"Ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống ; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên." (Lc 18,14)
Chúa Nhật XXX thường niên - Năm C |
| Bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe có thể không cần một câu chuyện hướng dẫn nào khác, nhưng tự nó gợi ý để chúng ta suy nghĩ về điều mà chúng ta có thể gọi là sự thành thật của người Kitô. Thành thật với chính mình, thành thật với kẻ khác và thành thật với Thiên Chúa. Con người thành thật là con người nhìn nhận thực thể của mình và cảm nhận thực thể đó một cách trung thực. Thành thật trước tiên không có nghĩa là nói thẳng ra điều mình nghĩ hay điều mình cảm nhận. Nói thẳng điều mình nghĩ, điều mình cảm nhận được không đủ để sống thành đạt. Trước hết, yếu tố quan trọng phải là chân thành nhìn nhận thực thể mình, nhìn nhận chính điều mình nghĩ về mình, và khi ta nhận thực thể mình và ý thức những giới hạn của nó, ta sẽ không còn hứng thú để xét đoán kẻ khác. Người thành thật ý tứ để đừng lừa gạt chính mình và cũng không lừa gạt kẻ khác. Người thành thật không thích người giả hình, không thích mánh mung, nói láo. Đây không phải là điều dễ, cần phải kiên trì quan sát mình, phải xét mình hằng ngày dựa theo lời Chúa và trong sự khiêm tốn vâng phục ơn soi sáng nội tâm của Chúa. Lời cầu nguyện của chúng ta cần dâng lên Chúa hằng ngày phải là: “Lạy Chúa, xin cho con biết con, xin cho con biết Chúa. Lạy Chúa xin thương xót con vì con là kẻ có tội. Bài dụ ngôn hôm nay nêu bật lời cầu nguyện khiêm nhường của người thu thuế, anh không nhìn sang người khác, không dám so sánh mình với kẻ khác, nhưng nhìn vào mình và so sánh mình với mẫu gương của Chúa, qua đó anh đã khám phá ra những khuyết điểm của mình rồi khiêm tốn chấp nhận. Chúng ta cũng vậy, mỗi lần chúng ta đặt mình trước nhan Chúa, khi cầu nguyện chúng ta hãy ý thức rằng, Thiên Chúa đã biết rõ cả rồi, đã biết trọn cả con người của chúng ta là như thế nào rồi, nên không cần che giấu tránh né. Nhưng Thiên Chúa cũng là Đấng nhân từ và hay thương xót, nên chúng ta không quá lo sợ hay tuyệt vọng vì những bất toàn ấy mà hãy vươn lên cùng Chúa, xin Chúa chữa lành: “Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi”. Trong lời cầu nguyện của người thu thuế, chúng ta còn có thể khám phá ra một yếu tố quan trọng khác nữa, khi cầu nguyện: “Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi, là kẻ đã xúc phạm đến Chúa”. Người thu thuế kia tha thiết muốn kêu lên cùng Chúa, muốn hưởng nhờ lòng nhân từ của Ngài để tiến mãi trên con đường thiêng liêng, sống mối tương quan với Chúa mỗi ngày một tốt đẹp hơn. Người Pharisêu không có được thái độ này, ông tự mãn với chính mình và ông nghĩ là do công trạng của mình tạo lập ra, như vậy lời cầu nguyện của ông thật ra không phải là lời cầu nguyện mà chỉ là những lời khoe khoang đi kèm với thái độ khinh dể kẻ khác. Ước chi trong cuộc sống đức tin của mỗi người chúng ta, chúng ta đừng nhìn sang kẻ khác mà so sánh. Bởi vì chúng ta sẽ bị cám dỗ so sánh mình với những bất toàn của anh chị em và nâng mình lên khinh dể kẻ khác. Chúng ta hãy so sánh mình với chính mẫu gương trọn lành của Chúa để nhận biết chúng ta còn nhiều điều phải canh tân để tiến lên mãi: “Lạy Chúa, xin thương xót con vì con là kẻ tội lỗi”. Ước chi lời cầu nguyện này trở thành lời cầu nguyện của mỗi người chúng ta không những hôm nay mà trong mọi ngày của đời sống chúng ta, để chúng ta nhận lãnh ơn thương xót của Chúa và tiến lên mãi trong tình thương của Ngài. Xin Chúa gìn giữ chúng ta trong đức tin mà giờ đây chúng ta cùng nhau tuyên xưng qua Kinh Tin Kính. SƯU TẦM |
