Hiển thị các bài đăng có nhãn Mùa Thường Niên. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Mùa Thường Niên. Hiển thị tất cả bài đăng

19 thg 3, 2015

LỄ THÁNH GIUSE


Lễ Thánh Giuse

Tin Mừng Mt 1,16.18-21.24a
     
Ông Gia-cóp sinh ông Giu-se, chồng của bà Ma-ri-a, bà là mẹ Đức Giê-su cũng gọi là Đấng Ki-tô… Sau đây là gốc tích Đức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: “Này ông Giu-se, là con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ.”… Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy.


Solemnity of Saint Joseph, Spouse of the Blessed Virgin Mary

Gospel  Mt 1,16.18-21.24a

Jacob was the father of Joseph, the husband of Mary.
Of her was born Jesus who is called the Christ.

Now this is how the birth of Jesus Christ came about.
When his mother Mary was betrothed to Joseph,
but before they lived together,
she was found with child through the Holy Spirit.
Joseph her husband, since he was a righteous man,
yet unwilling to expose her to shame,
decided to divorce her quietly.
Such was his intention when, behold,
the angel of the Lord appeared to him in a dream and said,
“Joseph, son of David,
do not be afraid to take Mary your wife into your home.
For it is through the Holy Spirit
that this child has been conceived in her.
She will bear a son and you are to name him Jesus,
because he will save his people from their sins.”
When Joseph awoke,
he did as the angel of the Lord had commanded him
and took his wife into his home.

29 thg 11, 2014

Phải đề phòng (29.11.2014 – Thứ bảy Tuần 34 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 21, 34-36

Khi ấy, Ðức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo Ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em, vì Ngày ấy sẽ ập xuống trên mọi dân cư khắp mặt đất. Vậy anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đử sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người.”

Suy nim:

Tháng 9-2009, Tổng Thống Nga Medvedev
gọi nạn nghiện rượu là quốc nạn.
Mỗi năm tính bình quân mỗi người dân uống khoảng 18 lít,
gấp đôi lượng rượu được coi là nguy hiểm cho sức khỏe.
Nửa số người Nga chết giữa khoảng 15-54 tuổi là do hậu quả của rượu.
Trẻ em và phụ nữ cũng nghiện.
Tuổi thọ trung bình của đàn ông chỉ còn là 59.
Vì nhiều người chết nên dân số Nga sụt giảm mỗi năm.
Làm gì để cai nghiện cho hơn hai triệu người Nga,
đó là chuyện nhức đầu cho các nhà lãnh đạo.
Nhưng tại sao người ta lại bị nặng nề bởi rượu Vodka?

Bài Tin Mừng hôm nay nhắc chúng ta
về những thứ nặng nề đè trên trái tim người Kitô hữu.
Trong khi chờ đợi Chúa đến vào thời điểm không đoán trước được,
chúng ta có thể bị vướng vào những thú vui buông thả.
Sống bừa bãi, phóng túng, nhậu nhẹt, say sưa,
đó vẫn là cám dỗ muôn thuở của thân xác.
Chỉ cần đi một vòng thành phố hay các vùng quê vào ban đêm,
chúng ta thấy ngay cả một thế giới của ăn uống, hưởng thụ.
Nhưng trái tim con người còn có thể trở nên nặng nề
bởi những lo âu trần thế (x. Lc 8, 14).
Làm sao nhà cửa có thêm tiện nghi? làm sao thêm lương và lên chức?
Những nỗi lo toan về cuộc sống vật chất vắt kiệt con người,
khiến con người không còn khả năng mở ra trước Chúa và tha nhân.
Con người giàu lên, nhưng lại thấy mình bất hạnh và gia đình đổ vỡ.
Mỗi năm ba mươi ngàn người chết vì tự tử ở Nhật.
Trái tim nặng nề nên nhiều người mắc bệnh tim mạch.
Trái tim bị kéo xuống cái thực dụng tầm thường ở trên mặt đất,
nên con người bị còng xuống, không ngước lên được điều trên cao.

Ngày Chúa đến như một bất ngờ, như một cái bẫy sập xuống,
không phải chỉ trên người Do Thái,
nhưng trên mọi dân cư ở khắp mặt địa cầu (c. 35).
Cả thế giới phải chịu phán xét chẳng trừ ai.
Bởi đó thái độ cần có mỗi ngày của người môn đệ
là luôn luôn thức tỉnh và cầu nguyện,
để có sức mà thoát khỏi mọi điều sắp xảy ra (c. 36).
Để chuẩn bị cho cái chung cục, thì phải sống đều đặn cái hàng ngày.
Làm sao để khi Con Người là Đức Giêsu trở lại trên mây trời,
Ngài thấy chúng ta đang ở tư thế đứng thẳng,
không phải xấu hổ cúi đầu, không bị ràng buộc bởi đam mê,
nhưng vui sướng vì mình đã không uổng công chờ đợi.

Có những lo âu vẫn chi phối tôi làm tôi nặng lòng.
Có những mê đắm kéo ghì tôi xuống và bắt tôi làm nô lệ.
Mùa Vọng sắp đến mời tôi tỉnh thức và cầu nguyện, để đứng lên.

Cầu nguyn:

Lạy Chúa Giêsu,
nếu ngày mai Chúa quang lâm,
chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng.

Thế giới này còn bao điều khiếm khuyết, dở dang,
còn bao điều nằm ngoài vòng tay của Chúa.
Chúa đâu muốn đến để hủy diệt,
Chúa đâu muốn mất một người nào…

Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa
xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng,
vui tươi và hạnh phúc,
để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn
cho mọi người và cho cả vũ trụ.

Xin nuôi dưỡng nơi chúng con
niềm tin vững vàng
và niềm hy vọng nồng cháy,
để tất cả những gì chúng con làm
đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

27 thg 11, 2014

Xem cây vả (28.11.2014 – Thứ Sáu Tuần 34 Thường niên)

 

Lời Chúa: Lc 21, 29-33  

Khi ấy, 29 Đức Giê-su kể cho các môn đệ nghe một dụ ngôn: “Anh em hãy xem cây vả cũng như tất cả những cây khác.30 Khi cây đâm chồi, anh em nhìn thì đủ biết là mùa hè đã đến gần rồi.31 Anh em cũng vậy, khi thấy những điều đó xảy ra, thì hãy biết là Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần.32 Thầy bảo thật anh em: thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra.33 Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu.

Suy nim: 

Cây vả là một cây rất thường thấy ở xứ Paléttin.
Khi nó đâm chồi, người ta biết ngay đã vào mùa hè.
Rồi thì nó sẽ ra hoa và kết trái.
Không phải chỉ có cây vả, mọi cây khác cũng vậy (c.29).
Cứ nhìn tình trạng hiện tại của cây, ta biết được điều gì sắp xảy đến.
Nước Thiên Chúa cũng vậy.
Trước khi Nước Thiên Chúa đến sẽ có những dấu hiệu
ở trên trời, dưới đất hay ngoài biển khơi.
Đức Giêsu đã nhắc cho ta về những dấu hiệu đó (Lc 21, 11. 25-26).

