14 thg 12, 2017

Lũ trẻ ngồi ngoài chợ (15.12.2017 – Thứ sáu Tuần 2 Mùa Vọng)



Lời Chúa: Mt 11, 16-19
16 “Tôi phải ví thế hệ này với ai? Họ giống như lũ trẻ ngồi ngoài chợ gọi lũ trẻ khác, 17và nói:
“Tụi tôi thổi sáo cho các anh,
mà các anh không nhảy múa;
tụi tôi hát bài đưa đám,
mà các anh không đấm ngực khóc than.”
18 Thật vậy, ông Gio-an đến, không ăn không uống, thì thiên hạ bảo: “Ông ta bị quỷ ám.”19 Con Người đến, cũng ăn cũng uống như ai, thì thiên hạ lại bảo: “Đây là tay ăn nhậu, bạn bè với quân thu thuế và phường tội lỗi.” Nhưng đức Khôn Ngoan được chứng minh bằng hành động.”
Suy nim:
Đức Giêsu ví những người thuộc thế hệ của Ngài 
với lũ trẻ ngồi chơi ngoài chợ (cc. 16-17). 
Một nhóm bày trò chơi đám cưới, 
thổi sáo, thổi kèn để mong nhóm kia nhảy múa. 
Nhưng nhóm kia đã chẳng tham gia. 
Nhóm này bèn chơi trò đám ma, hát những bài ca buồn não nuột. 
Nhưng nhóm kia cũng không giả vờ than khóc.
Thế hệ của Đức Giêsu cũng có nét tương tự như lũ trẻ. 
Khi Gioan Tẩy giả đến mời gọi họ sám hối ăn năn, 
sự khổ hạnh của vị ngôn sứ này đã khiến họ từ khước (Lc 7, 30). 
Đơn giản vì họ không thích khóc than hay hoán cải. 
Lối sống của Gioan phù hợp với lời ông giảng về Nước Trời gần đến. 
Nhưng lối sống khác thường ấy lại bị xem là một triệu chứng tâm thần. 
Người ta đã coi ông là bị quỷ ám (c. 18), 
nên cuối cùng đã không tin ông (Mt 21, 32).
Ngược lại, khi Đức Giêsu đến với thế hệ này, 
Ngài đã không mang dáng dấp của một ẩn sĩ nơi hoang địa. 
Ngài đã sống như một người bình thường, ăn uống bình thường. 
Lối sống của Ngài phản ánh Tin Mừng Ngài rao giảng, 
một Tin Mừng đem lại niềm vui và sự giải thoát. 
Ngài tiếp đón những ai bị xã hội loại trừ. 
Ngài ăn chung một bàn với những tội nhân cần xa tránh. 
Chính trong bầu khí vui tươi, ấm áp của bữa ăn, 
họ cảm nhận được tình thương tha thứ của Thiên Chúa và hoán cải. 
Tiếc thay, Đức Giêsu cũng bị nhiều người từ khước như Gioan. 
Ngài bị coi là kẻ chỉ biết ăn với nhậu (c. 19).
Cả Gioan lẫn Đức Giêsu đều bó tay trước sự cố chấp của thế hệ này. 
Sống thế nào cũng không chiều được họ. 
Khi sợ thay đổi chính mình, ai cũng cố tìm ra lý do để biện minh. 
Để khỏi phải đối diện với chân lý, con người trở nên ngụy biện. 
Đức Giêsu dám ví thế hệ của Ngài với đám con nít ngồi ngoài chợ. 
Ngài sẽ ví thế hệ chúng ta với ai? 
Nơi một số nước, người ta cho phép ly dị, phá thai, hôn nhân đồng tính. 
Ở nhiều nơi vẫn còn sự kỳ thị về giới tính, màu da, tôn giáo, chủng tộc. 
Bao giờ người ta cũng tìm đủ lý do để làm những điều trên. 
Nguy cơ của con người thuộc mọi thời đại, là ở lại trong sự ấu trĩ, 
khăng khăng với những ngang bướng ích kỷ của mình.
Cả Gioan và Đức Giêsu đều đã bị loại trừ và bị giết. 
Mùa Vọng mời chúng ta dám tin vào lời chứng của Gioan và Giêsu. 
Tin luôn đòi chúng ta hoán cải, không được sống như xưa. 
Tiếng kêu từ hoang địa của Gioan kéo ta ra khỏi mọi dính bén trần tục. 
Thái độ bao dung nơi bàn ăn của Giêsu mời tội nhân ra khỏi bóng tối. 
Làm sao con người hôm nay nghe được tiếng kêu của Gioan và Giêsu?
Cầu nguyn:
Lạy Chúa Thánh Thần,
xin ban sức sống cho chúng con.
Xin cho cuộc đời Kitô hữu của chúng con
đừng rơi vào sự đơn điệu nghèo nàn,
vào những lối mòn quen thuộc,
nhưng xin canh tân
và tái tạo chúng con mỗi ngày.
Xin nuôi chúng con bằng những thức ăn mới,
cho chúng con khám phá ra
những chiều sâu khôn dò của Đức Kitô
và ý nghĩa thâm thúy của Tin Mừng.
Lạy Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự sống,
thế giới hôm nay luôn bị đe dọa
bởi bạo lực, khủng bố, chiến tranh;
mạng sống con người bị coi rẻ.
Xin cho chúng con biết say mê sự sống,
và gieo vãi sự sống khắp nơi.
Ước gì Chúa ban cho nhân loại
một lễ Hiện Xuống mới
để con người có thể hiểu nhau hơn
và đón nhận nhau trong yêu thương.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