26 thg 10, 2013
HAI HẠNG NGƯỜI CẦU NGUYỆN
Chúa Nhật XXX Thường Niên - Năm C
Bấy giờ, Đức Giê-su kể dụ ngôn sau đây với một số người tự hào cho mình là công chính mà khinh chê người khác: “Có hai người lên đền thờ cầu nguyện. Một người thuộc nhóm Pha-ri-sêu, còn người kia làm nghề thu thuế. Người Pha-ri-sêu đứng riêng một mình, cầu nguyện rằng: ‘Lạy Thiên Chúa, xin tạ ơn Chúa, vì con không như bao kẻ khác: tham lam, bất chính, ngoại tình, hoặc như tên thu thuế kia. Con ăn chay mỗi tuần hai lần, con dâng cho Chúa một phần mười thu nhập của con.’ Còn người thu thuế thì đứng đằng xa, thậm chí chẳng dám ngước mắt lên trời, nhưng vừa đấm ngực vừa thưa rằng: ‘Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi.’ Tôi nói cho các ông biết: người này, khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia thì không. Vì phàm ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên.”
Sunday XXX in Ordinary Time - YearC
19 thg 10, 2013
Chúa Nhật XXIX Thường Niên - Năm C
Tin Mừng Lc 18: 1-8
Khi ấy, Đức Giê-su kể cho các môn đệ dụ ngôn sau đây, để dạy các ông phải cầu nguyện luôn, không được nản chí. Người nói: “Trong thành kia, có một ông quan toà. Ông ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì. Trong thành đó, cũng có một bà goá. Bà này đã nhiều lần đến thưa với ông: ‘Xin ngài bênh vực tôi chống lại kẻ kiện tôi’. Một thời gian khá lâu, ông không chịu. Nhưng cuối cùng, ông ta nghĩ bụng: ‘Dầu rằng ta chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì, nhưng mụ goá này quấy rầy mãi, thì ta bênh vực mụ cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc’. Rồi Chúa nói: ‘Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có trì hoãn? Thầy nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng bênh vực họ. Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?’”
Sunday XXIX in Ordinary Time - YearC
GIÁO DÂN TRUYỀN GIÁO
| Chúa nhật Truyền giáo - Năm C |
| GIÁO DÂN TRUYỀN GIÁO |
| Lệnh Chúa Giêsu truyền: “Vậy
anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ
nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ
những điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi
ngày cho đến tận thế" ( Mt 28, 19 – 20 ). Kinh Tân Phúc Âm Hóa có đoạn: “Xin đổ Thần Trí của Cha, nhờ đó con được tăng thêm sức mạnh để ra đi và làm chứng nhân cho Tin Mừng mọi ngày trong đời sống của con, bằng lời nói và việc làm. Trong những lúc hoang mang, xin nhắc con: Nếu không là con, thì ai sẽ rao truyền Phúc Âm ? Nếu không phải là lúc này, thì khi nào Phúc Âm sẽ được loan truyền ? Nếu không phải là chân lý Phúc Âm, thì điều gì con sẽ công bố ?” “Nếu không là con, thì ai sẽ rao truyền Phúc Âm”. Lời kinh mời gọi mỗi chúng ta khẳng định lại sứ vụ truyền giáo mà mỗi Kitô Hữu Công Giáo đã được nhận lãnh ngay trong Bí Tích Thánh Tẩy