Khi bắt đầu đi rao giảng cách đây hai ngàn năm,
Đức Giêsu tuyên bố: Nước Thiên Chúa đã đến gần (Mc 1, 15).
Và Nước ấy đã được khai mạc với chính con người Đức Giêsu.
Lời nói và việc làm của Ngài đã mở ra Nước ấy trên mặt đất.
Như hạt giống, Nước ấy đã không ngừng lớn lên cả ngày lẫn đêm,
đã ảnh hưởng mạnh mẽ như nhúm men trong đống bột,
và đã phải chịu sự tấn công của kẻ thù gieo cỏ lùng vào giữa lúa.
Với sự phục sinh của Đức Giêsu, Nước ấy chắc chắn sẽ đến.
Chắc chắn Nước Thiên Chúa sẽ đến trong vinh quang,
dù chúng ta không biết rõ khi nào, tuy sẽ có những điềm báo trước.
Ngày Nước Thiên Chúa đến cách huy hoàng trên trái đất
sẽ là ngày tận thế, ngày Đức Giêsu trở lại để phán xét mọi người.

Kitô hữu là người tin vào lời Đức Giêsu.
“Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua” (c. 33).
Chúng ta chờ đợi, vì chúng ta tin Đức Giêsu sẽ trở lại.
Sau hai ngàn năm chờ đợi và nỗ lực dựng xây,
ngày Đức Giêsu quang lâm đã gần hơn nhiều.
Biết đâu câu nói sau của Đức Giêsu
lại chẳng ứng nghiệm cho chính thế hệ chúng ta:
“Thế hệ này sẽ chẳng qua đi, trước khi mọi điều ấy xảy ra.” (c. 32).
Không được để mình nguội lạnh và mất đi thái độ chờ đợi.
Không được để chiến thắng tạm thời của sự dữ ở đâu đó
khiến chúng ta mất đi lòng tin,
và những bách hại khiến ta mất đi lòng kiên trì cần thiết (Lc 21, 19).

Nước Thiên Chúa vẫn đến gần hơn mỗi ngày.
Không thiếu dấu chỉ để nhận ra Nước Thiên Chúa đang đến.
Chúng ta phải thấy có biết bao dấu chỉ tích cực, đầy hy vọng,
ngay giữa những khi tưởng như Nước ấy bị xóa sổ, loại trừ.
Đừng để mình rơi vào thái độ bi quan, khoanh tay vì chán nản.
Phải làm sao để ngày tận thế không phải là một ngày buồn,
ngày của những đổ vỡ và mất mát chia ly.
Phải làm sao để ngày ấy là ngày lịch sử nhân loại mở sang trang mới.
Đức Giêsu xuất hiện như Điểm Ômêga, Điểm đến của cả vũ trụ.
Con người và cả vũ trụ đều được hưởng ơn cứu chuộc (Rm 8, 19-23),
và Thiên Chúa Cha được tôn vinh.

Cầu nguyn:

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã yêu trái đất này,
và đã sống trọn phận người ở đó.
Chúa đã nếm biết
nỗi khổ đau và hạnh phúc,
sự bi đát và cao cả của phận người.

Xin dạy chúng con biết đường lên trời,
nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.
Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu,
chúng con thấy mình được thêm sức mạnh
để xây dựng trái đất này,
và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.

Lạy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa,
xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời
không làm chúng con quên trời cao;
và những vẻ đẹp của trần gian
không ngăn bước chân con tiến về bên Chúa.
Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con,
mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

26 thg 11, 2014

Sắp được cứu chuộc (27.11.2014 – Thứ năm Tuần 34 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 21, 20-28
20 “Khi anh em thấy thành Giê-ru-sa-lem bị các đạo binh vây hãm, bấy giờ anh em hãy biết rằng đã gần đến ngày khốc hại của thành.21 Bấy giờ, ai ở miền Giu-đê, hãy trốn lên núi; ai ở trong thành, hãy bỏ đi nơi khác; ai ở vùng quê, thì chớ vào thành.22Thật vậy, đó sẽ là những ngày báo oán, ngày mà tất cả những gì đã chép trong Kinh Thánh sẽ được ứng nghiệm. 23 Khốn thay những người mang thai và những người đang cho con bú trong những ngày đó! “Vì sẽ có cơn khốn khổ cùng cực trên đất này, và cơn thịnh nộ sẽ giáng xuống dân này. 24 Họ sẽ ngã gục dưới lưỡi gươm, sẽ bị đày đi khắp các dân các nước, và Giê-ru-sa-lem sẽ bị dân ngoại giày xéo, cho đến khi mãn thời của dân ngoại. 25 “Sẽ có những điềm lạ trên mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Dưới đất, muôn dân sẽ lo lắng hoang mang trước cảnh biển gào sóng thét.26 Người ta sợ đến hồn xiêu phách lạc, chờ những gì sắp giáng xuống địa cầu, vì các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển.27 Bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến.28 Khi những biến cố ấy bắt đầu xảy ra, anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên, vì anh em sắp được cứu chuộc.”
Suy nim:
Theo Josephus, một sử gia người Do Thái đáng tin cậy, 
bốn quân đoàn của vị tướng Rôma là Titus 
đã vây hãm thành phố Giêrusalem vào lễ Vượt Qua năm 70, 
khiến người dân trong thành rơi vào cảnh đói khát cùng cực. 
Ông kể chuyện một phụ nữ quê ở Pêrêa vì quá đói 
đã túm lấy đứa con còn thơ dại, giết con và nướng để ăn. 
Cũng theo sử gia này, quân Rôma đã dùng gươm 
để giết hơn một triệu người ở Giêrusalem và Giuđê. 
Những người Do Thái bị bắt làm tù binh là gần một trăm ngàn.
Ai có thể tưởng được điều khủng khiếp như vậy đã xảy ra 
chỉ bốn mươi năm, sau khi Đức Giêsu nói những lời tiên báo. 
Giêrusalem là thành trì vững chắc, nơi trú ẩn an toàn, 
bây giờ lại là nơi nguy hiểm, cần phải tránh xa (c. 21). 
Tai họa ập xuống trên phụ nữ mang thai và cho con bú (c. 23). 
trên cả tội nhân lẫn trẻ thơ vô tội. 
Thành đô đã bị bao vây, bị thiêu rụi, bị quân Rôma giày xéo. 
Dân thành bị ngã gục, bị đi đày, phải tản mác khắp nơi.
Sự sụp đổ của thành đô đã là một biến cố trên đất Ítraen. 
Nhưng trước khi Đức Giêsu ngự đến trên mây trời 
như Con Người đầy quyền năng và vinh hiển (c. 27), 
sẽ có những dấu lạ đáng sợ khác trên bầu trời và ngoài biển cả (c. 25). 
Thánh Máccô nói đến hiện tượng mặt trời, mặt trăng mất sáng, 
và các vì sao sa xuống từ trời (Mc 13, 24-25). 
Thánh Luca nói đến cảnh biển gào, sóng thét. 
Những điều đó làm muôn dân hoang mang, hồn xiêu phách lạc, 
nhưng không làm các môn đệ hoảng hốt, âu lo. 
Ngược lại họ mừng vui vì Đấng họ chờ đợi từ lâu nay đã đến. 
“Anh em hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên” (c. 28). 
Đứng thẳng để đón Đấng mà họ đã suốt đời thắp đèn chờ đợi. 
Ngẩng đầu để mừng giây phút ơn cứu chuộc đã đến gần. 
Chỉ khi Đức Giêsu phục sinh trở lại như Đấng xét xử quyền năng, 
Ngài mới trọn vẹn hoàn thành Nước Thiên Chúa trên mặt đất.
Vào cuối năm phụng vụ, Lời Chúa nói với chúng ta về ngày tận thế. 
Đó là ngày vừa đáng sợ, vừa chan chứa niềm vui, 
ngày được gặp mặt Đấng chúng ta đã tin tưởng, mến yêu và hy vọng. 
Người ta vẫn hay đoán già đoán non về ngày tận thế. 
Nhiều người tưởng là năm 2000, gần đây có người lại nói là 2012. 
Điều quan trọng là làm sao tôi có thể đứng thẳng, ngẩng đầu khi Ngài đến, 
làm sao nhân loại trên trái đất này sẵn sàng ra nghênh đón Ngài 
như đón Đấng Cứu Tinh mà họ nóng lòng chờ đợi. 
Nếu ngày mai Ngài đến với cả thế giới hay đến với riêng mình tôi, 
tôi có sẵn sàng chưa hay còn bị còng lưng, cúi đầu vì bao gánh nặng? 
Mỗi người đều có ngày tận thế của mình. |
Xin cho tôi được bình an khi ngày ấy đến mà không có điềm lạ nào báo trước.
Cầu nguyn:
Lạy Chúa Giêsu,
nếu ngày mai Chúa quang lâm,
chắc chúng con sẽ vô cùng lúng túng.
Thế giới này còn bao điều khiếm khuyết, dở dang,
còn bao điều nằm ngoài vòng tay của Chúa.
Chúa đâu muốn đến để hủy diệt,
Chúa đâu muốn mất một người nào…
Xin cho chúng con biết cộng tác với Chúa
xây dựng một thế giới yêu thương và công bằng,
vui tươi và hạnh phúc,
để ngày Chúa đến thực là một ngày vui trọn vẹn
cho mọi người và cho cả vũ trụ.
Xin nuôi dưỡng nơi chúng con
niềm tin vững vàng
và niềm hy vọng nồng cháy,
để tất cả những gì chúng con làm
đều nhằm chuẩn bị cho ngày Chúa trở lại.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Một sợi tóc (26.11.2014 – Thứ tư Tuần 34 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 21, 12-19

