Hiển thị các bài đăng có nhãn SUY NIỆM. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn SUY NIỆM. Hiển thị tất cả bài đăng
18 thg 9, 2018
11 thg 1, 2015
DÒNG SÔNG ĐỊNH MỆNH
Chúa Nhật CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA - Năm B
DÒNG SÔNG ĐỊNH MỆNH
Có những dòng sông đã quyết định vận mạng cả dân tộc như Chương Dương, Bạch Đằng. Những dòng sông đã đưa cả vận nước tiến lên nhờ những phù sa màu mỡ chuyển mạch sống đến cho toàn dân như Hồng Hà, Cửu Long. Dòng sông đã nổi trôi theo vận nước như Bến hải, sông Gianh.
Nhưng một dòng sông chuyển đổi định mệnh cả nhân loại vì đã được diễm phúc ghi dấu hình ảnh Con Chúa và đón nhận những bước chân rộn rã của đoàn người hành hương tìm về nguồn ơn cứu độ. Dòng sông trở thành căn cứ xuất phát bước chân Đấng Cứu thế, khi thấy cảnh trời mở ra vang vọng tiếng Chúa Cha rung chuyển cả đất trời, át hẳn tiếng người đang thống hối ăn năn. Đó là dòng sông Giođan.
ĐIỂM HỘI TỤ
Ngày ấy mọi người tuốn đến lãnh nhận phép rửa, đã khuấy đục cả một khúc sông. Thấy từng đoàn dân chúng tuốn đến, chắc chắn Gioan Tẩy giả nức lòng phấn khởi. Còn gì vui hơn cho một nhà giảng thuyết! Tất cả đều sám hối, nhưng không hề buồn bã. Sám hối để đón chờ Đấng Messia thời cánh chung. Họ sống trong niềm hi vọng một cuộc giải thoát cho toàn dân.
“Hồi ấy, Đức Giêsu từ Nadarét miền Galilê đến, và được ông Gioan làm phép rửa dưới sông Giođan.” (Mc 1:9) Đức Giêsu đã nhập cuộc với đoàn lũ dân chúng. Người cũng xuống nước xin Gioan làm phép rửa, không phải để tỏ lòng sám hối, cũng không phải để sống niềm hi vọng Thiên sai. Vì chính Người là Vị Thiên sai vô tội đến hoàn thành lời hứa. Người nhập đoàn để đồng hóa với nhân loại tội lỗi. “Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta.” (2 Cr 5,21) Như vậy Người đã hoàn toàn sát nhập vào gia đình nhân loại.
Từ gia đình thiên giới, nơi Người sống mật thiết với Chúa Cha và Thánh Linh, Người đã giáng trần để thực hiện lời hứa xa xưa. Hôm nay xuống sông Giođan chịu phép rửa, Đức Giêsu đã cho thấy Người thuộc về hai gia đình. Cả hai đã hiệp nhất trong tình yêu, tình yêu Thiên Chúa nhập thể. Đó là sứ mệnh lớn lao của Người. Người là Chàng rể đến giới thiệu nàng dâu nhân loại cho Thiên Chúa. Khi lặn ngụp xuống giòng nước Giođan, Người đem trọn tình yêu của Ba ngôi dìm xuống dòng sông định mệnh của nhân loại. Nhưng “vừa lên khỏi nước, Người liền thấy các tầng trời xé ra, và thấy Thần Khí tựa chim bồ câu ngự xuống trên mình. Lại có tiếng từ trời phán rằng: “Con là Con yêu dấu của Cha, Cha hài lòng về Con.” (Mc 1:11) Chúa Cha đã xác nhận bản chất Đức Giêsu như “tình yêu Thiên Chúa đến với trần gian.” (KTTƯ 1995:183) Lời xác nhận đó vang lên như thuở mới tạo dựng đất trời, có chim bồ câu chứng kiến, một biểu tượng thật dễ thương, nhắc đến một cuộc tạo thành mới bắt đầu với Đức Giêsu (x.KTTƯ 1995:183).
Từ nay tương quan đất trời hoàn toàn thay đổi nhờ quyền lực Thánh Linh (x.Tt 3,5). Chính nhờ Thánh Linh, Đức Giêsu đã được xức dầu tấn phong làm Quân Vương cai trị muôn dân, (x. KTTƯ 1995:183) như Chúa đã hứa: “Ta cho thần khí Ta ngự trên Người.” (Is 42:1) Nhờ Thần khí, Người trở thành “Tôi Trung của Thiên Chúa có nhiệm vụ rao giảng, thực hiện công cuộc giải thoát và cứu độ”(KTTƯ 1995:183) cho muôn dân ngang qua cuộc tử nạn và phục sinh của Người. Bởi đấy khi bị dìm xuống nước, Người như đi vào cõi chết. Khi “vừa lên khỏi nước”, Người như đi vào cõi vĩnh hằng cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Nhưng Người không đi vào một mình. Nhờ Thánh Linh, ngang qua phép rửa là cái chết của Người, cả nhân loại sẽ cùng thừa hưởng gia nghiệp Nước Trời với Chúa. Như vậy, “tất cả lời hứa cứu độ trở thành hiện thực trong phép rửa” (Faley 1994:90).