và phải thi hành sứ vụ ấy như một bổn phận. Như thế là: không phải ai khác, nhưng chính tôi là người truyền giáo. Không phải lúc nào khác nhưng ngay bây giờ là lúc phải truyền giáo. Không điều kiện nào khác, nhưng chính trong điều kiện này là điều kiện mà tôi phải truyền giáo. Thiết tưởng cần xóa ngay đi não trạng xưa cũ của một thời mà Giáo Dân và cả các Giáo Sĩ cũng xem việc truyền giáo là chuyện dành riêng của Giáo sĩ mà thôi, và Giáo Dân tự xem hoặc bị xem quá thấp kém, quá tầm thường, có khi là quá tội lỗi nữa, biết gì mà truyền giáo !?! Đúng là một não trạng tệ hại vô cùng ! Và còn tệ hơn nữa khi có Giáo Dân nào đó nhiệt thành quá một chút là có thể bị Giáo Sĩ kết án ngay là “phá hoại” Giáo Hội. Người phá hoại Giáo Hội là người sống không đúng ơn gọi của mình. Người sống đúng ơn gọi của mình không thể kể họ vào loại phá hoại được. Ơn gọi truyền giáo là ơn gọi của tất cả mọi người Kitô hữu Công Giáo, không phân biệt Giáo Sĩ hay Giáo Dân. Trong điều kiện hết sức khó khăn của những Giáo Dân sống trong thời đại con người ta chỉ lo cơm áo gạo tiền, tôi đã thấy những gương chứng nhân Đức Tin thật đáng kể. Họ là những người Công Giáo tốt từ lúc ăn gạo chợ uống nước sông đến ngày có cơ ngơi vững chãi. Có người truyền giáo bằng xe hơi vì họ đã có được chiếc xe 7 chỗ hẳn hoi, và họ gọi đó là chiếc xe “7 Hồng Ân”. Mừng cho họ là họ có ý thức tạ ơn và đã dùng xe hơi cho việc truyền giáo. Lại có anh hội viên Legio có xe đạp, truyền giáo bằng xe đạp. Mừng cho anh, tạ ơn Chúa với anh vì anh không chần chừ, không chờ đợi ước mong có xe hơi mới truyền giáo được. Có người có nhà cao cửa rộng họ sử dụng cái giàu có của họ cho việc truyền giáo, còn chị Lòng Chúa Thương Xót, chỉ có mỗi căn nhà lá, trống trước trống sau, làm chỗ học Giáo Lý cho đôi ba người dân tộc. Cảnh thiên đường đẹp quá ! Nhìn lại, những lần Đại Hội Loan Báo Tin Mừng với việc học hỏi các Văn Kiện lớn lao về Truyền Giáo, thành phần được mời tham dự toàn là những người có chức, có quyền, có bằng cấp, có ăn có học, được coi là bậc vị vọng, hoặc ít ra cũng là những người đang có chức vụ trong Giáo Hội. Có ai lại đi mời bà bán cháo lòng, bán bánh canh, bán đậu hủ, bán vé số, người xa quê, kẻ làm thuê, người khuyết tật, kẻ hành khất, hạng nghèo hèn trong xã hội… tham dự đâu ? Có phải vì họ là cấp thấp bé trong Giáo Hội thì biết gì mà loan báo Tin Mừng chăng ? Thiết tưởng, bao lâu người Giáo Dân còn bị đánh giá là thành phần thấp bé hèn mọn dưới con mắt của Giáo Hội Địa Phương, thì bấy lâu, Giáo Hội tiếp tục phạm phải một sai lầm đáng kể. Này nhé, tưởng là họ đi Lễ họ không chú ý nghe giảng sao ? Không phải thế đâu! Họ đã lắng nghe, nghe rất rõ, nghe rất kỹ đấy. Lại tội nghiệp cho người cố gắng lắng nghe mà nghe không được, bởi Nhà Thờ thì to đùng, xây dựng đủ thứ hạng mục công trình, sắm sửa đủ thứ xa xỉ mà âm thanh lại chẳng nghe được gì, đúng là chỉ để… xem lễ chứ có nghe được gì đâu ? Đáng tiếc mà cũng đáng trách ! Đừng lầm tưởng, hãy biết những Giáo Dân thấp bé kia, không chỉ nghe mà còn muốn nghe thật kỹ, thật rõ, và còn hơn thế nữa, nghe và đối chiếu điều người đã giảng với điều người đã sống. Cuối cùng, may quá, cách thể hiện đạo đức nhất của họ là