Hiển thị các bài đăng có nhãn GÓC SUY TƯ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn GÓC SUY TƯ. Hiển thị tất cả bài đăng

10 thg 12, 2019

Sông càng sâu càng tĩnh, người càng hiểu biết càng khiêm nhường


Nước sâu chảy không một tiếng động, nước nông, nước cạn sẽ chảy róc rách. Người nông cạn, khoa trương sẽ giống như nước cạn vậy. Còn người có đủ tĩnh khí, khiêm nhường, biết mình sẽ giống như một nguồn nước sâu. Bạn muốn mình là nguồn nước sâu hay là một dòng nước cạn?
Walter Raleigh (1552 – 29 .10. 1618) là nhà chính trị, nhà sử học, nhà thơ nổi tiếng của Anh thời kỳ văn hóa phục hưng từng sáng tác một bài thơ về tình yêu. Trong đó ông đem tình cảm mãnh liệt ví như dòng nước chảy.
Ông viết: “Nước cạn chảy róc rách mà nước sâu lại chảy không phát ra một tiếng động. Một người nếu luôn nói lời  đường mật thì trong lòng sẽ là “hư tình giả ý”!”  
Kỳ thực, trong cuộc sống, sự thành thật và lương thiện cũng giống như nước chảy vậy, cũng không cần phải tận lực khoa trương, ca ngợi. Con người chỉ có tâm thái bình tĩnh và tường hòa mới có thể đạt được cảnh giới tư tưởng cao thượng.
Ở một ngôi làng nọ, có hai cha con người đàn ông trung niên sống cùng nhau. Một hôm trời đẹp, người cha rủ con trai đi vào rừng dạo chơi. Cậu con trai vô cùng cao hứng đi cùng bố. Hai cha con đi đến đoạn đường uốn lượn thì dừng lại.
Trong một phút trầm lặng ngắn ngủi, người cha hỏi con: “Con trai! Ngoài tiếng chim đang hót ra, con còn nghe được thấy tiếng gì khác không?”
Cậu bé sau một hồi lắng nghe liền trả lời cha: “Cha ơi, con còn nghe được cả tiếng xe ngựa nữa ạ!”
Người cha lại hỏi tiếp: “Đúng rồi! Đó là một chiếc xe ngựa trống, không chở gì cả.”
Cậu con trai ngạc nhiên hỏi lại: “Chúng ta con chưa nhìn thấy nó, sao cha lại biết đó là chiếc xe ngựa trống rỗng?”
Người cha đáp: “Từ âm thanh con có thể dễ dàng nhận ra đó là một chiếc xe trống không. Xe ngựa càng trống rỗng, thì âm thanh sẽ càng to.”
Về sau này, cậu con trai trưởng thành, là một người thông minh, giỏi giang và thành đạt. Mỗi lần cậu chứng kiến một ai đó dùng lời lẽ ba hoa, lỗ mãng để nói chuyện, tự cho là mình đúng, tự cao tự đại, hạ thấp người khác thì cậu đều nhớ đến lời nói của cha vẫn như đang văng vẳng bên tai mình: “Xe ngựa càng trống rỗng thì âm thanh sẽ càng to.”
Những người đã từng qua sông cũng biết rằng, trước khi qua sông, người ta thường lấy một hòn đá ném nó xuống nước để phỏng đoán độ sâu của con sông. Bọt nước bắn lên càng cao thì chứng tỏ nước sông càng cạn, càng nông. Trái lại, nơi nào không có bọt nước bắn lên, không nghe thấy âm thanh lớn thì chứng tỏ chỗ ấy nước càng sâu, thậm chí sâu không thể đo được…
Nước càng sâu, chảy càng không có tiếng động. Xe ngựa càng trống rỗng thì tiếng động càng lớn. Làm người cũng nên như vậy!
Người có thể dùng tâm thái bình tĩnh, “bình tâm tĩnh khí” để nói chuyện với người khác thì sẽ trách được việc khắc khẩu, cãi vã giữa đôi bên. Người như vậy cũng sẽ càng học được cách lắng nghe người khác, mà lại không cường điệu, khoa trương chính mình!
Theo Secretchina
Mai Trà biên dịch

25 thg 11, 2019

Nhắc nhau bảo vệ môi trường


Từ khi sống ở trời Âu, tôi mới nhận thức rõ hơn: Tại sao Châu Âu và người dân ở đây luôn ý thức bảo vệ môi trường? Họ được học, được tập và được nhắc nhở từ thuở đến trường. Lớn lên một chút, lời căn dặn ấy trở thành thói quen. Đó còn là cách hành xử của người lịch sự. Điều này quan trọng, vì khi bước vào xã hội, môi trường kinh tế, kinh doanh sản xuất và trong mọi lãnh vực, họ thường ý thức môi trường xanh sạch là xu thế toàn cầu. Bởi đó, những sản phẩm thân thiện với thiên nhiên, những công ty ít tác động đến môi trường thường được nhà nước và người dân ủng hộ. Hơn nữa, từ khi Giáo Hội Công Giáo ban hành Tông Huấn Laudato si’”, người ta lại càng nhắc nhau bảo vệ môi trường hơn.

Đối với người Việt, có lẽ từ Latinh trên đây khá lạ lẫm. Nếu hiểu nghĩa nó, thì thử hỏi mấy ai nhắc nhau bảo vệ môi trường bằng cụm từ này? Dẫu sao, Laudato si’ có nghĩa là: Chúc tụng Thiên Chúa. Đó là tên chính của Tông Huấn được Đức Giáo Hoàng Phanxicô công bố ngày 18 tháng 6 năm 2015. Bên dưới Tông Huấn có phụ tựa: Chăm sóc ngôi nhà chung của chúng ta. Ngoài ra, Laudato si’ cũng gợi cho người đọc nhớ đến một vị thánh nổi tiếng thân thiện và luôn chăm sóc thiên nhiên: Thánh Phanxicô Assisi. Chẳng hạn bài ca về Thiên Nhiên nổi tiếng của ngài âm vang: “Chúc tụng Chúa, lạy Thiên Chúa của con, ngang qua người Chị của chúng con, Mẹ Trái Đất, là người duôi dưỡng và điều hành chúng con, và là người sản sinh ra nhiều hoa trái khác nhau với nhiều loại hoa muôn sắc và cỏ cây.” (Laudato si’ số 1).

Tôi không muốn đi vào nội dung Tông Huấn, vì chúng ta có thể dễ dàng tìm đọc bản Tiếng Việt trên Internet hoặc trong sách. Ở đây, điều thú vị là nếu chúng ta nhắc nhở nhau bảo vệ môi trường, thì ngôi nhà chung Việt Nam của chúng ta sẽ tốt hơn nhiều. Sẽ là thoái lui nếu cứ mang thành kiến: nhắc nhau thì được gì, quan trọng là làm. Đúng vậy! Nhưng trước khi hành động, người ta cần ý thức và nhắc nhau về một vấn nạn khủng hoảng môi trường đang xảy ra. Từ đó chính người nhắc cũng có thêm động lực để bảo vệ môi trường nơi những điều cụ thể. Hãy tưởng tượng từ thuở học sinh, các em được thầy cô dạy bảo, nhắc nhở và tập cho những việc làm nho nhỏ bảo vệ thiên nhiên; từ từ các em sẽ có thói quen gìn giữ ngôi nhà chung của chúng ta. Đúng là thà thắp lên một ngọn nến còn hơn ngồi đó nguyền rủa bóng đêm. Bắt đầu từ suy nghĩ, từ bản thân và từ gia đình!