13 thg 12, 2017

Gioan chính là Êlia (14.12.2017 – Thứ Năm Tuần 2 Mùa Vọng)


Lời Chúa: Mt 11, 11-15
Khi ấy, Đức Giêsu nói với dân chúng rằng: “Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông. Từ thời ông Gioan Tẩy giả cho đến bây giờ, Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được. Cho đến ông Gioan, tất cả các ngôn sứ cũng như Lề Luật đều đã nói tiên tri. Và nếu anh em chịu tin lời tôi, thì ông Gioan chính là Êlia, người phải đến. Ai có tai thì nghe.”
Suy nim:
Đã từ lâu dân tộc Do Thái không có vị ngôn sứ nào xuất hiện. 
Thiên Chúa thinh lặng như chẳng muốn nói với dân Ngài. 
Người ta thường coi vị ngôn sứ cuối cùng là Malaki. 
Ông sống trước công nguyên gần năm thế kỷ. 
Ông đã mạnh mẽ phê phán những bê bối của các tư tế và dân Do Thái 
sau khi họ trở về từ nơi bị lưu đầy ở Babylon. 
Malaki tiên báo ngày đoán phạt của Đức Chúa gần đến. 
Nhưng trước khi Ngài đến, sẽ có người đi trước để dọn đường (Ml 3, 1). 
Êlia chính là người làm công việc đó: 
Này đây Ta sẽ sai đến với ngươi Êlia, vị ngôn sứ” (Ml 3, 23).
Gioan Tẩy giả là người đã làm nhiệm vụ của Êlia, 
tuy ông không phải là một Êlia từ cõi chết sống lại. 
Gioan xuất hiện như một ngôn sứ khắc khổ nơi sa mạc hoang vu. 
Ông đã cất tiếng mời gọi mọi người sám hối và chịu phép rửa. 
để dọn lòng đón Đấng Mêsia sắp đến. 
Thế là sau bao thế kỷ mong chờ, Thiên Chúa lại ngỏ lời với dân Ngài.
Gioan Tẩy giả luôn là nhân vật nổi bật trong Mùa Vọng. 
Đức Giêsu khẳng định ông còn trọng hơn một ngôn sứ nữa (Mt 11, 9). 
Đã có bao ngôn sứ trong Cựu Ước xuất hiện trước ông, 
loan báo về Đấng Cứu độ mà Thiên Chúa hứa ban. 
Nhưng Gioan là người duy nhất đã chỉ cho dân thấy Đấng ấy là ai. 
Chính là Đức Giêsu, người ông đã ban phép rửa. 
Gioan cao trọng vì ông là cầu nối giữa hai giai đoạn của lịch sử cứu độ. 
Ông vừa thuộc nhóm những ngôn sứ của giai đoạn trước (c. 11), 
vừa là người đã chạm đến Nước Trời ở giai đoạn sau (cc. 12-13). 
Giai đoạn trước của những lời Thiên Chúa hứa, 
và giai đoạn sau khi Thiên Chúa thực hiện những lời hứa này. 
Đức Giêsu là Đấng khai mở giai đoạn sau. 
Nhưng Ngài cần Gioan để làm người trực tiếp giới thiệu.
Chúng ta không thánh thiện hơn Gioan Tẩy giả, 
nhưng chúng ta có phần hạnh phúc hơn ông, 
vì được sống trong giai đoạn lời hứa của Thiên Chúa nên thành tựu. 
Ơn cứu độ đã đến, Nước Trời đã ở ngay bên. 
“Kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông” (c. 11). 
Cao trọng hơn vì những kho tàng mới do Đức Giêsu mang lại. 
Ngài đem đến ơn cứu độ toàn diện cho từng người, 
vượt xa những gì mà các ngôn sứ thời xưa mong đợi. 
Gioan hẳn sẽ có mặt trong bữa tiệc cánh chung (Mt 8, 11). 
Ông đã chiếm được Nước Trời bằng sức mạnh phấn đấu (c. 12). 
Ông đã sống bất khuất và đã chết anh hùng. 
Mỗi lần Mùa Vọng, chúng ta lại gặp Gioan. 
Đức Giêsu mãi mãi cần những Gioan cho đến ngày tận thế, 
để bắc một nhịp cầu, để làm người môi giới trung gian 
để tình yêu cứu độ được mọi người đón nhận.
Cầu nguyn:
Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến.
Xin đừng mỉm cười mà nói rằng
Chúa đã ở bên chúng con rồi.
Có cả triệu người chưa biết Chúa.
Nhưng biết Chúa thì được cái gì ?
Chúa đến để làm gì
nếu đời sống con cái của Chúa
cứ tiếp tục y như cũ ?
Xin hoán cải chúng con.
Xin lay chuyển chúng con.
Ước gì sứ điệp của Chúa
trở nên máu thịt của chúng con,
trở nên lẽ sống của cuộc đời chúng con.
Ước gì sứ điệp đó
lôi chúng con ra khỏi sự an nhiên tự tại,
và đòi buộc chúng con,
làm chúng con không yên.
Bởi lẽ chỉ như thế,
sứ điệp đó mới mang lại cho chúng con
bình an sâu xa,
thứ bình an khác hẳn,