Khi ấy, Đức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính ta đây”, và: “Thời kỳ đã đến gần”; anh em chớ có theo họ. Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn lạc, thì đừng sợ hãi. Vì những việc đó phải xảy ra trước, nhưng chưa phải là chung cục ngay đâu.” Rồi Người nói tiếp: “Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có những trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ có ôn dịch và đói kém; sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện. Nhưng trước khi tất cả các sự ấy xảy ra, thì người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp cho các hội đường và nhà tù, và điệu đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. Ðó sẽ là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy. Vậy anh em hãy ghi lòng tạc dạ điều này, là anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thủ của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được. Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng dù một sợi tóc trên đầu anh em cũng không bị mất đâu. Có kiên trì, anh em mới giữ được mạng sống mình.”

Suy nim:

Lúc trời còn tối, ngày 16 tháng 11 năm 1989, tại nước El Salvador, một nhóm người có vũ trang đã xâm nhập vào Đại Học Trung Mỹ. Chúng đã giết sáu linh mục Dòng Tên và hai mẹ con người nấu ăn. Giết xong chúng đã kéo xác ra ngoài vườn và làm những trò man rợ. Các linh mục này đều là những nhà trí thức, có ảnh hưởng trong xã hội. Họ muốn nói lên tiếng nói của người nghèo, chịu cảnh bất công, muốn chấm dứt cuộc nội chiến kéo dài khiến hơn 70 ngàn người chết. Họ đã phải trả giá bằng vụ thảm sát bất ngờ, đã chết như những chứng nhân, những vị tử đạo thời mới. Chuyện ấy đã xảy ra cách đây hai mươi năm rồi.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu nói về những cuộc bách hại xảy ra trước khi Ngài trở lại trong ngày tận thế. Các môn đệ sẽ phải chịu những gì Thầy mình đã chịu. Họ sẽ bị bắt, bị ngược đãi, bị tù đày, bị đem ra tòa đạo, tòa đời (c. 12). Họ sẽ bị nộp bởi chính người thân, bị mọi người thù ghét, và thậm chí bị giết hại (cc. 16.17). Tất cả những gì các môn đệ phải chịu đều là vì danh Thầy (cc. 12. 17).

Chính tình yêu trung tín đối với Thầy và giáo huấn của Thầy đã khiến bao Kitô hữu tự nguyện đón nhận khổ đau và cái chết. Không phải chỉ chối Thầy cách công khai mới mang tội bất trung. Không phải chỉ bước qua thập giá mới là phản bội. Bất cứ khi nào chúng ta bước qua những giá trị ngàn đời của Kitô giáo, như sự thật, sự sống, công bằng, bác ái, nhân phẩm, tự do, lương tâm, khi ấy chúng ta chối bỏ Đức Kitô Giêsu. Bất cứ khi nào chúng ta dám xả thân để sống cho những giá trị đó, chúng ta đã làm chứng cho Ngài rồi. Gioan Tẩy Giả đã chết vì nói sự thật mất lòng với Hêrôđê. Maria Goretti đã chết vì muốn sống trong sạch. Maximilien Kônbê đã xin chết thay cho người khác vì lòng bác ái. Tất cả đều được Giáo Hội tôn kính như những vị tử đạo, dù họ không chết vì tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu.

Đối với Đức Giêsu, giây phút đứng trước tòa là giây phút quan trọng. Người môn đệ có cơ hội công khai làm chứng cho Thầy (c. 13). Đức Giêsu không để họ một mình đối diện với sức mạnh của quyền uy. Ngài hứa sẽ giúp họ trả lời những cáo buộc của tòa án (c. 15; Cv 6, 10). Thế nên họ chẳng có gì phải xao xuyến, lo âu (c. 14). Tòa án trở thành nơi làm chứng tuyệt vời của người môn đệ. Điều quan trọng khi bị bách hại là phải kiên trì (c. 19). Có nhiều kiểu hành hạ nhằm làm cho người môn đệ bỏ cuộc. Nhưng một sợi tóc anh em cũng không bị mất (c. 18) nghĩa là Chúa sẽ lo từng li từng tí cho môn đệ của mình. Mạng sống của các môn đệ ở đời này có thể bị mất (c. 16), nhưng nếu họ kiên trì và trung tín, họ sẽ giữ được nó ở đời sau. Chúng ta cầu cho nhau được ơn kiên trì giữa thử thách của thời đại mới.

Cầu nguyn:

Lạy Chúa Giêsu, vị tử đạo tuyệt vời,
Chúa đưa chúng con vào thế giằng co liên tục.
Chúa vừa chọn chúng con ra khỏi thế gian,
lại vừa sai chúng con vào trong thế gian đó.
Thế gian này vàng thau lẫn lộn.
Có khi vàng chỉ là lớp mạ bên ngoài.