làm theo những điều đã nghe, chứ không làm theo những điều đã thấy. Tôi tin rằng Chúa Thánh Thần vẫn đang hoạt động và hoạt động cách mạnh mẽ nhất, hữu hiệu nhất, ấn tượng nhất trong chính những con người thấp bé ấy. Nhờ ơn Thánh Thần, họ được sức mạnh can trường trong đau thương, họ được niềm vui sống công chính ngay trong “cái túi” của số phận, họ được vinh dự làm chứng cho một Đạo Công Giáo luôn có niềm tin mãnh liệt vào hạnh phúc đời sau, họ được diễm phúc có một hoàn cảnh thấp bé mà sứ vụ truyền giáo thì ngược lại, không nhỏ bé chút nào. Họ sống Tin Mừng cách thiết thực nhất ngay trong điều kiện kém cỏi và hoàn cảnh khó khăn của chính họ. Thật đáng quí công cuộc truyền giáo không tên tuổi, không ai quan tâm của những Giáo Dân mạt hạng, kém trình độ, nghèo khổ, thấp hèn ! Cộng tác vào công cuộc truyền giáo của Chúa Giêsu ngày ấy, nào có phải là những thầy Kinh Sư và thầy Thông Luật đâu, chỉ toàn là những người đánh cá nhiều phần là mù chữ, là mấy tên thu thuế được xếp vào phường tội lỗi, là chị kia năm đời chồng đi kín nước, là cô kia làm nghề buôn son bán phấn, là người phụ nữ ngoại tình bị bắt quả tang cần phải lãnh án ném đá cho đến chết, là tên trộm bị trói trên giá ngay bên hữu Chúa, là một người Samari nhân hậu, là người đàn bà bị băng huyết kinh niên, là chú què được nhảy như nai, là cậu mù được sáng mắt, là anh phung cùi được sạch… Thời nay không còn là thời điểm truyền giáo của những Giáo Dân mạt hạng ấy sao ? Hẳn không phải là thời buổi truyền giáo của những thầy Thông Luật mà lại chẳng giữ luật đấy chứ ? Hãy đến “xem nơi Người ở, và ở lại với Người”, những con người thấp bé nhất trong xã hội, trong Giáo Hội, họ đang sống rất anh hùng giữa những đau thương của cuộc đời xoàng thường nhất trong thiên hạ, nhưng lại là những chứng nhân sống động nhất của Tin Mừng. Để kết, xin mượn truyện rất ngắn của tác giả Ba Chuông có tựa đề “Truyền Giáo” tôi vừa mới đọc được trên baicamoi.com: “Xóm trên, Cậu Út ở với cha mẹ già, đi làm thuê về, xe tông, gãy chân, gãy sườn. Có mấy người hàng xóm đến thăm. Chị Tám bán bánh canh xóm dưới cũng lên thăm. Thấy chạnh lòng, chị rút tờ hai trăm ngàn dúi vào tay vợ cậu Út. Có người nhìn thấy. Người ấy không ai khác là bà Tư, chủ nợ của chị Tám. Bà Tư không phải người Công Giáo. Chị Tám bán bánh canh, mượn đầu heo nấu cháo, vay bà Tư 3 triệu, hằng tháng trả lãi 7 phân.Cuối tháng, chị Tám đến bà Tư trả tiền lãi. Bà Tư lấy một nửa, cho lại chị một nửa. Còn khen: “Tui không ngờ chị lại có lòng thương người như vậy. Ít thấy được người Công Giáo như chị. Biết sẻ chia lúc hoạn nạn mới là người Công Giáo tốt”. Lạy Chúa, xin cho mọi việc chúng con làm đều vì danh Cha cả sáng. Amen.” Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa vì đã và đang có những giáo dân thấp bé nhất nhiệt thành sống đức tin giữa hoàn cảnh bi thương nhất trong cuộc đời. Xin cho mỗi ngày một nhiều hơn những giáo dân biết tạ ơn Chúa vì ơn gọi truyền giáo và kiên trung sống đời sống Công Giáo công chính theo Tin Mừng, cho danh Chúa được cả sáng. Amen. M. CAO HUY HOÀNG |
18 thg 10, 2013
LUCA THÁNH SỬ
Theo các nhà Kinh thánh học, thánh Luca đã hiến cho chúng ta cuốn Phúc âm thứ ba và sách Tông đồ công vụ.