đó là Bình An của Chúa.
(Helder Câmara)
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

12 thg 12, 2017

Ách của tôi êm ái (13.12.2017 – Thứ tư Tuần 2 Mùa Vọng)


Lời Chúa: Mt 11, 28-30
Khi ấy, Ðức Giêsu nói với dân chúng rằng: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”
Suy nim:
Khi quy hoạch thành phố tương lai, 
người ta không quên dành một khu vui chơi giải trí. 
Nghỉ ngơi thư giãn là một nhu cầu quan trọng 
cho những ai sống trong nền kinh tế thị trường. 
Nghỉ ngơi không chỉ cần cho thân xác hay trí óc. 
Nghỉ ngơi còn cần cho tâm hồn. 
Cái tâm của chúng ta cần được sống trong an tĩnh 
giữa sóng gió dao động, giữa chợ đời bon chen. 
Nhiều người bị suy nhược thần kinh, bị stress. 
Có người tự tử vì không đủ sức để tiếp tục sống.
Ðức Giêsu mời chúng ta đến với Ngài, 
tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề.
Gánh nặng của nỗi đau và vấp ngã trong quá khứ. 

Gánh nặng của trách nhiệm và yếu đuối hiện tại. 
Gánh nặng phải mang vì người khác… 
Tất cả những ai bị căng thẳng và lo âu, 
chán chường và mệt mỏi. 
Tất cả những ai muốn tìm một chút nghỉ ngơi. 
Hãy đến với Ngài, ta sẽ gặp được sự an tĩnh.
Hãy mang lấy ách của tôi.
Ðức Giêsu không ngần ngại nói đến ách của Ngài 

mà những kẻ đến với Ngài phải mang. 
Ngài không giấu ta về những đòi hỏi nghiêm túc, 
về con đường hẹp mà ít người muốn đi, 
về thánh giá mà ta phải vác để theo Ngài. 
Như thế sự an bình thư thái Ngài hứa ban 
đâu phải là thứ bình an rẻ tiền, không cần từ bỏ. 
Ðó là thứ bình an ngay giữa khổ đau và nước mắt, 
vì biết mình được Thiên Chúa yêu thương, 
vì xác tín là mình đang làm đúng ý Thiên Chúa.
Nếu ách của Ngài êm và gánh của Ngài nhẹ, 
thì là vì chúng được đón nhận trong tình yêu. 
Tình yêu làm cho mọi sự trở nên êm nhẹ. 
“Chỗ nào có lòng yêu mến, thì không cảm thấy vất vả; 
mà giả như có vất vả đi nữa 
thì người ta cũng thích cái vất vả đó” (thánh Âutinh)
Hãy học với tôi.
Ðức Giêsu kêu gọi chúng ta làm học trò của Ngài. 

Chúng ta học trường Giêsu, học Thầy Giêsu, học bài Giêsu. 
Bài học nằm nơi chính trái tim Ngài: 
“Vì tôi có trái tim hiền hậu và khiêm nhu.”
Khi mang trong mình những tâm tình của Thầy Giêsu 

thì tâm hồn ta sẽ được bình an trở lại. 
Chúng ta cần theo học Thầy Giêsu suốt đời, 
cần lột bỏ những tự hào về khôn ngoan thông thái, 
cần sống hồn nhiên khiêm tốn như trẻ thơ. 
Chỉ như thế chúng ta mới được Thầy Giêsu mạc khải, 
và đưa vào thế giới của Thiên Chúa.
Cầu nguyn:
Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con trở nên đơn sơ bé nhỏ,
nhở đó con dễ nghe được tiếng Chúa nói,
dễ thấy Chúa hiện diện
và hoạt động trong đời con.
Sống giữa một thế giới đầy lọc lừa và đe dọa,
xin cho con đừng trở nên cứng cỏi,
khép kín và nghi ngờ.
Xin dạy con sự hiền hậu
để con biết cảm thông và bao dung với tha nhân.
Xin dạy con sự khiêm nhu
để con dám buông đời con cho Chúa.
Cuối cùng, xin cho con sự bình an sâu thẳm,
vui tươi đi trên con đường hẹp với Ngài,
hạnh phúc vì được cùng Ngài chịu khổ đau. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

11 thg 12, 2017

Không muốn ai hư mất (12.12.2017 – Thứ ba Tuần 2 Mùa Vọng)