Xin cho chúng con giữ được bản lãnh của mình,
giữ được vị mặn của muối,
và sức tác động của men,
để đem đến cho thế gian
một linh hồn, một sức sống.

Chúng con chẳng sợ mình bỏ đạo,
chỉ sợ mình bỏ sống đạo
vì bị quyến rũ bởi bao thú vui trần thế.

Xin cho chúng con đừng bao giờ quên rằng
chúng con mang dòng máu của các vị tử đạo,
những người đã đặt Chúa lên trên mạng sống.

Lạy Chúa Giêsu, nếu thế gian ghét chúng con,
thì xin cho chúng con cảm thấy niềm vui
của người được diễm phúc nên giống Chúa. Amen.

 Lm.  Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

25 thg 11, 2014

Anh em làm chứng cho Thầy (25.11.2014 – Thứ ba Tuần 34 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 21, 5-11
Nhân có mấy người nói về Ðền Thờ được trang hoàng bằng những viên đá đẹp và những đồ dâng cúng, Ðức Giêsu bảo: “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào.” Họ hỏi Người: “Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra, thì có điềm gì báo trước?” Ðức Giêsu đáp: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị lừa gạt, vì sẽ có nhiều người mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính ta đây”, và “Thời kỳ đã đến gần”; anh em chớ có theo họ. Khi anh em nghe có chiến tranh, loạn lạc, thì đừng sợ hãi. Vì những việc đó phải xảy ra trước, nhưng chưa phải là chung cục đâu.” Rồi Người nói tiếp: “Dân này sẽ nổi dậy chống dân kia, nước này chống nước nọ. Sẽ có những trận động đất lớn, và nhiều nơi sẽ có ôn dịch và đói kém; sẽ có những hiện tượng kinh khủng và điềm lạ lớn lao từ trời xuất hiện.”
Suy nim:
Trong số 117 vị Tử Ðạo Việt Nam, được phong thánh năm 1988, 
có một phụ nữ duy nhất, mẹ của 6 người con. 
Ðó là bà Anê Lê Thị Thành, còn gọi là bà Ðê. 
Trước khi là một anh hùng tử đạo, 
bà đã là một người mẹ hiền gương mẫu. 
“Thân mẫu chúng tôi rất chăm lo việc giáo dục các con. 
Chính người dạy chúng tôi đọc chữ và học giáo lý, 
sau lại dạy cách dự thánh lễ và xưng tội rước lễ.” 
Ðó là lời khai của cô con gái út trước giáo quyền.
Nhà bà Ðê là nơi các linh mục trú ẩn.
Buổi sáng lễ Phục Sinh năm 1861, 
quan Tổng Ðốc Nam Ðịnh cho quân bao vây làng của bà. 
Bà Ðê bị bắt lúc đã 60 tuổi. 
Bà bị đánh đập tra tấn, bị ép phải chối đạo, 
bị lôi qua Thánh Giá, bị bỏ rắn độc vào người. 
Khi con gái đến thăm bà trong nhà giam, 
đau đớn vì thấy quần áo mẹ loang đầy vết máu, 
bà đã an ủi con với một niềm lạc quan lạ lùng: 
“Con đừng khóc, mẹ mặc áo hoa hồng đấy, 
mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu, sao con lại khóc?” 
Sau ba tháng chịu đủ mọi cực hình, 
người phụ nữ ấy đã hiến đời mình cho Chúa.
Cuộc đời của vị thánh nữ tiên khởi của Việt Nam
là một sức nâng đỡ lớn cho chúng ta. 
Thiên Chúa đã làm điều phi thường 
nơi một người phụ nữ già nua, yếu  đuối. 
Quan “Hùm Xám” tỉnh Nam Ðịnh cũng phải bó tay 
trước sự yếu đuối kiên vững của bà. 
Khôn ngoan và đơn sơ, can đảm chịu đau khổ, 
bà thánh Ðê đã phó mặc cho Chúa đời mình. 
Bà chẳng lo phải nói gì, phải làm gì trước tòa án, 
vì sức mạnh của Thánh Thần ở với bà.
Hội Thánh thời nào cũng cần những người dám sống vì đức tin,
dám làm chứng cho Chúa trước mặt người đời. 
Sống đức tin là một loại tử đạo không đổ máu, 
không đòi hy sinh mạng sống, 
nhưng lại đòi hy sinh cả tương lai vững vàng ổn định.
Mỗi ngày, chúng ta thường bị đặt trước những chọn lựa,
trước thập giá của Ðức Giêsu, 
y hệt như các vị tử đạo ngày xưa. 
Có khi chúng ta đã bước qua thập giá, khi chọn mình, 
đã chối Chúa bằng chính cuộc sống. 
Càng có tự do, ta lại càng dễ sa sút đức tin. 
Tiền bạc, tiện nghi, khoái lạc vẫn là những thụ tạo 
gây ra những cuộc bách hại êm ả và khủng khiếp 
mà cuối cùng chúng ta cũng phải đối diện. 
Ước gì chúng ta không để mất đức tin 
được mua bằng giá máu của bao vị tử đạo, 
và ước gì chúng ta không ngừng chuyển giao đức tin ấy 
cho hơn 80 triệu đồng bào trên quê hương.
Cầu nguyn:
Lạy các thánh tử đạo Việt Nam, 
các ngài đã dám sống đến cùng ơn gọi kitô hữu 
trong một hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm. 
Sự hy sinh của các ngài 
cho thấy tình yêu mạnh hơn sự chết 
và chết là cửa mở vào cõi sống bất diệt. 
Dù mang phận người yếu đuối, 
nhưng nhờ ơn Chúa đỡ nâng, 
các ngài đã chiến thắng khải hoàn.
Xin cầu cho chúng con là con cháu các ngài 
biết can trường sống đức tin của bậc cha anh 
trong một thế giới vắng bóng Thiên Chúa, 
biết nhiệt thành làm chứng về tình yêu 
bằng một đời hiến thân phục vụ.
Ước gì ngọn lửa đức tin 
mà các ngài đã thắp lên 
bằng cuộc sống và cái chết, 
được bừng tỏa trên Tổ quốc Việt Nam.
Ước gì máu thắm của các ngài 
thấm vào mảnh đất quê hương 
để công cuộc truyền giáo sinh nhiều hoa trái.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

24 thg 11, 2014

Vì danh Thầy (24.11.2014 – Lễ các thánh Tử đạo Việt Nam)


Lời Chúa: Lc 9, 21-25
 23 Rồi Đức Giê-su nói với mọi người: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo.24 Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.25 Vì người nào được cả thế giới mà phải đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào có lợi gì?26 Ai xấu hổ vì tôi và những lời của tôi, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy, khi Người ngự đến trong vinh quang của mình, của Chúa Cha và các thánh thiên thần.