Qua các Tông đồ, nhất là Mẹ Maria và thánh Phaolô, thánh Luca đã ghi lại tiểu sử của Chúa Giêsu bằng những nét đặc sắc. Ngài đã hết lời ca tụng ơn cứu độ và lòng từ bi của Thiên Chúa. Những truyện người con phung phá, người Samaritanô nhân hậu, ông Giakêu, người trộm lành v.v là những bằng chứng cụ thể về lòng từ bi của Thiên Chúa. Phúc âm thánh Luca cũng là Phúc âm về đời sống cầu nguyện. Ngài đặt trước mặt chúng ta gương cầu nguyện của Chúa Giêsu khi chịu phép rửa, khi chọn môn đệ, khi biến hình sáng láng, lúc hấp hối trong vườn dầu và cả trên thánh giá. Sau hết, thánh Luca như cố ý trình bày cho chúng ta những điều kiện cần thiết để tin theo Chúa, để gia nhập nước trời: đức tin, khiêm nhường, thống hối, khó nghèo, bác ái, và kiên trung trong đau khổ...
Cũng như Phúc âm, cuốn Tông đồ công vụ của thánh Luca là một bằng chứng sống động về việc Chúa Thánh Thần hoạt động trong đời sống Chúa Cứu Thế và đời sống truyền giáo của các tông đồ. Đó cũng là cuốn lịch sử đầu tiên của Giáo hội. Đọc sách công vụ, chúng ta không thể không cảm thấy một nguồn vui thanh cao và sống động phát ra mạnh mẽ bởi sự nhận biết Chúa của các tín hữu đầu tiên, bởi tình bác ái chân thực và tinh thần hy sinh xả kỷ của các Tông đồ, bởi bầu khí cầu nguyện, lòng hợp lòng, duy nhất trong một đức tin, một tình yêu của cộng đồng Giáo hội sơ khai.
Mặc dầu không có những tài liệu xác đáng về gia thế và đời sống của thánh Luca, nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng thánh Luca thuộc gia đình nền nếp và giầu sang tại Antiôkia. Khi còn bé, ngài được giáo dục chu đáo về cả đức tính, văn hóa và nghề nghiệp. Ngài theo học các khoa cổ điển của nền văn minh Hy lạp và chuyên nghề dược. Từ buổi đầu, thánh Luca vẫn chưa biết Chúa. Cho đến một ngày kia thánh Phaolô đến Trôas giảng đạo Chúa Giêsu. Luca vào nghe, sau khi suy nghĩ, cân nhắc cẩn thận và nhận thấy giáo thuyết thánh Phaolô giảng rất thâm trầm hợp lý, ngài liền tin theo. Ngài chịu phép rửa tội và theo làm môn đệ thánh Phaolô, ngày đêm học hỏi Kinh thánh và làm thư ký cho thánh Tông đồ. Quãng năm 49, nghĩa là khi khởi sự truyền giáo lần thứ hai, thánh Phaolô cùng mang Luca đi theo. Nhưng rồi hai thầy trò lại chia lìa nhau một thời gian. Có lẽ kỳ này thánh Luca trở về sinh quán làm nghề dược. Đến sau hai thầy trò lại gặp nhau tại Philíppê. Từ đây thánh Luca cùng đi giảng đạo với thánh Phaolô. Nhưng đến khi thánh Phaolô bị người Rôma bắt cầm tù, thì thánh Luca cũng từ giã đế đô. Và chúng ta không biết gì về quãng cuối đời của ngài nữa.