Chắc có người cho rằng nhắc nhau như thế cũng chẳng đi đến đâu, bởi môi trường thiên nhiên ở Việt Nam hiện quá ô nhiễm. Các thông tin báo chí thường đưa tin đây đó ô nhiễm nguồn nước, không khí và thực phẩm. Vì các dự án, nhiều hàng cây xanh bị chặt hạ, nhiều cánh rừng biến mất. Vì nhiều tư lợi, các công ty ô nhiễm vẫn ngang nhiên hoạt động, xả thải. Hoặc chính mỗi người cũng cảm thấy môi trường bị ô nhiễm đang bào mòn sức sống người Việt. Nhiều người đùn đẩy trách nhiệm ấy cho nhà nước. Bởi, để giải quyết vấn đề này cần mang tầm mức quốc gia. Điều ấy đúng! Nhưng thực tế mỗi người, mỗi gia đình cũng có thể làm được chút nào đó góp phần bảo vệ môi trường. “Hãy cùng nhau Laudato si’!”

Tại nhiều nước tiên tiến, người ta đánh giá mức độ văn minh của một người khi nhìn vào cách người ấy đối xử với môi trường như thế nào. Xả rác bừa bãi dĩ nhiên là một người bất lịch sự. (Có khi trong lời nói cũng đầy rác thải). Gây tổn hại đến thiên nhiên, nơi công ích cũng là người thiếu văn minh. Lãng phí khi sử dụng đồ ăn, thức uống cũng là người chưa văn hóa. Vài ví dụ ấy cho thấy cung cách sống thân thiện với thiên nhiên là xu hướng đang được người ta để tâm tập tành. Có thể ý tưởng này chưa phổ biến ở Việt Nam, nhưng đã đến lúc trẻ em cần được dạy bảo, người lớn cần sửa đổi, nếu thấy mình đang “có lỗi” với thiên nhiên.
Khi nhắc nhau bảo vệ môi trường, chúng ta cũng tránh được thái độ thờ ơ với người khác và thiên nhiên. Tôi nhớ nhiều lần chúng bạn (có khi cả chính tôi) nói rằng: người ta có bảo vệ thiên nhiên đâu, nên tôi cũng chẳng cần làm. “Ai làm sao, tôi làm vậy” không còn hợp thời nữa! Nhất là trong khi chung sống với Mẹ Thiên Nhiên, nhiều người làm sai, nhưng tôi hẳn là không muốn đi vào lối mòn ấy. Nói thì dễ, nhưng để thay đổi không phải một sớm một chiều. Tuy vậy, cần nhắc nhau, cần nói trên phương tiện truyền thông, cần bàn trong những kế hoạch dự án, cần tạo nên làn sóng bảo vệ môi trường. Khi đó, nhân loại, cách riêng là người Việt, mới có hy vọng được hít thở bầu không khí trong lành, được sử dụng nguồn nước trong sạch và môi trường sống xanh tươi.

Nếu người Việt ngả mũ khen nước Nhật là văn minh, phát triển và xanh sạch, thì chúng ta nhớ họ đã từng nhắc nhở nhau bảo vệ môi trường. Họ đã từng là nước ô nhiễm trầm trọng, nhất là sau hai cuộc thế chiến. Tuy nhiên, ngoài chính sách vĩ mô, tại Nhật “có hàng nghìn tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực môi trường, hàng trăm tờ báo chuyên về môi trường, về xử lý chất thải và bảo tồn đa dạng sinh học. Khắp nơi đâu đâu cũng có các thông điệp về bảo vệ môi trường, tràn ngập trên các dãy phố, trên mọi phương tiện thông tin đại chúng, tác động vào nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân Nhật Bản về tình yêu đối với môi trường và cuộc sống, vì một màu xanh cho thế hệ mai sau.[1] Ngoài ra, giáo dục về vấn đề này ở trường lớp cũng nằm trong chính sách của cả nước Nhật. Nếu người Việt cũng muốn hưởng môi trường sống như thế, mỗi người cần bắt đầu với việc nhắc nhau và chung tay làm những điều có thể.

Đó là ước mơ của mỗi người. Trước khi nói đến phát triển, làm giàu và tương lai, phải chăng môi trường nhiên nhiên, ngôi nhà chung vốn tác động trực tiếp đến sức khỏe của con người, lại không quan trọng hơn sao. Ước gì mỗi người tập nhắc cho em nhỏ, nhắc chính mình và bạn bè hãy yêu quý thiên nhiên. Từ đó, chúng ta tin rằng có rất nhiều ý tưởng, sáng kiến trong việc làm mới lại môi trường đang ô nhiễm này.
Tôi muốn kết thúc chủ đề này với lời nguyện thật đẹp của Tông Huấn Laudato si’ – Một lời cầu nguyện cho trái đất của chúng ta:

Lạy Thiên Chúa toàn năng,
Cha đang hiện diện trong toàn thể vũ trụ
và trong các loài thọ tạo nhỏ bé nhất của Cha.
Cha ôm lấy tất cả mọi sự đang hiện hữu
bằng sự dịu dàng của Cha.

Xin đổ tràn trên chúng con sức mạnh của tình yêu Cha,
để chúng con có thể bảo vệ sự sống và vẻ đẹp.
Xin đổ tràn đầy sự bình an trên chúng con,
để chúng con có thể sống như những anh chị em,
mà không làm hại một ai.

Ôi lạy Thiên Chúa của người nghèo, xin giúp chúng con
biết cứu người bị bỏ rơi và bị lãng quên của trái đất này,
vốn quá quý giá trước nhan thánh Cha.

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

17 thg 11, 2019

Tháng các linh hồn, nghĩ về thân phận phải chết


“Kiếp phù-sinh, tháng ngày vắn-vỏi,
Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,
Một cơn gió thoảng là xong
Chốn xưa mình ở cũng không biết mình.” (Tv 103, 15-16)

Trời chiều nghĩa địa sương dầy buông phủ. Không gian tờ mờ trong làn khói trắng toả lan khắp cả một cõi dường như càng tô thêm vẻ cô tịch bình lặng của chốn này. Đây là nơi an nghỉ của những người đã kinh qua cuộc sống trần gian, những người đã trải qua mọi cảnh đời nhộn nhịp, nay thân xác bất động nơi thinh không. Đứng trước ngôi mộ rêu phong của các bậc tiền nhân, tôi chợt thấy vẩn vơ trong mình trầm sâu suy nghĩ về sự mong manh, vắn vỏi của kiếp người. Chốn này đây, một chốn nghỉ chân, nhưng người ta vẫn sẽ bước tiếp. Bước vào cái chết là tất yếu, nhưng sẽ là hy vọng nếu đây là cánh cửa dẫn vào một con đường, để tiếp tục bước đi… tôi biết rằng mình cũng đang trong hành trình ấy, rằng, một ngày kia tôi cũng phải chết.

Người ta hiện hữu trên đời vốn phó mình cho sự chuyển vận của thời gian. Thời gian đón nhận con người bước vào cuộc đời; nó chứng kiến người ta lớn lên; và nó đưa con người ta trở lại cõi vô định.  Thời gian chẳng chờ một ai, người ta bước một bước, thời gian ngắn lại một khắc, người ta buông một hơi thở, thời gian như thu vào mình một chút lực sống. Cứ thế, thời gian đã đem người ta vào sự hữu hạn thì cũng đẩy đưa họ vào cõi vô hạn. Đứng trước những con người đã từng đi vào thời gian và ra khỏi thời gian, tôi cảm thấy sự gần gũi giữa những phận người hữu hạn. Tôi đây, cũng như họ, nay còn mai mất trên thế gian. Tôi chỉ còn nỗ lực trong thời gian hạn hẹp này, khi chết rồi, mọi sự tồn tại chỉ là một lịch sử nhỏ bé trong vũ trụ nghìn năm tuổi. Sự mong manh của phận người, tính hữu hạn của thời gian mời gọi tôi sống trọn vẹn giây phút hiện tại. Thật vậy, tôi không thể níu giữ thời gian, nhưng tôi có khả năng làm cho những giá trị trong thời gian chóng qua này mang ý nghĩa vĩnh cửu.