 Suy nim:

 Trên con đường Nguyễn Trãi thuộc quận 1, thành phố Hồ Chí Minh,
con đường của những cửa hiệu thời trang cao cấp san sát nhau,
có một ngôi nhà nằm lùi vào và bị che bởi căn nhà bên cạnh,
căn nhà mang số 47 B.
Ngoài sân, một trụ bia ghi dòng chữ bằng tiếng Latinh được dịch như sau :
“Tại đây, vì lòng tin vào Đức Kitô,
Đấng Đáng kính Matthêu Lê văn Gẫm đã bị xử trảm,
ngày 11 tháng 5 năm 1847.”
Trong nhà, có trưng bày một phần của chiếc gông
mà thánh nhân phải mang từ khám đường Chợ Quán
đến chỗ Cây Da Còm thuộc họ Chợ Đũi, chính là nơi tọa lạc căn nhà này.
Nhìn chiếc gông dài hai mét,
chúng ta khó tưởng tượng được làm sao một người mang nổi.
Cái gông đè nặng trên cổ, trên vai, triền miên gây khó chịu đau đớn.
Ngày xưa Đức Giêsu vác thánh giá lên Đồi Sọ.
còn các vị tử đạo Việt Nam mang gông ra pháp trường.

 Cái chết của Thánh Gẫm là kết quả của một chọn lựa nghiêm chỉnh.
Ông lái Gẫm là người quen nghề sông nước,
vì thế ông được nhờ đưa đón các linh mục, chủng sinh đi du học.
Năm 1846, Ông được sai đi Singapore để đón về Việt Nam
một giám mục, một linh mục và ba chủng sinh.
Ông linh cảm thấy chuyến đi này sẽ gặp nạn,
nhưng Ông vẫn vâng phục lên đường, liều hy sinh mạng sống.
Ông lái Gẫm đã bị bắt, bị tra khảo, nhưng Ông không thoái lui.
“Quan tha thì tôi nhờ, giết thì tôi chịu.
Tôi là người có đạo từ thuở bé, tôi không bỏ đạo.”
Ông Matthêu Gẫm đã đón cái chết với một niềm vui lạ lùng.
Đến nơi xử, Ông bịt khăn màu xanh như đi dự tiệc.
Ông đùa với những người lính, an ủi những phụ nữ khóc thương Ông.
Ông dâng mạng sống lúc mới ngoài ba mươi.
Ông lái Gẫm đã được tôn phong hiển thánh: Thánh Matthêu Gẫm.

 Nhìn ngắm cái gông của Thánh Gẫm, chúng ta thấy cái giá phải trả
để làm chứng cho Đức Giêsu trước mặt vua quan và dân ngoại.
Để làm chứng cho con người hôm nay về Đức Giêsu,
chúng ta cũng phải trả giá không kém.
Cần tìm ra những cách thức phù hợp để lời chứng có tính thuyết phục.
Giữa một thế giới tham lam, mê đắm bạc tiền,
xin được sống nhẹ nhàng, siêu thoát.
Giữa một thế giới lọc lừa, dối trá,
xin được sống chân thật, đơn sơ.
Giữa một thế giới phóng túng, trụy lạc,
xin được sống điều độ, thanh khiết.
Giữa một thế giới hận thù, tuyệt vọng, dửng dưng,
xin được sẻ chia tình yêu thương, an bình và hy vọng.

 Cầu nguyn:

Lạy các thánh tử đạo Việt Nam,
các ngài đã dám sống đến cùng ơn gọi kitô hữu
trong một hoàn cảnh khó khăn nguy hiểm.
Sự hy sinh của các ngài
cho thấy tình yêu mạnh hơn sự chết
và chết là cửa mở vào cõi sống bất diệt.
Dù mang phận người yếu đuối,
nhưng nhờ ơn Chúa đỡ nâng,
các ngài đã chiến thắng khải hoàn.

Xin cầu cho chúng con là con cháu các ngài
biết can trường sống đức tin của bậc cha anh
trong một thế giới vắng bóng Thiên Chúa,
biết nhiệt thành làm chứng về tình yêu
bằng một đời hiến thân phục vụ.

Ước gì ngọn lửa đức tin
mà các ngài đã thắp lên bằng cuộc sống và cái chết,
được bừng tỏa trên Tổ quốc Việt Nam.
Ước gì máu thắm của các ngài
thấm vào mảnh đất quê hương
để công cuộc truyền giáo sinh nhiều hoa trái. 

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

22 thg 11, 2014

Đời này, đời sau (22.11.2014 – Thứ bảy Tuần 33 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 20, 27-40
27 Có mấy người thuộc nhóm Xa-đốc đến gặp Đức Giê-su. Nhóm này chủ trương không có sự sống lại.28 Mấy người ấy hỏi Đức Giê-su: “Thưa Thầy, ông Mô-sê có viết cho chúng ta điều luật này: Nếu anh hay em của người nào chết đi, đã có vợ mà không có con, thì người ấy phải lấy nàng, để sinh con nối dòng cho anh hay em mình.29 Vậy nhà kia có bảy anh em trai. Người anh cả lấy vợ, nhưng chưa có con thì đã chết.30 Người thứ hai,31 rồi người thứ ba đã lấy người vợ goá ấy. Cứ như vậy, bảy anh em đều chết đi mà không để lại đứa con nào.32 Cuối cùng, người đàn bà ấy cũng chết.33 Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ? “
34 Đức Giê-su đáp: “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng,35 chứ những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết, thì không cưới vợ cũng chẳng lấy chồng.36 Quả thật, họ không thể chết nữa, vì được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên Chúa, vì là con cái sự sống lại.37 Còn về vấn đề kẻ chết trỗi dậy, thì chính ông Mô-sê cũng đã cho thấy trong đoạn văn nói về bụi gai, khi ông gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham,Thiên Chúa của tổ phụ I-xa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp.38 Mà Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, vì đối với Người, tất cả đều đang sống.” 39 Bấy giờ có mấy người thuộc nhóm kinh sư lên tiếng nói: “Thưa Thầy, Thầy nói hay lắm.”40 Thế là, họ không dám chất vấn Người điều gì nữa.
Suy nim:
Cuộc đời con người có vẻ như chấm dứt bằng cái chết. 
Một triết gia Ðức bảo con người sinh ra để chết. 
Cái chết là số phận của mỗi người, 
nhưng nói chung ai cũng muốn sống. 
Kitô giáo cho rằng con người sinh ra là để sống mãi. 
Cái chết chỉ là cánh cửa mở vào cõi vĩnh hằng.
Một số tôn giáo tin rằng đời người có nhiều kiếp.
Kitô giáo chỉ nhận có một cuộc đời ta đang sống. 
Chính cuộc đời duy nhất này 
định đoạt số phận vĩnh cửu của ta. 
Không có một cơ hội thứ hai để làm lại. 
Chính vì thế phải sống hết mình cho đời này 
để đáng hưởng hạnh phúc đời sau.
Ðời sau mãi mãi là một mầu nhiệm.
Chẳng ai chụp hình được thiên đàng hay hỏa ngục. 
Người đã khuất cũng không trở lại để kể ta nghe. 
Bởi thế, nhiều người không tin có đời sau. 
Cả những tín hữu cũng bị cuốn hút bởi vật chất, 
và sống như thể chỉ có đời này. 
Ðời sau là chuyện ở đâu đó, hoàn toàn xa lạ.
Người thuộc phái Xađốc tin rằng sau cái chết
linh hồn con người vất vưởng như cái bóng nơi âm phủ. 
Âm phủ là nơi tối tăm, buồn chán, thiếu sự sống. 
Người Pharisêu lạc quan hơn, cho rằng 
đời sau là sự kéo dài của đời này. 
Người ta sống như trước, nhưng tràn trề hạnh phúc.
Ðức Giêsu vén mở cho ta phần nào bức màn đời sau.
Ðời sau khác hẳn đời này. 
Người ta không cưới vợ lấy chồng, không cần con nối dõi, 
nhưng sống như các thiên thần, 
nghĩa là chỉ lo phụng sự và ca ngợi Thiên Chúa.
Ðời sau là nơi không còn bóng dáng của thần chết.
Người ta thoát khỏi quy luật thông thường của lẽ tử sinh. 
Toàn bộ con người được sống lại: cả hồn lẫn xác. 
Thân xác tuy đã tan thành tro bụi theo thời gian, 
nhưng sẽ được biến đổi một cách kỳ diệu 
để chung hưởng hạnh phúc với linh hồn.
Trong tháng cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời,
chúng ta nghĩ đến cái chết và đời sau. 
Cái chết dạy tôi biết cách sống. 
Ðời sau kéo tôi ra khỏi những hạnh phúc giả tạo, 
và những nỗi khổ đau do mê lầm. 
Tôi đang đi về đời sau 
để gặp Ðấng mà tôi đã tin yêu suốt đời. 
Tất cả cuộc hành trình đều phải hướng về nguồn cội. 
Chúng ta đã được dựng nên cho Thiên Chúa, 
và chúng ta còn khắc khoải mãi cho đến khi gặp được Ngài.
Cầu nguyn:
Lạy Chúa Giêsu,
khi ra thăm nghĩa địa,
khi vào viếng phòng hài cốt,
con hiểu rằng mình phải có lòng tin lớn lao
mới dám nghĩ một ngày nào đó
những thân xác hư hoại này sẽ sống lại.
Con người trở về bụi tro,
nhưng bụi tro sẽ trở lại làm người, 