Đọc Phúc âm thứ ba và Tông đồ công vụ, chúng ta thấy thánh Luca rất lỗi lạc về văn chương Hy lạp. Ngài quả là một nhà văn học kỳ tài, luôn thay đổi từ ngữ và dùng những danh từ thích hợp với đặc tính văn chương của người Hy lạp thời bấy giờ. Thánh nhân tỏ ra rất có nghệ thuật trong việc bố cục một câu truyện thế nào cho rõ ràng, hấp dẫn, gợi nhiều ý tưởng và tâm tình. Chẳng hạn dụ ngôn người con phung phá; câu truyện hai du khách trên đường Emmau phải là hai kiệt tác văn chương, có nhiều giá trị nghệ thuật không kém gì những áng văn hay nhất của người Hy lạp thời ấy. Hơn thế, thánh Luca còn là một người sành tâm lý. Thánh nhân đã mặc cho mỗi nhân vật trong Phúc âm cũng như trong các dụ ngôn, những tâm tình, cử điệu và lời lẽ phù hợp với địa vị riêng của họ. Phải chăng nhờ tài nghệ này, thánh Luca đã đề cao đến chỗ trọn hảo địa vị Cứu Thế của Chúa Giêsu: Chúa nhân lành tự trời đến với loài người lầm than tội lỗi, Chúa tự hiến mình trên thánh giá để xoá tẩy mọi tội trần và thông ban ân sủng đời sống mới cho các tâm hồn.
Với một hiểu biết sâu xa về sứ mệnh Cứu Thế của Chúa Giêsu như vậy, hẳn thánh Luca đã nhiệt thành với nhiệm vụ phổ biến tin mừng Cứu Thế không kém gì thánh Phaolô. Nhưng ngài giảng đạo tại đâu, và chết như thế nào? Theo một tài liệu tìm thấy tại Constantinôpôli, thì thánh Luca giảng đạo tại Achaia và Beotia. Và sau cùng làm giám mục thành Thèbes. Trong bài tựa cuốn chú giải Phúc âm thánh Matthêu, thánh Giêrônimô nói rõ thánh Luca đã viết Phúc âm thứ ba tại Achaia và Beotia. Sau cùng, thánh Gauđenciô Brescia quả quyết thánh Luca cùng chịu tử đạo với thánh Anrê tại Patras, một tỉnh nhỏ thuộc Achaie.
Ngày nay thánh Luca là bổn mạng của các lương y và bác sĩ, ngài cũng là bổn mạng các nhà họa sĩ, vì theo một truyền thuyết, thì thánh nhân đã họa bức ảnh chân dung “Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp”.
Ngay từ đầu, Giáo hội vẫn kính thánh Luca vào ngày 18 tháng 10 hằng năm.
Kính xin thánh Luca thánh sử phù trợ cho chúng con được lòng tin mạnh mẽ và hăng hái như ngài, để chúng con đem tin mừng cứu độ đến cho những người còn chưa nhận biết Chúa.
|
15 thg 10, 2013
NGÀY 13 THÁNG 10
Ngày 13.10.1917, mưa như trút nước trên bãi Cova da Iria. Một đám đông khoảng 70.000 người - kể cả nhiều phóng viên chụp hình và các ký giả - tụ tập tại đây lần chuỗi Mân Côi. Khoảng giữa trưa, Đức Mẹ hiện ra với 3 em và yêu cầu cho xây 1 nguyện đường tại đây để ghi nhớ và tôn kính Đức Mẹ, cũng như những lần trước, Đức Mẹ lặp lại lời mời gọi mọi người hãy siêng năng lần chuỗi Mân Côi để thế giới được hòa bình. Cuối cùng Mẹ tha thiết mời gọi hãy ăn năn sám hối, quy hướng về Thiên Chúa.