Với con người, cái chết có lẽ là một thực tại nghiệt ngã. Chết cũng là quy luật thách đố mọi quy luật tồn tại trong nhân loại. Lớp lang các nấm mộ, người trẻ người già, kẻ Bắc người Nam không phân biệt nói với tôi rằng, dầu là ai đi nữa thì người ta sinh ra, có một thời để lớn lên, có một thời để sống và sẽ đến một thời mà mọi thứ trên thế gian này sẽ qua đi. Không biết lúc nào và ở đâu, tôi cũng sẽ phải chết. Với cuộc sống thế gian, chết là chấm dứt tất cả. Cái chết không tha một ai và lấy đi mọi sự thuộc thế giới vật chất này. Bạn giàu có ư, bạn đạt được mọi danh vọng, quyền lực…hay bạn nghèo khó, thất bại, thiếu thốn ư? Tất cả sẽ cùng đối diện với một tương lai là cái chết. Thời gian vốn mong manh mà ước vọng con người luôn to lớn. Vì vậy, như thường thấy, cái chết là mối đe doạ và nguồn của sự sợ hãi của nhân loại. Đã từng có những người không thể chấp nhận được quy luật này, có những tham vọng lật ngược quy luật ấy hay cũng có những người sống mà quên đi mất quy luật này… nhưng tất cả giờ đây “ba tấc đất mới thực là nhà” của họ. Trước cái chết, thấy được sự chóng qua của tất cả những gì tồn tại trong kiếp nhân sinh, tôi thấy mình được mời gọi để yêu mến và trân trọng cuộc sống này, nhưng không quá dính bén vào nó. Ý thức một ngày kia tôi sẽ chết cũng dạy tôi cách sống, biết sử dụng những gì chóng qua để đạt được điều vĩnh cửu. Tôi tin rằng, chết chỉ nghiệt ngã với những ai thất vọng và không tin vào một sự sống đời sau.

Có lẽ không ai chắc về trạng thái đằng sau cái chết sẽ thế nào, chỉ biết rằng chết là một thực tại hiển nhiên sẽ đến với mình. Cái chết là một thách đố với những người đang sống; và với người đã chết, sẽ không còn một sự hiện hữu trên trái đất này nữa. Đối với người ra đi, chết là sự giã biệt hay là trang kết của một cuốn sách lịch sử đời người. Đối với người còn sống, cái chết của người kia mang tới cảm nhận mất mát, tiếc thương. Sẽ là đau đớn tột cùng khi không còn gì sau chết. Nhưng, tâm thức về sự hiện hữu nói với tôi rằng, chết là đi vào một sự sống mới chứ không phải mất đi tất cả. Tin vào Đức Kitô Phục sinh đã mang lại cho tôi niềm hy vọng ấy.  Chính niềm xác tín này khơi lên trong tôi một cảm nhận nối kết thiêng liêng với người đã khuất. Ấy là cảm thức về một sự thông hiệp tâm hồn giữa người ra đi và ở lại, đó là “người chết nối linh thiêng vào đời”. Cảm thức ấy làm nên giá trị và ý nghĩa của những giây phút tôi tưởng nhớ về họ, tôi cầu nguyện cho họ, và cùng với họ, tôi hy vọng về một sự sống mới.

Nghe bên mình tiếng khóc thút thít…tôi chợt thấy xúc động…đám trẻ con cũng hoà vào bầu khí thành kính sốt sắng lấy nhang cắm…tôi hiểu rằng, người ta khóc cho phận người, nhưng cũng khóc cho phận mình, họ đang đối diện với thực tại của chính mình trong tương lai. Nhưng đối với người Công giáo, tương lai ấy có có hy vọng, và cái chết như cánh cửa mở ra niềm hy vọng mới ấy. …Một mai tôi cũng trở về bụi tro nhưng với niềm tin, tôi sống trong tâm thế  của kẻ mang niềm hy vọng sẽ sống lại.
…Những nén nhang được đốt sáng như những ánh đèn đom đóm le lói giữa vùng trời đã khuất bóng dần sau hàng cây cả bóng…trên đường tôi về.

Joseph Trần Ngọc Huynh, S.J.

3 thg 11, 2019

“Yêu rồi làm” hay “làm rồi yêu”?


Một Giám mục Việt Nam đã chọn khẩu hiệu “yêu rồi làm”. Tại sao phải yêu rồi mới làm được? Hàng ngày chúng ta buộc phải làm nhiều việc bổn phận mặc dù chẳng có yêu thích gì! Nếu chờ cho tới khi yêu rồi mới làm thì chừng nào mới bắt tay vào việc?

Khẩu hiệu “yêu rồi làm” là của đức giám mục Phú Cường. Theo luật, thì chính ngài mới có thẩm quyền giải thích chính thức khẩu hiệu mà mình đã chọn. Tuy nhiên, bởi vì đây không phải chỉ là một châm ngôn do ngài sáng chế ra nhưng đã có từ lâu đời trong lịch sử Hội thánh cho nên tôi xin được góp ý dựa theo sự giải thích của truyền thống thần học.

Câu nói “yêu rồi làm” bắt nguồn từ đâu vậy?

Đây không phải là câu nói trích từ Kinh thánh nhưng là trích từ thánh Augustinô giám mục, khi chú giải thư thánh Gioan tông đồ. Thực ra, dịch cho hết ý của thánh Augustinô không phải là chuyện đơn giản. Nếu dịch là “yêu rồi làm” thì có thể gây hiểu lầm, ra như là muốn đối chọi với “làm rồi yêu”, với những hậu quả khá tai hại. Tôi nghĩ tới một phụ nữ Ấn độ đã phát biểu tại Thượng hội đồng giám mục bàn về hôn nhân và gia đình năm 1980. Chị ta nói rằng: “Bên Âu Mỹ người ta yêu nhau rồi mới lấy nhau; và rồi khi hết yêu thì đem nhau ra toà xin ly dị. Còn bên Á châu, thì chúng tôi lấy nhau trước rồi mới yêu nhau sau. Chính vì thế mà chúng tôi đã quen nhịn nhục chịu đựng khi gặp khó khăn trong cuộc sống vợ chồng”. Dĩ nhiên là thánh Augustinô không hề nghĩ đến chuyện này. Câu nói của ngài dài hơn: Dilige, et quod vis fac (Tractatus in epistulam Johannis 7,8), và xin tạm dịch như sau: “Yêu đi, và làm điều bạn muốn”, hoặc “Cứ yêu đi, rồi làm chi cũng được”.

Nhiều cô cậu cũng bênh vực cho thánh Augustinô “cứ yêu đi rồi làm chi cũng được”: họ ăn nằm với nhau bất cần giá thú. Thánh Augustinô có nghĩ đến điều đó không?

Dĩ nhiên, những nhận xét về cuộc sống chỉ có giá trị tương đối khi đặt trong mạch văn của nó, chứ không mang giá trị tuyệt đối như là công thức toán học. Vì thế mà nếu tách ra khỏi mạch văn thì có thể giải thích hoàn toàn trái ngược với chủ ý của người nói. Trên thực tế thì không phải chỉ có các cô cậu choai choai mới thích trưng dẫn câu nói của thánh Augustinô để biện minh cho thuyết tự do luyến ái. Chúng ta còn có thể kể ra nhiều trường hợp khác nữa. Chẳng hạn như có những bác sĩ viện dẫn câu nói đó để thi hành sự phá thai, (giết những trẻ em khuyết tật để cho chúng khỏi khổ và xã hội cũng đỡ gánh nặng). Và nói chung, rất nhiều người cũng nêu cao châm ngôn của thánh Augustinô để quảng cáo cho triết thuyết “sống thoải mái”, cốt sao để chiều theo cái khoái của mình là đủ, chứ không cần đếm xỉa tới luật lệ luân lý!

Thế còn thánh Augustinô muốn nói gì?

Chúng ta có thể hiểu câu nói của thánh Augustinô theo nhiều nghĩa khác nhau, đi từ khía cạnh tâm lý sang đến khía cạnh thần học. Bắt đầu là một nhận xét hợp tâm lý: khi đã yêu thích điều gì, thì ta sẽ thấy thích thú để thi hành cho dù công việc có cam go nặng nhọc mấy đi nữa. Khi bà mẹ yêu con thì bà không ngần ngại hy sinh vì con: không những bà sẵn sàng hy sinh giấc ngủ mà còn dám hy sinh cả mạng sống! Văn chương bình dân của chúng ta cũng đã nói: “Yêu nhau chẳng quản xa gần, mấy sông cũng lội mấy đèo cũng leo”.