vì con người sinh ra là để bất tử như Thiên Chúa.
Lạy Chúa Giêsu,
trần gian này quá đẹp
khiến con mải mê, quên mình là lữ khách;
thiên đàng lại xa xôi, chẳng có chỗ trong con.
Con loay hoay vun quén cho đời sống cá nhân,
như thể con sẽ sống mãi trên mặt đất.
Xin khơi dậy nơi con
niềm khát khao những điều cao cả.
Xin đừng để con
mãn nguyện với những cái tầm thường.
Ước gì Chúa cho con nếm chút vị ngọt của trời cao,
khi con quên mình
để sống cho anh em trên mặt đất.
 Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

20 thg 11, 2014

Ai là mẹ tôi? (21.11.2014 – Đức Mẹ dâng mình trong Đền thờ)


Lời Chúa: Mt 12, 46-50

Khi ấy, Ðức Giêsu còn đang nói với đám đông, thì có mẹ và anh em của Người đứng bên ngoài, tìm cách nói chuyện với Người. Có kẻ thưa Người rằng: “Thưa Thầy, có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia, tìm cách nói chuyện với Thầy.” Người bảo kẻ ấy rằng: “Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” Rồi Người giơ tay chỉ các môn đệ và nói: “Ðây là mẹ tôi, đây là anh em tôi. Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Ðấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.”

Suy nim:

Bài Tin Mừng hôm nay có thể làm chúng ta bị sốc.
Đức Giêsu đang giảng cho một đám người khá đông.
Chắc là họ đứng chen chúc nhau đến nỗi khó lòng đến gần Ngài được.
Chính vào lúc này thì mẹ và anh em Ngài đến, không rõ lý do.
Họ muốn nói chuyện với Đức Giêsu, nhưng đành phải đứng ở ngoài.
Có người vào báo cho Ngài về chuyện đó.
Chúng ta tưởng Ngài sẽ ngưng ngay bài giảng để ra gặp mẹ và anh em.
Một giọt máu đào hơn ao nước lã.
Mẹ Ngài hẳn đã phải đi một đoạn đường xa để đến gặp con trò chuyện.
Nhưng lạ thay Đức Giêsu vẫn tiếp tục giảng.
Ngài vẫn tiếp tục nói chuyện với đám đông đang nghe Ngài,
thay vì đi ra nói chuyện với mẹ.
Sự quan tâm của Ngài nhắm vào những người ở trong đây,
hơn những người đứng ở ngoài kia.

Sau đó Ngài lại đặt những câu hỏi vừa dễ lại vừa lạ:
“Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi?” (c. 48).
Dĩ nhiên đó là những người đang đứng ngoài kia,
đang chờ được gặp mặt và nói chuyện với Ngài.
Nhưng đó không phải là đáp án của Đức Giêsu.
Chính Ngài cho ta đáp án bằng cách giơ tay chỉ các môn đệ mà nói:
“Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi” (c. 49).
Có một gia đình máu mủ đậm đà đứng ở ngoài kia,
và một gia đình mới rất thân thương đứng ở trong này.
Đức Giêsu không coi thường tình mẫu tử hay tình họ hàng ruột thịt.
Điều Ngài muốn nhấn mạnh ở đây là chuyện Ngài có một gia đình mới.

Các môn đệ của Ngài thuộc về gia đình này.
Họ là mẹ, là anh chị em của Ngài, vì họ thi hành Ý muốn của Cha Ngài.
Chính Đức Giêsu là người Con luôn thi hành Ý muốn của Cha.
Ai thi hành Ý Cha trên trời cũng trở nên gần gũi với người Con (c. 50).
Chúng ta có họ với Đức Giêsu và làm nên một gia đình bao la rộng lớn.
Bỗng nhiên chúng ta thấy mình gần Cha, gần Giêsu và gần nhau.
Nước Trời bắt đầu đến khi hơn hai tỉ kitô hữu
nhận ra là mình cùng muốn làm trọn Ý Cha,
cùng gắn bó keo sơn với Giêsu và cùng coi nhau là anh chị em (Mt 23, 8).

Đức Giêsu có nhiều anh chị em trong gia đình của Ngài.
Các phụ nữ thật là chị em của Ngài, dù xã hội Ngài trọng nam khinh nữ.
Đức Giêsu cũng không chỉ có một người mẹ tên là Maria.
Bất cứ ai sống theo ý Cha trên trời trong niềm vâng phục phó thác,
bất cứ ai sinh Đức Giêsu ra cho môi trường sống của mình,
bất cứ ai làm cho Ngài lớn lên trong trái tim nhân loại,
người ấy là mẹ Đức Giêsu.
Trong gia đình mới là Giáo Hội của Đức Giêsu,
Maria đã là Mẹ Đức Giêsu theo ý nghĩa tuyệt vời nhất.

Cầu nguyn:

Lạy Chúa Giêsu,
xin thương nhìn đến Hội Thánh

là đàn chiên của Chúa.
Xin ban cho Hội Thánh
sự hiệp nhất và yêu thương,
để làm chứng cho Chúa
giữa một thế giới đầy chia rẽ.