Chính vì thế, “phép rửa của Đức Giêsu trong Thánh Thần chỉ toàn thể công trình cứu độ do Đức Giêsu khai mạc.” (KTTƯ 1995:182) Không có sức mạnh Thánh Linh, nhân loại cũng không thể gia nhập gia đình Thiên Chúa. Nhờ đó họ trở thành anh em với nhau. Đó là ơn gọi nguyên thủy của nhân loại.
ƠN GỌI NGUYÊN THỦY
Thế giới hôm nay thu nhỏ như một ngôi làng. Con người gần gũi nhau hơn bao giờ. Nhưng liệu những phương tiện truyền thông có đủ năng lực bảo đảm hòa bình cho nhân loại hay không? Thực ra, thế giới còn nhỏ hơn một ngôi làng. Tất cả nhân loại làm thành một gia đình, trong đó mọi người đều liên đới với nhau. Nền hòa bình thế giới sẽ tùy thuộc vào ý thức này. Thật vậy, “thế giới sẽ có hòa bình hay không tùy theo toàn thể nhân loại có biết tái khám phá ơn gọi nguyên thủy của mình là trở thành một gia đình duy nhất hay không, một gia đình trong đó phẩm giá và các quyền con người – bất luận là người thuộc giai tầng, chủng tộc hoặc tôn giáo nào – được xác quyết là những điều ưu tiên và trổi vượt hơn tất cả những khác biệt và những đặc tính khác của con người” (“Sứ Điệp Hòa Bình”; VietCatholic 1999:3).
Nếu thế, chiến tranh phát sinh từ lòng dạ hẹp hòi, ích kỷ của con người muốn tách mình ra khỏi gia đình duy nhất đó. Một khi chỉ biết tới quyền lợi riêng tư, người ta có thể chà đạp nhân phẩm kẻ khác. Thực tế, “những bất công, chênh lệch thái quá trong lãnh vực kinh tế hoặc xã hội, sự ghen tương, nghi kỵ và kiêu ngạo tác hại giữa con người và các quốc gia, không ngừng đe dọa hòa bình và gây ra chiến tranh.” (“Sứ Điệp Hòa Bình”; VietCatholic 1999:6) Đó là một thế giới không ai biết đến ai. Hòa bình chính là kết quả của tinh thần liên đới trách nhiệm và chia sẻ quyền lợi cho nhau. Ngày nay nhờ “tiến trình hoàn vũ hóa, người ta có được những cơ hội đặc biệt và đầy triển vọng để biến nhân loại thành một gia đình duy nhất thực sự, dựa trên những giá trị công bằng, ngay chính và liên đới” (“Sứ Điệp Hòa Bình”; VietCatholic 1999:3).
Nếu được xây dựng và mô phỏng trên tương quan giữa Ba Ngôi, tình liên đới đó chắc chắn sẽ tìm được sức sống mới. Vì nơi Ba Ngôi Thiên Chúa, tình yêu vô cùng phong phú và mãnh liệt. Người muốn chia sẻ đến tận cùng tình yêu đó cho nhân loại. Thật vậy, “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một,” (Ga 3:16) để con người có thể sống ơn gọi nguyên thủy bắt nguồn từ chính tình yêu Thiên Chúa. Nếu không sống tương quan với người khác như một gia đình, con người sẽ đánh mất vẻ tươi đẹp nhất, vì “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa.” (Stk 1,27) Không phải chỉ giống Thiên Chúa trong bản chất, nhưng cả trong tương quan nữa. Đó chính là nền tảng ơn gọi nguyên thủy của con người. Từ đó sứ mệnh con người được hoàn thành trong nỗ lực liên đới với anh em. Liên đới với anh em chính là đi vào tương quan với Thiên Chúa.
Tương quan thật sâu xa đó đã được thiết lập khi Đức Giêsu dìm mình trong dòng sông Giođan. Dòng sông định mệnh đó đã nối kết gia đình nhân loại với gia đình Thiên Chúa nhờ thần lực của Con Thiên Chúa làm người. Dòng nước thanh tẩy cũng đã trả lại cho chúng ta mối tương quan thâm sâu và vô cùng ý nghĩa đó. Nếu thực sự đang sống trong tương quan với anh em, chúng ta có sẵn sàng cộng tác với người khác để xây dựng cộng đoàn không? Chúng ta có tôn trọng nhân phẩm và tạo điều kiện cho người khác phát triển không? Thời cánh chung đã điểm khi Đức Giêsu xuất hiện trong dòng sông định mệnh Giođan. Bạn còn đợi tới bao giờ mới thiết lập tương quan với Thiên Chúa và anh em trong tiến trình đi lên hôm nay?