Điều này quá rõ rồi, đâu có cần chờ thánh Augustinô nói thì ta mới biết được?

Như đã nói trên, cần đặt các câu nói trong mạch văn của nó thì mới hiểu đúng nghĩa. Câu nói “Yêu đi rồi làm chi cũng được” được trích từ những bài giảng số 8, chú giải chương 4 của thư thứ nhất thánh Gioan tông đồ, với những đoạn viết về tình yêu của Thiên Chúa: “Thiên Chúa là tình yêu. Ai ở trong tình yêu là ở trong Thiên Chúa”. Như vậy, đây là một tác phẩm thần học chứ không phải là thiên khảo luận tâm lý. Thực ra mạch văn gần của nó không phải là nhằm khảo luận về bản chất của tình yêu cho bằng giải thích động lực tình yêu thúc đẩy các hành động của chúng ta. Nói cách khác, thánh Augustinô lấy tình yêu để làm tiêu chuẩn đo lường giá trị luân lý của các hành vi. Tuy cùng làm một hành vi như nhau, nhưng nếu hành vi do động lực tình yêu thúc đẩy thì trở thành nhân đức, còn nếu không do tình yêu thúc đẩy thì trở thành xấu. Thánh Augustinô đưa ra một thí dụ trong công trình cứu độ, đó là việc trao nộp Đức Giêsu. Chúa Cha trao phó đức Giêsu và đức Giêsu trao hiến mình: cả hai đều do tình yêu thúc đẩy, vì thế mà mang lại giá trị cứu độ. Còn ông Giuđa cũng trao nộp đức Giêsu, nhưng do động lực bất chính vì thế mà bị coi là tội phản bội. Như vậy tuy cùng là một hành vi nhưng có hai giá trị khác nhau bởi vì do những động lực khác nhau thúc đẩy. Thánh Augustinô còn thêm một thí dụ khác nữa để làm sáng tỏ vấn đề, qua việc so sánh hành động của một người cha đánh đập con mình vì yêu thương muốn sửa dạy nó; và một người dưng thì lại vuốt ve thằng bé để dụ dỗ nó vào đường xấu. Thoạt tiên, chúng ta muốn trách người cha vì đã gây ra đau đớn cho đứa con, nhưng suy ra thì chúng ta cảm phục ông ta bởi vì ông nghiêm khắc với đứa con do lòng yêu thương nó. Ngược lại, kẻ dụ dỗ đứa nhỏ bằng đường mật vì muốn làm hại nó chứ không phải vì thương nó, thì là một hành vi xấu. Từ hai thí dụ kể trên thánh Augustinô đi tới kết luận như sau: “Bạn hãy yêu đi và rồi làm điều mà bạn muốn. Nếu bạn có thinh lặng thì hãy thinh lặng vì yêu; nếu bạn nói thì hãy nói vì yêu; nếu phải sửa sai thì hãy sửa vì yêu; nếu tha thì tha vì yêu. Tình yêu phải là gốc rễ trong lòng bạn, bởi vì từ gốc rễ này chỉ có thể có điều tốt mà thôi”.

Như vậy tình yêu mang lại giá trị luân lý cho các việc làm của chúng ta. Nhưng mà lúc nãy, cha có kể thí dụ một bác sĩ giết một bào thai khuyết tật vì yêu, không muốn cho nó phải khổ. Thế thì đâu có thể trách cứ ông được?

Như đã nói trên đây, các câu nhận xét về cuộc sống không có giá trị tuyệt đối như chân lý toán học. Cần phải lồng trong mạch văn của nó thì mới nhận thấy ý nghĩa và giá trị của nó. Trước đây tôi đã trưng dẫn vài tục ngữ bình dân cho thấy tình yêu mang lại sức mạnh giúp ta vượt thắng trở ngại. Nhưng đồng thời, tục ngữ bình dân cũng không thiếu những nhận xét về sự mù quáng của tình yêu, chẳng hạn như là “Yêu nhau chín bỏ làm mười”, hoặc là “Yêu nhau mọi việc chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”. Tạm coi đó như là điểm tích cực của tình yêu; nhưng rồi tình yêu có thể biến chuyển và vì thế sinh ra thái độ trái ngược, chẳng hạn như: “Yêu nên tốt ghét nên xấu”, hoặc “Thương nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau quả bồ hòn cũng méo”, “Yêu cho nhau ăn cháy, ghét nói nhau cạy nồi”.

Như vậy câu nói của thánh Augustinô chỉ có giá trị tương đối thôi phải không?

Tương đối hay tuyệt đối còn tùy theo ý nghĩa của tình yêu. Cần phải nghiên cứu những chiều kích khác nhau của tình yêu theo thần học của thánh Augustinô thì mới có thể khẳng định giá trị của câu nói: “Yêu đi rồi làm chi cũng được”. Thực ra, thánh Augustinô không thêm gì mới lạ vào giáo huấn của Tân ước. Trong Tân ước chúng ta gặp thấy nhiều đoạn văn trong đó tình yêu được đặt làm tiêu chuẩn phán đoán giá trị luân lý cho các hành vi của chúng ta. Chẳng hạn như khi Chúa Giêsu thâu gom tất cả các giới răn Thiên Chúa vào hai mối là: mến Chúa yêu người. Hoặc trong dụ ngôn về cảnh phán xét chung thẩm, ngài đã tính công phạt tội tùy theo mức độ mà chúng ta thi hành hay khước từ sự thương yêu dành cho tha nhân. Còn thánh Phaolô, trong chương 13 của thư thứ nhất gửi Côrintô đã nhấn mạnh rằng nếu ai thực hiện được tất cả mọi chuyện kinh thiên động địa mà không có thương yêu thì cũng chỉ là số không; trái lại, ai có tình yêu là có được tất cả. Thánh Augustinô thì sử dụng kiến thức tâm lý để phân biệt các loại tình yêu khác nhau. Triết học Hy-lạp đã nói tới hai thứ tình yêu rồi (eros và philia): một thứ tình yêu theo đam mê và một thứ tình yêu khách quan vô vị lợi. Tân ước thì thêm một cấp thứ ba nữa, đó là agape, tình yêu của chính Thiên Chúa trao ban. Thiên Chúa là agape, ai ở lại trong agape là ở lại trong Chúa; và khi đã ở trong Chúa thì không thể nào phạm tội được. Trái lại, tội chính là chống lại agape (1Ga 3,14).

Dựa theo các dữ kiện đó, mà thánh Augustinô đã trình bày nhiều loại tình yêu và nhiều cấp tình yêu. Không phải bất cứ tình yêu nào cũng đưa chúng ta lại gần Thiên Chúa, bởi vì có lắm thứ tình giả trá, những thứ tình chỉ nhằm thỏa mãn dục vọng ích kỷ chứ không đưa chúng ta đến kết hợp với Thiên Chúa. Tình yêu dẫn tới Thiên Chúa là tình yêu agape, tình yêu trao hiến, tình yêu ôm ấp cả kẻ thù địch bởi vì muốn hoạ lại tình yêu của chính Thiên Chúa. Để cho tình yêu không rơi vào cảnh mù quáng (yêu nên tốt, ghét nên xấu), thánh Augustinô và truyền thống thần học đã liên kết tình yêu với chân lý (nghĩa là sự thực), tình yêu chân chính, ngõ hầu không những loại trừ những thứ yêu thương giả dối mà còn hướng yêu thương đến chân lý khách quan. Chính trong viễn tượng đó mà “thương con cho roi cho vọt”: việc sử dụng roi vọt gây ra đau khổ cho con cái, nhưng đôi khi cha mẹ buộc lòng phải sử dụng vì muốn cho nó nên thân nên người; đang khi mà “cho ngọt cho bùi” thì lại có thể làm cho nó hư, chứ không phải là yêu thương thật tình.

