trôi qua thật quý báu.
Cái chết bất ngờ mời gọi chúng con luôn tỉnh thức.
Cái chết nhắc nhở chúng con là khách lữ hành
đang trên đường về quê hương vĩnh cửu.
Sống một đời và chết một lần.
Lạy Chúa, đó là thân phận làm người của chúng con.
Xin dạy chúng con biết cách chết nhờ biết cách sống. 
Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.