Khi Đức Mẹ từ giã mọi người, thì mưa ngưng rơi, mặt trời xuất đầu lộ diện, tất cả mọi người đang hiện diện nơi Đức Mẹ hiện ra và ngay cả những người ở cách xa mấy dặm đều có thể nhìn thẳng vào mặt trời. Điều đặc biệt, như một vũ công tài ba, mặt trời nhảy múa, tung ra các chùm tia sáng nhiều màu trông rất ấn tượng và đẹp mắt, có lúc mặt trời xuống thấp, tưởng chừng như có thể sờ chạm vào được, có người vui sướng, nhưng cũng có nhiều người sợ hãi, sự lạ xẩy ra khoảng 10 phút, sau đó trở lại bình thường. Các nhà khoa học đã xác định chưa bao giờ có sự kiện như thế đối với mặt trời từ bao năm qua. (Nguồn: MeMaria.org)
Trong tâm tình ấy, hôm nay vào lúc 11g30 ngày 13.10.2013, kỷ niệm 96 năm (13.10.1917 - 13.10.2013) Mẹ hiện ra lần cuối với Sự lạ Fatima.
Cha chánh xứ Giuse, hai cha Phụ tá và cộng đoàn phụng vụ Gx.Thiên Ân đã làm giờ Đền tạ, lần chuỗi, cung nghinh Thánh tượng Mẹ chung quanh Thánh đường và hiệp dâng Thánh lễ đồng tế Tạ ơn và Đền tạ Trái Tim Mẹ.
Xin Mẹ hãy cầu bầu cho chúng con, cho thế giới và cho nhân loại hôm nay biết xây dựng hòa bình, sống trong tình hiệp nhất và yêu thương nhau.
Khi Đức Mẹ từ giã mọi người, thì mưa ngưng rơi, mặt trời xuất đầu lộ diện, tất cả mọi người đang hiện diện nơi Đức Mẹ hiện ra và ngay cả những người ở cách xa mấy dặm đều có thể nhìn thẳng vào mặt trời. Điều đặc biệt, như một vũ công tài ba, mặt trời nhảy múa, tung ra các chùm tia sáng nhiều màu trông rất ấn tượng và đẹp mắt, có lúc mặt trời xuống thấp, tưởng chừng như có thể sờ chạm vào được, có người vui sướng, nhưng cũng có nhiều người sợ hãi, sự lạ xẩy ra khoảng 10 phút, sau đó trở lại bình thường. Các nhà khoa học đã xác định chưa bao giờ có sự kiện như thế đối với mặt trời từ bao năm qua. (Nguồn: MeMaria.org)
Trong tâm tình ấy, hôm nay vào lúc 11g30 ngày 13.10.2013, kỷ niệm 96 năm (13.10.1917 - 13.10.2013) Mẹ hiện ra lần cuối với Sự lạ Fatima.
Cha chánh xứ Giuse, hai cha Phụ tá và cộng đoàn phụng vụ Gx.Thiên Ân đã làm giờ Đền tạ, lần chuỗi, cung nghinh Thánh tượng Mẹ chung quanh Thánh đường và hiệp dâng Thánh lễ đồng tế Tạ ơn và Đền tạ Trái Tim Mẹ.
Xin Mẹ hãy cầu bầu cho chúng con, cho thế giới và cho nhân loại hôm nay biết xây dựng hòa bình, sống trong tình hiệp nhất và yêu thương nhau.