Lời Chúa: Mt 18,12-14
12 “Anh em nghĩ sao? Ai có một trăm con chiên mà có một con đi lạc, lại không để chín mươi chín con kia trên núi mà đi tìm con chiên lạc sao?13 Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó, hơn là vì chín mươi chín con không bị lạc.14 Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất.
Suy niệm:
Chăn chiên là một nghề đã có từ lâu.
Nhiều nhà lãnh đạo dân Do-thái như Môsê, Đa-vít, đều làm nghề này.
Trên những đồng cỏ mênh mông, giữa trời và đất, chỉ có chiên và mục tử,
nên giữa đôi bên có một sự thân thiết và hiểu biết nhau thật gần gũi.
Chính vì thế trong Cựu Ước, Thiên Chúa hay ví mình với người chăn chiên.
Đàn chiên là dân Do-thái, là dân riêng Ngài rất mực quý yêu:
“Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa…
Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, 
bầy chiên mẹ cũng tận tình dẫn dắt” (Is 40,11).
Như Thiên Chúa, Đức Giêsu cũng ví mình với người mục tử tốt lành.
“Tôi biết chiên của tôi và chiên của tôi biết tôi” (Ga 10, 14).
Sự hiểu biết thân thương này mạnh đến độ 
Ngài dám hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên (Ga 10, 15).
Sau khi chết và phục sinh, Đức Giêsu muốn Simon nhận sứ mạng mục tử.
Ngài mời ông chăm sóc và chăn dắt chiên của Ngài (Ga 21, 15-17).
Như thế đoàn chiên mới của Đức Giêsu lúc nào cũng được bảo vệ.
Qua bao thế kỷ Giáo Hội vẫn không ngừng có những mục tử mới,
nối gót Simon Phêrô để phục vụ và hiến mạng vì đoàn chiên.
Nhưng Đức Giêsu không dạy người mục tử chỉ lo cho cả đoàn,
mà quên chăm sóc cho từng con chiên một.
Ngài mời ta để ý đến tập thể lớn, nhưng không được quên từng cá nhân nhỏ.
Có khi chỉ một con chiên lạc lại khiến người mục tử bận tâm lo lắng
đến nỗi để chín mươi chín con trên núi mà đi tìm con bị mất (c. 12).
Không phải vì coi thường chín mươi chín con không bị lạc,
nhưng vì người mục tử không muốn mất con nào.
Con chiên lạc lại có chỗ đứng đặc biệt trong trái tim mục tử.
Chúng ta ai cũng có kinh nghiệm về chuyện tìm lại được điều đã mất.
Khi mất thì đứng ngồi không yên, 
khi tìm thấy thì bình an và niềm vui òa vỡ.
Người mục tử lo âu, vất vả tìm kiếm con chiên lạc,
nhưng khi tìm được rồi thì niềm vui là vô bờ.
Có thể nói còn vui hơn chuyện chín mươi chín con không bị lạc (c. 13).