Xin cho Hội Thánh
không ngừng lớn lên như hạt lúa.
Xin đừng để khó khăn làm chúng con chùn bước,
đừng để dễ dãi làm chúng con ngủ quên.

Ước gì Hội Thánh trở nên men
được vùi sâu trong khối bột loài người
để bột được dậy lên và trở nên tấm bánh.
Ước gì Hội Thánh thành cây to bóng rợp
để chim trời muôn phương rủ nhau đến làm tổ.

Xin cho Hội Thánh
trở nên bàn tiệc của mọi dân nước,
nơi mọi người được hưởng niềm vui và tự do.

Cuối cùng xin cho chúng con
biết xây dựng một Hội Thánh tuyệt vời,
nhưng vẫn chấp nhận cỏ lùng trong Hội Thánh.

Ước gì khi thấy Hội Thánh ở trần gian,
nhân loại nhận ra Nước Trời ở gần bên. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Đức Giêsu khóc (20.11.2014 – Thứ năm Tuần 33 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 19, 41-44
41 Khi đến gần Giê-ru-sa-lem và trông thấy thành, Đức Giê-su khóc thương42 mà nói: “Phải chi ngày hôm nay ngươi cũng nhận ra những gì đem lại bình an cho ngươi! Nhưng hiện giờ, điều ấy còn bị che khuất, mắt ngươi không thấy được.43 Thật vậy, sẽ tới những ngày quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề.44 Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm.”
Suy nim:
Người ta có thể khóc vì nhiều lý do. 
Khóc vì buồn thương, khóc vì tình yêu của mình bị từ chối. 
Khóc vì tiếc nuối một điều tốt đẹp bị hủy hoại. 
Một người đàn ông khóc là chuyện không thường xảy ra. 
Chính vì thế chúng ta ngỡ ngàng khi thấy Đức Giêsu khóc. 
Con Thiên Chúa nhập thể biết đến nỗi đau của phận người. 
Giọt nước mắt của Ngài cho thấy Ngài thật sự có một trái tim.
Đức Giêsu khóc khi đến gần và trông thấy thành phố Giêrusalem. 
Trong thành Giêrusalem có ngôi Đền thờ lộng lẫy (Lc 21, 5). 
Đền thờ ấy là Đền thờ thứ hai được xây sau khi dân lưu đày trở về. 
Còn Đền thờ thứ nhất do Salômôn xây, đã bị quân Babylon phá hủy. 
Vua Hêrôđê Cả đã trùng tu và nới rộng Đền thờ thứ hai này. 
Công việc sửa sang kéo dài từ năm 20 trước công nguyên, 
đến năm 64 sau công nguyên mới hoàn tất. 
Vào thời gian này, người Do Thái nổi dậy chống lại quân Rôma. 
Vào lễ Vượt qua năm 70, thành phố bị vây hãm (c. 43). 
Đền thờ bị thiêu hủy sau tám mươi tư năm tu sửa. 
Đây là một bi kịch lớn mà Đức Giêsu đã linh cảm với nỗi đớn đau.
Bài Tin Mừng hôm nay 
nằm ngay sau biến cố Đức Giêsu lên Giêrusalem lần cuối (Lc 19, 28). 
Ngài biết đây là lần cuối, nên giữa bầu khí tung hô của dân chúng, 
Đức Giêsu lại rơi vào nỗi đau buồn, xót xa. 
Ngài sẽ là vị ngôn sứ phải chết ở trong thành này (Lc 13, 33). 
Như mọi người Do Thái khác, Đức Giêsu quý thành phố và Đền thờ. 
Thành phố Giêrusalem là thủ đô của đất nước. 
Đền thờ là nơi mỗi năm Ngài lên đó dự các lễ lớn đôi ba lần. 
Đây là nhà Cha của Ngài, là nhà cầu nguyện (Lc 2, 49; 19, 46). 
Nhưng mọi điều tốt đẹp Ngài đang thấy, có ngày sẽ đổ vỡ tan hoang. 
“Không để hòn đá nào trên hòn đá nào” (c. 44).
Thiên Chúa là Đấng đã đi thăm Dân Ítraen (Lc 1, 68; 7, 16; 19, 44). 
Ngài thăm Dân Ngài qua Người Con là Đức Giêsu (Lc 1, 78). 
Ngài đến thăm để đem ơn cứu độ, đem lại bình an (c. 42). 
Hôm nay Thiên Chúa vẫn tiếp tục đi thăm nhân loại. 
Ngài vẫn sai Con của Ngài đến với chúng ta để ban ơn bình an. 
Nhưng con người hôm nay có thể khép lòng, và để lỡ cơ hội quý báu. 
“Ngài đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Ga 1, 11). 
Làm sao mỗi Kitô hữu nhận ra thời điểm Ngài đến thăm mình? (c. 44). 
Thế giới Tây phương hôm nay đang có khuynh hướng loại trừ Thiên Chúa. 
Họ nhân danh tự do tôn giáo để loại trừ tôn giáo ra khỏi đời sống xã hội. 
Nhưng không có Trời thì ai ở được với ai. 
Nhân loại bị kéo vào những cuộc chiến tranh, thù hận không lối thoát. 
Hãy để Thiên Chúa đi vào đời bạn và chi phối những chọn lựa của bạn. 
Chỉ trong Thiên Chúa mọi sự mới có nền tảng vững bền. 
Nếu không, như Giêrusalem, chúng ta chỉ còn là những bức tường than khóc.
Cầu nguyn:
Lạy Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa,
Chúa đã muốn trở nên con của loài người,
con của trái đất, con của một dân tộc.
Chúa vẫn yêu mến dân tộc của Chúa
dù họ từ khước Tin Mừng
và đóng đinh Chúa vào thập giá.
Xin cho chúng con biết yêu mến quê hương,
một quê hương còn nghèo nàn lạc hậu
sau những năm dài chiến tranh,
một quê hương đang mở ra trước thế giới
nhưng lại muốn giữ gìn bản sắc dân tộc
và bảo vệ nền đạo lý của cha ông.
Xin cho chúng con đừng nhắm mắt ngủ yên
trong sự an toàn và tiện nghi vật chất,
nhưng biết trăn trở trước nỗi khổ đau,
và làm một điều gì đó thật cụ thể
cho những đồng bào quanh chúng con.
Ước gì chúng con biết phục vụ đất nước
bằng khối óc, quả tim và đôi tay.
Và ước gì chúng con biết khiêm tốn
cộng tác với muôn người thiện chí.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

19 thg 11, 2014

Làm ăn sinh lợi (19.11.2014 – Thứ Tư Tuần 33 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 19, 11-28

 11 Khi dân chúng đang nghe những điều ấy, thì Đức Giê-su lại kể thêm một dụ ngôn, vì Người đang ở gần Giê-ru-sa-lem và vì họ tưởng là Triều Đại Thiên Chúa sắp xuất hiện đến nơi rồi.12 Vậy Người nói: “Có một người quý tộc kia trẩy đi phương xa lãnh nhận vương quyền, rồi trở về.13 Ông gọi mười người trong các tôi tớ của ông đến, phát cho họ mười nén bạc và nói với họ: “Hãy lo làm ăn sinh lợi cho tới khi tôi đến.”14 Nhưng đồng bào ông ghét ông, nên họ cử một phái đoàn đến sau ông để nói rằng: “Chúng tôi không muốn ông này làm vua chúng tôi.