Tóm lại: yêu rồi làm, hay làm rồi yêu?

Theo thói thường, có yêu thì mới làm. Tình yêu giúp cho việc làm trở nên dễ dàng thích thú. Tuy vậy, gặp những việc khó khăn ngại ngùng, thì chúng ta phải có can đảm đương đầu, và khi đã quen rồi thì sẽ thấy yêu. Nói đúng hơn, khi gặp những công tác khó khăn, chúng ta cần có một động lực tình yêu mạnh mẽ hơn; chứ sự hứng thú thường tình thì không đủ. Tình yêu mạnh mẽ ấy gọi là đức ái.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, O.P.

27 thg 9, 2019

Tại sao người giàu sang kẻ nghèo hèn?


Mỗi người một suy nghĩ, một lối sống và con đường có thể dẫn bạn tới thất bại hay thành công. Điểm mấu chốt là tại sao cùng một kiếp sống lại có người giàu kẻ nghèo? Người giàu là người có nhiều của cải vật chất và tích trữ theo nhiều hình thức như: gửi ngân hàng, cho vay mượn hay đầu tư mua bán trái phiếu, bất động sản... khiến cho họ giàu, càng trở nên giàu. Người nghèo là người có số lượng hạn hẹp về nhiều mặt như thiếu thốn của cải vật chất cũng như tinh thần, khó khăn trong đời sống, chi tiêu hạn hẹp, không có khả năng mua bán cao. Vậy tại sao có nhiều người giàu đến thế? 

Bạn có bao giờ tự hỏi tiền họ kiếm ở đâu không? Thiển nghĩ chắc họ kinh doanh buôn bán giỏi về nhiều lĩnh vực khác nhau: chính trị, văn hoá, giáo dục, y tế... tạo lập ra nhiều mối quan hệ tốt, tận dụng được thời cơ, vận dụng sáng suốt nắm bắt cơ hội. Người nghèo vì hoàn cảnh thiếu thốn, mối quan hệ ít hoặc không có, tiền cũng ít, nhiều khi làm gì cũng rơi vào nghèo, đã nghèo càng nghèo thêm. Trong kinh doanh người ta gọi là bẫy nghèo. Làm gì cũng rơi vào bẫy nghèo. Lý do đơn giản vì vốn ít, khi thất bại không có vốn để duy trì đầu tư, cộng thêm quen biết hạn hẹp nên nghèo vẫn hoàn nghèo. Nhìn chung, khi ai đó sinh ra được bao bọc che chở trong điều kiện thuận lợi có lẽ sẽ tốt hơn nhiều so với một người nghèo đói. Tuy vậy, hoàn cảnh nào thì cũng có giá trị riêng của nó. 

Có những người giàu sang nhờ vào năng lực của chính mình, cụ thể như Bill Gates là một người giàu có và nổi tiếng trên toàn thế giới nhờ thông minh. Ông là một doanh nhân người Mỹ, nhà từ thiện, tác giả và chủ tịch tập đoàn Microsoft, hãng phần mềm khổng lồ mà ông cùng với Paul Allen tạo lập. Bên cạnh đó, nhờ giàu có, ông lại có tấm lòng bao dung khi giúp đỡ nhiều các tổ chức từ thiện nên ông quả là con người giàu có và có lòng với người nghèo khó. Tuy nhiên, có người giàu có lại nhờ vào khối tài sản thừa kế từ các bậc tiền nhân đi trước. Lại có người giàu có từ các hình thức kinh doanh buôn bán trá hình như: cờ bạc, mại dâm, buôn bán hàng cấm trái pháp luật, cho vay nặng lãi, tham ô, trộm cắp, lươn lẹo...

 Nhiều người muốn giàu có còn nghĩ cách chặt chân, chặt tay để mong đền bù khối tài sản bảo hiểm hàng tỷ. Trong cuộc sống, nhiều người giàu có muốn thể hiện đẳng cấp mua sắm quá chớn, sẵn sàng bỏ ra tiền tỷ để mua điện thoại. Tại sao vậy? Có thể vì công việc làm ăn hay là một sở thích, có khi lại là mốt, cũng đôi khi vì lịch lãm và đẳng cấp với thương hiệu. Muốn thể hiện giá trị thứ thiệt của người giàu hay một dân chơi thứ thiệt.

 Nói như thế, không có nghĩa là người giàu hoàn toàn xấu. Điều quan trọng là lối suy nghĩ của mỗi người về nhiều phương diện cuộc sống. Từ những bàn luận trên, nhiều người giàu vẫn cứ giàu và tốt lành tạo điều kiện cho người nghèo phát triển. Còn nhiều người giàu lại quá giàu nhờ vào bàn tay hôi hám trục lợi. Đối với người nghèo, có người thực sự nghèo khó. Có người nói nghèo từ trong trứng nghèo ra. Sinh ra đã nghèo, nghèo về vật chất lẫn tinh thần. Thậm chí sinh ra đã không có chân tay. Thế mà nhờ ý chí quyết tâm họ đã vượt qua như trường hợp của Nick Vujicic.

 Trái lại, một số thích nghèo, thích liệt vào danh sách hộ nghèo để được trợ cấp. Còn biết bao trường hợp giả nghèo để quỵ lụy xin xỏ, giả nghèo để ăn xin làm giàu. Ôi thương cho một kiếp người, phải chăng môi trường xã hội hay giáo dục tạo nên họ? Vậy có mẫu gương quyền cao, chức trọng nào cho ta đáng noi theo không?

 Chỉ cần vào Google gõ Đức Giáo Hoàng Phanxicô ta có thể thấy rõ cách sống nghèo khó của ngài. Thứ đến, mẹ thánh Têrêsa thành Calcutta con người nghèo khó nhưng giàu tình cảm. Phi thường đến nỗi cả thế giới ca ngợi là Mẹ thánh. Hơn nữa, năm 1979, Mẹ Têrêsa được trao Giải Nobel Hòa bình cho: "Những hoạt động diễn ra trong sự đấu tranh vượt qua sự nghèo khó và cùng quẫn, là những điều đe dọa hòa bình." Mỗi kiếp người mỗi hoàn cảnh, hãy cố gắng vượt qua. Sống trọn giây phút hiện tại bằng khối óc và con tim nhân từ sẻ chia. 

Đừng than trách tại sao tôi sinh ra trên trần gian lại đau khổ nghèo đói rồi lại chết đi? tại sao người giàu kẻ nghèo? Câu trả lời của tôi là:  bạn hãy quan sát bàn tay của mình, hay bàn tay của người khác, có người ngón ngắn, ngón dài. Cuộc sống cũng vậy, có người giàu kẻ nghèo, người giàu phương diện này nhưng lại nghèo phương diện kia và ngược lại. Mục đích và ý nghĩa là để cạnh tranh, cố gắng và xây dựng thế giới trở nên tốt đẹp hơn. Đừng vì tham giàu mà dẫn đến chiến tranh. Đừng vì chấp nhận nghèo mà không có ý chí cố gắng phấn đấu tạo lập cuộc sống.  “Hãy học và sống nghèo mới giàu”- Bạn và tôi cùng cố gắng

Tác giả bài viết: Agape

22 thg 9, 2019

Vòng xoáy của đồng tiền & cuộc vật lộn của phận người


Bài viết & hình ảnh trong bài:
Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ.

Bạn có cảm nhận gì, khi nhìn tấm hình tang thương xuất hiện trên báo chí, trên phương tiện truyền thông trong thời gian qua: một số người ngồi bên tấm chiếu lớn. Trên chiếu là những cái xác được khăn phủ lại. Đó là một vài người thân của họ mới bị giết chết. Nước mắt tuôn tràn, khuôn mặt não nề, lòng người nát tan trong câm nín!