Dường như người ta bắt đầu quý một điều từ khi mất điều đó.
Có khi một người bắt đầu hiện diện từ khi người ấy vắng mặt và mất đi.
Cha không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất (c. 14).
Cha muốn cho mọi người được cứu độ và không muốn mất một ai (1 Tm 2, 4).
Mùa Vọng là thời gian chúng ta nhìn lại những người bé mọn quanh ta,
những người từ lâu đã bỏ nhà thờ, những người mất lòng tin vào Chúa.
Mỗi người chúng ta phải là mục tử cho nhau, chăm sóc nhau, quý nhau,
khởi đi từ những người trong gia đình, trong nhóm bạn thân quen.
Chúng ta quý nhau vì Thiên Chúa quý từng người chúng ta.
Chúng ta chẳng thể mừng Lễ Giáng sinh nếu còn một người đang lạc ở đâu đó.
Nếu chịu mất công đi tìm về, chúng ta mới được hưởng niềm vui trọn vẹn
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
Khi làm người, Chúa đã nhận trái đất này làm quê hương.
Chúa đã ban nó cho chúng con như một quà tặng tuyệt vời.
Nếu rừng không còn xanh, dòng suối không còn sạch,
và bầu trời vắng tiếng chim.
thì đó là lỗi của chúng con.
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã đến làm người để tôn vinh phận người,
vậy mà thế giới vẫn có một tỷ người đói,
bao trẻ sơ sinh bị giết mỗi ngày khi chưa chào đời,
bao kẻ sống không ra người, nhân phẩm bị chà đạp.
Đó là lỗi của chúng con.
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đến đem bình an cho người Chúa thương,
vậy mà trái đất của chúng con chưa một ngày an bình.
Chiến tranh, khủng bố, xung đột, có mặt khắp nơi.
Người ta cứ tìm cách giết nhau bằng thứ vũ khí tối tân hơn mãi.
Đó là lỗi của chúng con.
Lạy Chúa Giêsu ở Belem,
Chúa đã cứu độ và chữa lành thế giới bằng tình yêu khiêm hạ,
nhưng bất công, ích kỷ và dối trá vẫn thống trị địa cầu.
Chúa đến đem ánh sáng, nhưng bóng tối vẫn tràn lan.
Chúa đến đem tự do, nhưng con người vẫn bị trói buộc.
Đó là lỗi của chúng con.
Vì lỗi của chúng con, chương trình cứu độ của Chúa bị chậm lại,
và giấc mơ của Chúa sau hai ngàn năm vẫn chưa thành tựu.
Mỗi lần đến gần máng cỏ Belem,
xin cho chúng con nghe được lời thì thầm gọi mời của Chúa
để yêu trái đất lạnh giá này hơn,
và xây dựng nó thành mái ấm cho mọi người.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.