15 “Sau khi lãnh nhận vương quyền, ông trở về. Bấy giờ ông truyền gọi những đầy tớ ông đã giao bạc cho, để xem mỗi người làm ăn sinh lợi được bao nhiêu.16 Người thứ nhất đến trình: “Thưa ngài, nén bạc của ngài đã sinh lợi được mười nén.17 Ông bảo người ấy: “Khá lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi! Vì anh đã trung thành trong việc rất nhỏ, thì hãy cầm quyền cai trị mười thành.18 Người thứ hai đến trình: “Thưa ngài, nén bạc của ngài đã làm lợi được năm nén.19 Ông cũng bảo người ấy: “Anh cũng vậy, anh hãy cai trị năm thành.

20 Rồi người thứ ba đến trình: “Thưa ngài, nén bạc của ngài đây, tôi đã bọc khăn giữ kỹ.21 Tôi sợ ngài, vì ngài là người khắc nghiệt, đòi cái không gửi, gặt cái không gieo.22 Ông nói: “Hỡi đầy tớ tồi tệ! Tôi cứ lời miệng anh mà xử anh. Anh đã biết tôi là người khắc nghiệt, đòi cái không gửi, gặt cái không gieo.23 Thế sao anh không gửi bạc của tôi vào ngân hàng? Có vậy, khi tôi đến, tôi mới rút ra được cả vốn lẫn lời chứ!24 Rồi ông bảo những người đứng đó: “Lấy lại nén bạc nó giữ mà đưa cho người đã có mười nén.25 Họ thưa ông: “Thưa ngài, anh ấy có mười nén rồi!26 -“Tôi nói cho các anh hay: phàm ai đã có, thì sẽ được cho thêm; còn ai không có, thì ngay cái nó đang có cũng sẽ bị lấy đi. 27 “Còn bọn thù địch của tôi kia, những người không muốn tôi làm vua cai trị chúng, thì hãy dẫn chúng lại đây và giết chết trước mặt tôi.” 28 Nói những lời ấy xong, Đức Giê-su đi đầu, tiến lên Giê-ru-sa-lem. 

Suy nim:

 Khi Đức Giêsu đến gần Giêrusalem,
nhiều người nghĩ rằng Nước Thiên Chúa sắp xuất hiện rồi.
Họ cho rằng khi Ngài tiến vào thành thánh lẫm liệt như một vị vua,
Nước ấy sẽ bừng tỏa trọn vẹn trên đoàn dân của Thiên Chúa (c. 11).
Thật ra Nước Thiên Chúa không đến nhanh như họ nghĩ.
Đức Giêsu còn phải chịu đau khổ, chết, rồi được phục sinh.
Sau đó Giáo Hội còn phải chờ một thời gian dài
trước khi Nước Thiên Chúa đến cách viên mãn qua việc Ngài trở lại.
Thời gian của Giáo Hội là thời gian đợi chờ,
thời gian lo làm ăn sinh lợi với những gì Chúa tặng ban.
Đó chính là ý nghĩa của dụ ngôn trong bài Tin Mừng hôm nay.

 Một nhà quý tộc kia đi xa để lãnh nhận vương quyền.
Trước khi đi ông gọi mười người đầy tớ lại,
và trao cho họ mỗi người một số tiền không lớn lắm, là một đồng mina.
Ông ra lệnh: “Hãy lo làm ăn sinh lợi cho tới khi tôi đến” (c. 13).
Khi nhà quý tộc trở về trong tư cách là vua,
ông truyền gọi các đầy tớ lại để họ báo cáo về công việc làm ăn.
Hai người đầy tớ đầu tiên đã sinh lợi không ít.
Một người được lời thêm mười đồng, người kia được thêm năm đồng.
Cả hai được vua ban thưởng rất trọng hậu, cho cai trị các thành phố.
Còn người thứ ba trả lại cho nhà vua đồng mina anh đã nhận.
“Thưa Ngài, đồng mina của Ngài đây, tôi đã giữ kỹ nó trong khăn.”
Tất cả tội của người đầy tớ này nằm ở thái độ giữ kỹ.
Giữ kỹ thì chẳng mất gì, vẫn còn nguyên vẹn.
Nhưng giữ kỹ lại không thể làm cho đồng tiền sinh lời.
Hơn nữa, giữ kỹ là không vâng lời ông chủ trước khi đi: “Hãy lo làm ăn!”
Người đầy tớ sợ ông chủ, vì ông là người nghiêm khắc (c. 21).
Chính vì sợ làm ăn thua lỗ, sợ bị ông chủ trừng phạt
mà anh chọn thái độ chắc ăn là giữ kỹ đồng vốn trong khăn.
Thái độ này không được ông chủ, nay trở thành nhà vua, chấp nhận.
“Tại sao anh không gửi tiền của tôi vào ngân hàng,
để khi trở về, tôi mới rút được cả vốn lẫn lời chứ ?” (c. 23).
Ý của chủ là đồng tiền cần phải được đầu tư để sinh lời.
Nỗi sợ đã làm cho anh đầy tớ mất đi sự liều lĩnh cần thiết.

Bài Tin Mừng nhắc các Kitô hữu một điều cần.
Giữ kỹ, giữ nguyên những gì Chúa ban vẫn chỉ là một thái độ tiêu cực.
Kitô hữu là người tích cực sử dụng đồng vốn nhận được để sinh lời.
Ra khỏi thái độ rụt rè, sợ hãi, để dám nghĩ, dám làm việc lớn cho Chúa,
đó mới là thái độ đúng đắn của người Kitô hữu có trách nhiệm.
Nếu không liều lĩnh trong những dự tính và hành động,
nhiều nén bạc Chúa ban sẽ bị bỏ quên mãi trong khăn.
Ông chủ trong dụ ngôn thật ra không phải là người ham lời.
Ông chỉ muốn các đầy tớ trung tín trong việc rất nhỏ (c. 17).
Nhờ dấn thân làm việc cho Nước Chúa mà người Kitô hữu được lớn lên.

 Cầu nguyn:

Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con dám hành động
theo những đòi hỏi khắt khe nhất của Chúa.

Xin dạy con biết theo Chúa vô điều kiện,
vì xác tín rằng
Chúa ngàn lần khôn ngoan hơn con,
Chúa ngàn lần quảng đại hơn con,
và Chúa yêu con hơn cả chính con yêu con.

Lạy Chúa Giêsu trên thập giá,
xin cho con dám liều theo Chúa
mà không tính toán thiệt hơn,
anh hùng vượt trên mọi nỗi sợ,
can đảm lướt thắng sự yếu đuối của quả tim,
và ném mình trọn vẹn cho sự quan phòng của Chúa.

Ước gì khi dâng lên Chúa
những hy sinh làm cho tim con rướm máu,
con cảm nghiệm được niềm vui bất diệt
của người một lòng theo Chúa.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.