Thánh Teresa Giesu Trinh nữ - Tiến Sĩ Hội Thánh
Thánh Têrêsa Avila
Thánh nữ Têrêsa sinh ngày 28 tháng Ba năm 1515 tại thành Avila, nước Tây Ban Nha. Từ khi còn là cô gái nhỏ trong gia đình giàu có, Têrêsa và người anh trai là Rôđrigô đã ham thích đọc truyện các thánh và các đấng tử đạo. Dường như đối với hai trẻ, các vị thánh tử đạo vào nước trời thật là dễ dàng! Rồi hai trẻ bí mật trẩy tới một miền đất xa lạ, hy vọng ở đây có thể được chết cho Đức Chúa Giêsu. Nhưng may thay, chưa đi được bao xa thì hai trẻ đã gặp người cậu! Lập tức, ông đem các trẻ về cho bà mẹ đang lo lắng của chúng. Rồi hai trẻ lại quyết định làm hai vị ẩn sĩ trong khu vườn của mình, nhưng việc này cũng chẳng thành công. Các trẻ không có đủ đá để xây các túp lều cho mình.Chính thánh nữ Têrêsa Avila đã viết lại các mẩu chuyện vui này khi kể về cuộc đời thơ ấu của ngài. Và sự việc là khi bước vào tuổi hoa niên, Têrêsa đã thay đổi hoàn toàn! Têrêsa Avila ham thích đọc quá nhiều truyện tiểu thuyết và các truyện lãng mạn ngốc nghếch đến nỗi ngài đã giảm lòng ham ước cầu nguyện. Têrêsa bắt đầu để ý nhiều về cách trang điểm để làm đẹp. Nhưng sau khi trải qua một cơn bạo bệnh, Têrêsa Avila đọc truyện thánh Giêrônimô. Và lập tức, Têrêsa Avila quyết định sẽ trở nên hiền thê của Đức Chúa Giêsu. Têrêsa Avila gia nhập dòng Cátminh năm 1536.
Cả khi đã khấn dòng, Têrêsa Avila vẫn thường cảm thấy khó cầu nguyện. Thêm vào đó, sức khỏe của thánh nữ rất yếu kém. Mỗi ngày, Têrêsa phung phí thời giờ vào những cuộc trò chuyện vô bổ. Thế rồi một ngày kia, khi đứng trước bức ảnh của Đức Chúa Giêsu, Têrêsa cảm thấy hết sức đau buồn vì đã chưa yêu mến Người cho đủ. Và thánh nữ bắt đầu tập sống cho riêng một mình Đức Chúa Giêsu dù phải hy sinh khó nhọc đến mức độ nào. Đáp lại tình yêu của Têrêsa, Chúa Giêsu đã ban cho thánh nữ đặc ân được nghe tiếng Chúa nói trong tâm hồn. Têrêsa Avila cũng học biết cầu nguyện cách tuyệt diệu. Thánh nữ nổi danh vì đã thiết lập thêm mười sáu tu viện Cátminh mới. Các tu viện này chứa đầy các nữ tu ham ước sống cuộc đời thánh thiện. Họ làm nhiều việc hy sinh vì lòng yêu mến Đức Chúa Giêsu. Chính Têrêsa Avila đã nêu gương sáng cho các nữ tu này. Thánh nữ cầu nguyện với rất nhiều tình yêu và thi hành các nhiệm vụ hằng ngày cách chăm chỉ.
Thánh nữ Têrêsa Avila là nhà lãnh đạo đại tài cũng như là một người rất mực yêu mến Đức Chúa Giêsu và Giáo hội. Têrêsa Avila về trời năm 1582 và được đức thánh cha Grêgôriô XV phong thánh năm 1622.
Đến năm 1970, đức thánh cha Phaolô VI đã tôn nhận Têrêsa Avila làm nữ Tiến sĩ Hội Thánh đầu tiên của Giáo hội Công giáo.
Bất cứ khi nào cần một chút “sức đẩy tinh thần” để cầu nguyện cách tập trung và yêu mến hơn, chúng ta có thể cầu xin với thánh Têrêsa Avila. Chúng ta hãy nài xin thánh nữ giúp chúng ta biết tìm những phương thế thực tiễn để có thể trung thành cầu nguyện mỗi ngày.
| SUSAN HELEN WALLACE, FSP |
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)