Lý do là gì vậy? Vì tiền, vì việc cãi cọ tranh giành phần thừa kế đất đai và tài sản giữa anh chị em ruột với nhau. Vì bất cứ lý do nào đó một bên đã bất mãn và tức giận, đến nỗi ra tay tàn ác, qua nhà người thân ruột thịt, và giết chết người thân cùng dòng máu.
Ôi vòng xoáy của đồng tiền và cuộc vật lộn bất thành của phận người!

Nhìn tấm hình tang thương đó, là người trẻ bạn sẽ nói gì cho chính bạn?
Nhìn tấm hình tang thương đó, nếu bạn là một bậc cha mẹ trẻ có con đang lớn, bạn sẽ dạy con điều gì về tiền bạc, giá trị tiền bạc và cách sử dụng tiền bạc?

Là con người ai cũng biết tiền bạc luôn là con dao hai lưỡi. Một đàng, tiền bạc giúp con người sống dồi dào và phong phú; đàng khác tiền bạc có thể điều khiển con người và gây ra biết bao nhiêu đổ vỡ và khổ đau.
Trong ca dao tục ngữ và trong văn học, người ta nói về tiền bạc như là nền tảng giúp cho con người sống hạnh phúc và sung túc, nhưng cũng nêu lên khía cạnh tiêu cực của tiền bạc: “Có tiền mua tiên cũng được, không tiền mua lược không xong”. “Tiền bạc là tên đầy tớ tốt, nhưng là ông chủ xấu”. Thật vậy, tiền bạc có sự hấp dẫn mạnh mẽ, thế lực tiềm ẩn nhưng rất nguy hiểm, nếu người ta trở nên nô lệ cho đồng tiền.

Trong Tin Mừng, Chúa Giê-su đã khuyến cáo và kêu gọi thật mạnh mẽ: Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được” (Lc 16,13)Chúa không cấm chúng ta làm ra tiền, Chúa cũng không cấm chúng ta để dành tiền của trong ngân hàng, mà Chúa nhắc nhớ Ki-tô hữu luôn chú ý không được trở nên nô lệ của tiền bạc, không để mình trở thành kẻ làm tôi của thần Mammon.
Tiền bạc và của cải là phương tiện chứ không là ông chủ. Đó là vị trí đúng đắn nhất của nó. Thật buồn cho Ki-tô hữu nào thay đổi vị trí đúng đắn của tiền bạc, nghĩa là đặt tiền bạc của cải vật chất thành trung tâm điểm của cuộc sống, thành ông chủ của chính họ.

Lời của Chúa nói như là một chân lý bất di bất dịch. Chúa cũng mời gọi Ki-tô hữu với sự tự do của mình có một quyết định đúng đắn và rõ rệt. Chọn lựa và làm tôi của Thiên Chúa, nghĩa là thuộc trọn vẹn về Thiên Chúa. Không phải rửa tội xong, người Ki-tô hữu tự động làm tôi Thiên Chúa cách trọn vẹn. Để được thuộc về Chúa cách trọn vẹn, người Ki-tô hữu cần phải trung tín với Thiên Chúa trên từng chặng đường Đức Tin, trong mỗi suy tư, trong mỗi lời nói, trong mỗi hành động và trong mỗi công việc nhỏ bé nhất. Triết gia người Đan Mạch Kierkegaard đã nói: “Ki-tô hữu luôn ở trên đường để trở nên Ki-tô hữu trọn vẹn và hoàn hảo”.

Như thế, khi đối diện với tiền bạc, người Ki-tô hữu cần chú tâm học biết trong suy nghĩ, nghĩa là không để tiền bạc “xuất hiện thường xuyên và làm chủ suy nghĩ của mình”. Nếu suốt ngày trong đầu chỉ có chữ “tiền” chi phối hoàn toàn cái đầu, thì buồn thay cho phận người đó!

Khi đối diện với tiền bạc, người Ki-tô hữu cũng cẩn trọng trong tâm hồn của mình, để tiền bạc không chiếm chỗ thượng phong, chỗ ưu tiên trong trái tim của mình, vì nếu không khéo, thì lòng tham sẽ nổi dậy và rồi từng bước tiền bạc sẽ trở nên một hấp lực lớn, đến nỗi lòng người có thể đui mù suy phục con ma tiền bạc và vật chất. Hơn nữa, người Ki-tô hữu cần ý thức tỉnh táo trước cám dỗ của tiền bạc, cũng như chỗ dựa bảo đảm và vững chắn đầy ảo tưởng hão huyền của tiền bạc hứa hẹn sẽ đưa lại.
Chúa Giê-su nói trong Tin Mừng: “Anh em phải coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam, không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu” (Lc 12,15). Lòng tham thì vô đáy. Chúa Giê-su biết rõ tâm trạng và lòng người mềm yếu dễ đi theo khuynh hướng “tham lam”, “gom góp” và “tích trữ”. Tham lam là một trong bảy mối tội đầu. Có nhiều kiểu tham và trong đó nổi bật là kiểu tham lam tiền bạc vật chất. Đi đôi với tham lam là keo kiệt, hà tiện và bủn xỉn. Đó là cách sống ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân và không bao giờ muốn chia sẻ với người khác. Người tham lam luôn muốn xây dựng cho mình một kho tàng kếch sù, luôn muốn sống trong nhung lụa giàu sang dư giả và an toàn với “kho lẫm” đã được tích trữ.
“Không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu”. Đây chính là lời cảnh báo rõ rệt của Chúa Giê-su. Sự bảo đảm cho cuộc sống ai cũng muốn. Nhưng đâu là chỗ để chúng ta có thể dựa vào, để chúng ta có thể tìm sự bảo đảm và an toàn? Kinh nghiệm cuộc đời của nhiều người dư giả mà đời thường gọi là “đại gia” đã cho chúng ta thấy rõ. Họ đâu tìm thấy được sự bảo đảm đích thật cho cuộc sống nơi vật chất và tiền bạc, và tiền bạc cũng chẳng thực sự đưa lại hạnh phúc và bình an trọn hảo cho họ.
Hơn nữa, cuộc đời đã đưa tin biết bao gia đình đại gia không thể giáo dục con cái, những đứa con được kêu là “thiếu gia”. Gia tài kếch sù dư giả kế bên, nhưng nhìn con cái là “thiếu gia” xì ke ma tuý, ăn chơi trác táng không chịu học hành, chẳng màng lo lắng sự nghiệp và bản thân. Một bức tranh thật tương phản trong xã hội: đời sống “đại gia” sung túc và dư giả, nhưng “thiếu gia” trong nhà thì hư đốn. Thử hỏi đó có là hạnh phúc thực cho những người phú hộ thời đại hay không? Coi chừng những người con được gọi là thiếu gia của những đại gia trở thành những kẻ thiếu gia đình.
Hơn nữa, giá trị của con người không nằm ở giá trị của những gì người ấy sở hữu, nhưng ở chỗ người ấy là ai và sống như thế nào. Con người không được đánh giá bằng những gì người ấy có trong tài khoản ngân hàng, nhưng bằng giá trị của trái tim, cuộc sống, các hành vi, các quan hệ với các người thân và với những người đồng loại của mình. Với người Ki-tô hữu, giá trị thật của con người, chính là biết mình được tạo dựng, biết mình là con cái của Thiên Chúa và ý thức tập sống đúng theo tinh thần Chúa dạy.
Thật vậy, ý nghĩa và giá trị cuộc sống không nằm trong việc người ta có nhiều tiền bạc của cải đến nỗi dư giả, mà nằm trong tinh thần sống tốt lành của người con cái tự do của Thiên Chúa, những người con sống theo ánh sáng của Tin Mừng.
Đi sâu hơn nữa, Chúa Giê-su còn đưa hình ảnh của một người phú hộ giàu có (đại gia) đã dựa vào tiền bạc, của cải vật chất để sống trong an toàn và nhàn hạ. Luca diễn tả về người này như sau: Rồi ông ta tự bảo: Mình sẽ làm thế này: phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!” (Lc 12,18-19). Theo lẽ thường tình, thì đại gia này làm rất ok và mọi người thấy chắc là sẽ khen ông ta khôn ngoan, biết hưởng thụ ở hiện tại và biết lo xa cho tương lai.
Nhưng truyện đâu có kết thúc ở “cái đầu khôn ngoan” của con người giàu có. Dụ ngôn kể tiếp với lời của chính Chúa nói với “đại gia” tự cho mình là khôn ngoan: “Đồ ngốc! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai? Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế” (Lc 12,20-21). Trong dụ ngôn, chúng ta thấy tên của đại gia, của người phú hộ không được nhắc đến. Hay ông ta không có tên? Cha Piere Cardon nói rằng: Người giàu không có tên! Thực chất dụ ngôn nói về một người đã mất linh hồn và tên của mình. Trong Tân Ước những người giàu có xấu xa không có tên. Đó hầu như chỉ là biểu tượng; người giàu có gắn bó với của cải vật chất của mình đến nỗi chính mình trở thành một đồ vật; người ấy đã mất nhân cách của mình. Ôi buồn thay, đại gia không tên!
Nhưng dù đại gia không có tên, nhưng Thiên Chúa vẫn tìm đến được nơi ông ta sống và “đòi lại mạng” của ông ta, ngay trong đêm “đại gia” tưởng rằng an toàn thư thái hưởng thụ cuộc đời. Lời Thiên Chúa đưa ra một sứ điệp rất mạnh mẽ và mang tính cảnh báo. Lời Thiên Chúa phán ra ngay giữa các kế hoạch và chương trình của con người đặt ra cho bản thân. Phải chăng con người không có được sức mạnh cuối cùng của cuộc sống? Con người sẽ điên rồ, khi nghĩ rằng cuộc sống của mình được bảo đảm bởi tiền bạc và bởi những gì mình sở hữu?
Lời của Thiên Chúa là chân lý. Nhìn vào cuộc sống thực tế, có biết bao nhiêu người giàu sụ đã phải lìa đời, ngay trong những lúc họ đang đứng trên đỉnh cao của thành công danh vọng. Có những người cả đời vất vả làm ăn chỉ để kiếm tiền, mà quên đi mọi thứ quan trọng khác, và chỉ một đêm khuya thanh vắng, đã phải ra đi mà không để lại một lời trăn trối nào cả.
Ôi vòng xoáy của đồng tiền và cuộc vật lộn bất thành của phận người!
Trong Cựu Ước, Gióp đã diễn tả tâm tình của ông:
“Phải chăng tôi lấy vàng làm bảo đảm
và nói với vàng ròng: ‘Ngươi là chốn an toàn của ta!’
Phải chăng tôi mừng vui vì có nhiều của cải,
vì tài sản do tay tôi làm ra?
Phải chăng tôi thấy ánh mặt trời rực rỡ
và vầng trăng lộng lẫy huy hoàng
mà lặng lẽ để cho lòng bị lôi cuốn
và đưa tay lên miệng mà hôn?
Nếu thế thì đó cũng là tội ác đáng trừng phạt,
vì tôi đã dám chối bỏ Thiên Chúa, Đấng ngự chốn trời cao” (Sách Gióp 31,24-28).

Thật là ngốc nghếch và sai lầm và đó cũng là một mối hoạ cho đời người, khi chỉ biết cắm đầu kiếm cho thật nhiều tiền, mà không đưa Thiên Chúa vào trong chương trình sống của mình. Người giàu có quên rằng họ không thể mua được những giá trị đích thật như sự sống, tình yêu, tình bạn, gia đình bằng tiền bạc và của cải. Họ cũng không nghĩ rằng, Thiên Chúa có thể can thiệp vào cuộc đời họ; Thiên Chúa có thể gõ cửa cuộc đời họ bất cứ lúc nào, dù họ có ở trong bất cứ “Hotel năm sao thật an toàn” nào đi nữa. Của cải vật chất tích trữ trong kho thật lớn kia, người giàu có đưa theo được không? Nằm trong nghĩa trang với một ngôi mộ trát vàng và mạ bạc có làm cho người chết được sung sướng không, hay đó chỉ là một kiểu “làm oai” của những người đang sống?
Ôi vòng xoáy của đồng tiền và cuộc vật lộn bất thành của phận người!

Thánh Vịnh gia cũng nhắc nhớ những người giàu có ham mê tiền bạc vật chất, với những lời rất thâm thuý về sự hư vô của cuộc đời. Dù giàu hay nghèo, thì đều giống nhau bởi “cái chết”. Nói khác đi, “cái chết” làm cho mọi người đều như nhau, đều giống nhau cả. Dù giàu hay nghèo, dù giỏi hay dốt, dù quyền lực hay hạng tầm thường, tất cả đều phải chết. Thật vậy, dù giàu có và tưởng rằng bám vào tiền bạc sẽ an toàn, thì những người mê thần tiền bạc vẫn phải rời bỏ “chốn” nhà lầu cao sang và chiếc xe hơi bóng loáng đời mới, để “dọn vào” ngôi nhà muôn thuở. Đó là ba tấc đất, vì ba tấc đất mới thật là nhà, nơi họ ở muôn đời muôn kiếp.
Chúng ta đọc lại lời Thánh Vịnh tràn đầy hương vị khôn ngoan sâu sắc, và cả hương vị cảnh báo thật thấm thía dưới đây dành cho những ai “thích tiền” và đui mù thờ “thần tiền bạc”:
“Chúng cậy vào của cải,
lại vênh vang bởi lắm bạc tiền.
Nhưng nào có ai tự chuộc nổi mình
và trả được giá thục hồi cho Thiên Chúa?
Mạng người dù giá cao mấy nữa,
thì rồi ra cũng chấm dứt đời đời.
Nào phàm nhân sống mãi được sao
mà chẳng phải đến ngày tận số?
Kìa thiên hạ thấy người khôn cũng chết,
kẻ ngu đần dại dột cũng tiêu vong,
bỏ lại tài sản mình cho người khác.
Tuy họ lấy tên mình mà đặt cho miền này xứ nọ,
nhưng ba tấc đất mới thật là nhà,
nơi họ ở muôn đời muôn kiếp.
Dù sống trong danh vọng,
con người cũng không thể trường tồn;
thật nó chẳng khác chi
con vật một ngày kia phải chết” (Tv 49,7-13).

Thật vậy, dù giàu cỡ mấy và sở hữu biết bao tài sản vật chất, thì cũng phải trở về với tay không. Thánh Phaolô viết trong Thư thứ nhất gửi cho Timôtê: “Cái gì chúng ta đem vào thế giới này? Chẳng có gì. Cái gì chúng ta đem ra khỏi thế giới này? Cũng chẳng có gì!” (1Tm 6,7). Như thế, khoảnh khắc được vào đời và khoảnh khắc phải lìa đời “thắm thiết ôm nhau” trong vòng tay của chữ KHÔNG. Chẳng có kho tàng nào của tiền bạc và vật chất có thể “đưa tang” và “đồng hành” với người có của, với đại gia của cuộc đời bước vào cõi chết cả. Vì thế, thật quan trọng và khẩn thiết, để cập nhật hoá và update lại giá trị cuộc sống và kho tàng đời người.
Chúa Giê-su nói: “Vì kho tàng của anh ở đâu, thì lòng anh ở đó” (Mt 6,21). Thật vậy, nếu kho tàng của đời người là “tiếng kêu không dứt của những đồng tiền cắc kêu to”, nếu kho tàng của đời người là những “tấm thẻ Vip Credit vàng đỏ đen lẫn lộn”, nếu kho tàng đời người là những hàng số càng dài càng tốt trong tài khoản ngân hàng, thì rồi đến một lúc nào đó mọi sự khác sẽ trở thành thứ yếu. Cha Mẹ ư, Vợ con hả? anh chị em ruột thịt sao? Bạn bè à? Tất cả tương quan với những người ruột thịt và cùng dòng máu, cũng như với những bạn bè tri kỷ đều được đưa vào bàn cân với nhãn hiệu rất kêu “MM – MORE MONEY – Thêm Tiền – TT”. Nếu sống theo kiểu “MM – TT” này, nghĩa là trở thành nô lệ của tiền bạc, thì có thể biết bao đau thương sẽ xảy ra, như trường hợp tấm hình với chiếc chiếu cùng cảnh tang thương đã được diễn tả lúc đầu.
Vì thế, có câu trong dòng đời:
 “Còn tiền, còn bạc, còn đệ tử,
Hết cơm, hết gạo, hết ông tôi”.
Ôi buồn thay cho phận người với 24 tiếng đồng hồ mỗi ngày chỉ xoanh quanh chữ tiền, đến nỗi chẳng còn tình nghĩa, chẳng còn nhân phẩm, chẳng còn lòng nhân hậu và xót thương.
Ôi vòng xoáy của đồng tiền và cuộc vật lộn bất thành của phận người!

Vì thế, khi đối diện với tiền bạc, Chúa Giê-su nhắc nhớ người Ki-tô hữu ý thức biết cách dùng tiền bạc vật chất cho đúng đắn, nghĩa là không chỉ không phí phạm tiền bạc, cũng như không keo kiệt bủn xỉn, mà còn cẩn trọng không để bản thân mình rơi vào cái túi không đáy là lòng tham vô biên giới, lòng tham không hồi kết. Hơn hết, người con cái của Chúa cần phải luôn có tâm hồn quảng đại, suy nghĩ thanh thoát tự do với tiền bạc của cải, cũng như sẵn sàng trong vui mừng, để dùng tiền bạc giúp cho người nghèo, người bất hạnh. “Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không khoét vách lấy đi” (Mt 6,19-20).

Tích trữ kho tàng trên trời là gì vậy? Câu truyện thi vị dưới đây cho chúng ta một bài học sâu sắc và giúp cho chúng ta trả lời cho câu hỏi trên:
“Truyện kể rằng người kia có 3 người bạn. Hai người trước là bạn rất thân, người thứ ba quen thường thường vậy thôi. Ngày kia ông bị tòa bắt xử, liền xin 3 người bạn đi theo để biện hộ.

Người bạn thứ nhất từ chối ngay, viện cớ bận việc quá không đi được.
Người thứ hai bằng lòng đi đến cửa quan, nhưng lại không dám vào.
Chỉ có người thứ ba tuy không quen thân với ông, nhưng vẫn tỏ ra trung thành và tốt bụng, vào tận tòa án biện hộ cho ông ta không những trắng án mà còn được thưởng nữa.

Người bạn thứ nhất là Tiền bạc.
Khi ta chết, tiền bạc bỏ rơi ta, chỉ để lại cho ta một chiếc chiếu và một cái hòm.
Người bạn thứ hai là Gia Đình, Bà Con Bạn Hữu.
Họ khóc lóc đưa ta tới huyệt rồi về.
Người bạn thứ ba là các Việc Lành Phúc Đức.
Chúng theo ta đến tòa phán xét và đưa ta vào cửa thiên đàng”.

Qua câu truyện trên và qua lời nhắc nhớ của Chúa Giê-su, chúng ta thấy việc tích trữ kho tàng trên trời chính là các Việc Lành Phúc Đức, là các việc bác ái và thương xót, mà Chúa Ki-tô luôn mời gọi người Ki-tô hữu biết ý thức thực thi.
“Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế đó” (Lc 12,21).
Nhưng làm giàu trước mặt Thiên Chúa là gì? Rất cụ thể. Đó là ra khỏi cái vòng tròn quỷ quyệt của tiền bạc và lấy lại thế đứng của mình, đó là người làm chủ tốt lành của tiền bạc, và cuối cùng dùng tiền bạc để giúp người nghèo, để bố thí cho người túng thiếu. Không lỗ đâu, đừng sợ. Lời Chúa Giê-su nói: “Hãy bán tài sản của mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời, nơi kẻ trộm không bén mảng, mối mọt không đục phá” (Lc 12,33).

Thánh Phao-lô nhắc lại tâm tình của Chúa Giê-su, trong sự kiện thánh nhân nói với các kỳ mục thuộc giáo đoàn Ê-phê-sô, và được viết trong sách Tông Đồ Công Vụ: “Vàng bạc hay quần áo của bất cứ ai, tôi đã chẳng ham. Chính anh em biết rõ: những gì cần thiết cho tôi và cho những người sống với tôi, đôi tay này đã tự cung cấp. Tôi luôn tỏ cho anh em thấy rằng phải giúp đỡ những người đau yếu, bằng cách làm lụng vất vả như thế, và phải nhớ lại lời Chúa Giê-su đã dạy: cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,33-35).

Thánh Phaolô còn viết cho Timôthê: “Những người giàu, anh hãy truyền cho họ đừng tự cao tự đại, đừng đặt hy vọng vào của cải phù vân, nhưng vào Thiên Chúa, Đấng cung cấp dồi dào mọi sự cho chúng ta hưởng dùng. Họ phải làm việc thiện và trở nên giàu có về các việc tốt lành, phải ăn ở rộng rãi, sẵn sàng chia sẻ” (1Tm 6,17-18).

Sách Châm Ngôn cũng dạy: “Thương xót kẻ khó nghèo là cho Đức Chúa vay mượn, Người sẽ đáp trả xứng đáng việc đã làm” (Cn 19,17).

Làm giàu trước mặt Thiên Chúa cũng chính là đời sống kính sợ Thiên Chúa, chọn Chúa là chủ đời mình. Thật vậy, kính sợ Thiên Chúa chính là sự khôn ngoan nhất của đời người.

Cyril thành Alexandria nói rằng: “Trở nên giàu có trước mặt Thiên Chúa là để yêu thương các nhân đức thay vì sự giàu sang, cũng như làm giàu trước mặt Thiên Chúa là tin tưởng rằng Thiên Chúa là Đấng ban phát mọi ơn lành, cả sự sống lẫn ơn cứu độ”.
Còn triết gia Kierkegaard, người Đan Mạch nói rằng: “Không chọn Chúa, bạn sẽ đánh mất tất cả”.

Cuối cùng, qua bức tranh tang thương với chiếc chiếu được diễn tả lúc đầu, và qua lời dạy bảo của Chúa Giê-su, chúng ta xin Chúa cho chúng học biết “vật lộn thành công với vòng xoáy của tiền bạc”, cụ thể qua việc chọn Thiên Chúa, chứ không chọn tiền bạc là kho tàng đời mình. Làm tôi Thiên Chúa, chứ không đui mù làm nô lệ cho tiền bạc.

Khi Thiên Chúa là kho tàng đời mình, khi Thiên Chúa là chủ đời mình, nghĩa là chúng ta thờ lạy Thiên Chúa trên hết, và hằng tuân giữ các huấn lệnh của Người. Đó là biết sống dựa trên tinh thần nền tảng là tình yêu và thương xót.

Để cuối đời, khi trở về với Chúa, các Việc Lành Phúc Đức và các hành động của lòng thương xót sẽ là “người bào chữa” tích cực và tuyệt vời nhất của chúng ta. Thật vậy, như các vị thánh hiền đã nói: “Thiên Chúa xét xử chúng ta dựa trên lòng thương xót của chúng ta dành cho nhau”.


Lạy Chúa, xin cho Lời Chúa là ánh sáng sưởi ấm và chiếu soi đường đời chúng con,
Xin cho mỗi người chúng con không đui mù chọn tiền bạc là kho tàng của đời mình,
Xin giúp chúng con luôn ý thức chọn Chúa, Đấng Tạo Dựng, Đấng yêu thương, là kho tàng lớn nhất và quan trọng nhất, là Người Chủ trên hết trong cuộc sống trên dương thế này của chúng con.
Và xin giúp chúng con khôn ngoan “bán tài sản của mình đi mà bố thí”. Như thế chúng con “sắm được những túi tiền không hề cũ rách, một kho tàng không thể hao hụt ở trên trời” do chính Chúa thương ban. Amen.