Lm. Giuse Đỗ Vân Lực2 thg 11, 2014
Tháng 11 - XIN ĐỪNG QUÊN
"Xin nhớ rằng: đời con là một kiếp phù du,
loài người Chúa dựng nên thật mỏng manh quá đỗi!
Sống làm người, ai không phải chết?
Ai cứu nổi mình thoát quyền lực âm ty?" (Tv 89:48-49)
Tháng 11: Tháng TRI ÂN - BÁO HIẾU. Cầu cho các linh hồn,
nhưng.... XIN ĐỪNG QUÊN....
19 thg 7, 2014
Hài lòng về Người – Thứ bảy Tuần 15 Thường niên
Lời Chúa: Mt 12, 14-21
Suy niệm
Chúng ta đã từng thấy một Đức Giêsu đầy uy quyền
trong Bài Giảng trên núi và trong các phép lạ (Mt 6-9).
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy một Đức Giêsu ở vào thế yếu.
Khi biết nhóm Pharisêu tìm cách giết mình thì Ngài lánh đi (c. 15).
Ngài đã lánh đi nhiều lần khi gặp chống đối và đe dọa.
Ngài lánh đi khi nghe tin Gioan bị nộp, rồi bị giết (Mt 4, 12; 14, 13).
Đức Giêsu không đối đầu với kẻ bách hại như Ngài đã dạy môn đệ (Mt 10, 23).
Ngài chỉ đón lấy cái chết khi Cha muốn.
Đức Giêsu có tiếng tăm nhưng cũng rất âm thầm.
Ngài chữa bệnh cho đám đông theo Ngài, nhưng lại muốn giữ kín (c. 16).
Ngài không muốn những phô trương rầm rộ, những biểu dương hoành tráng.
Đây là chọn lựa của Ngài ngay từ đầu sứ vụ
khi Ngài từ chối không nhảy xuống từ nóc đền thờ để người ta vỗ tay.
Và Ngài đã sống sự âm thầm này đến cuối đời
khi Ngài không bước xuống khỏi thập giá để được kẻ thù tin kính.
Sự phục sinh của Ngài có thể nói cũng là chuyện âm thầm,
vì Ngài chỉ hiện ra với các môn đệ của Ngài (1 Cr 15, 5-8).
Ngài chẳng hiện ra để đòi mạng Philatô, Caipha, Hêrốt…
Giáo hội nhỏ bé của Ngài cũng đã âm thầm lớn lên sau hai mươi thế kỷ.
Giáo hội này vẫn từ chối dùng quyền lực và bạo lực để xây dựng Nước Trời.
Các kitô hữu đầu tiên đã thấy khuôn mặt người Tôi Trung nơi Đức Giêsu.
Đức Giêsu đã làm trọn từng nét của người Tôi Trung này (Is 42, 1-4).
Đây là người được Thiên Chúa yêu mến, tuyển chọn và hài lòng,
là người có Thần Khí Thiên Chúa, để được sai đến với muôn dân.
Người Tôi Trung này sẽ loan báo công lý trước muôn dân,
và sẽ đưa công lý đến toàn thắng (c. 20).
Tuy nhiên việc loan báo của người Tôi Trung này lại không ồn ào.
“Người sẽ không cãi vã, không kêu to,
chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng giữa phố phường” (c. 19).
Đức Giêsu đã loan báo Tin Mừng như một lời mời gọi.
Ngài không dùng quyền năng Cha ban để đe dọa hay làm hại ai,
nhưng để phục vụ mọi người trong âm thầm và khiêm hạ.
Không bẻ gẫy cây lau bị giập, không làm tắt tim đèn leo lét (c. 20).
Nâng niu những gì còn có chút hy vọng,
gìn giữ những sự sống mong manh và khơi dậy những thiện chí còn ẩn dấu.
Đó là điều Đức Giêsu vẫn làm khi đến với những người bị loại trừ,
những tội nhân và người thu thuế.
Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đã nhắn nhủ các Đức Giám Mục Việt Nam
trong buổi triều yết ngày 27-6-2009 như sau :
“Trong tinh thần đối thoại và hợp tác tôn trọng nhau,
chỉ mong Giáo hội có thể góp phần xứng đáng vào sinh hoạt quốc gia,
vào việc phục vụ tất cả người dân.”
Xin cho chúng ta biết sống phục vụ như người Tôi Trung Giêsu
để “xây dựng một xã hội công bằng, liên đới và bình đẳng.”
Lời nguyện
Lạy Thầy Giêsu,
Thầy không gọi chúng con là tôi tớ,
Thầy cũng không chỉ coi chúng con là môn đệ.
Thầy còn coi chúng con như bạn hữu của Thầy,
Vì Thầy đã thổ lộ cho chúng con
Những điều riêng tư thầm kín nhất
Trong tương quan giữa Thầy với Cha.
Hơn nữa, sau phục sinh,
Thầy đã gọi các môn đệ là anh em.
Mặc nhiên Thầy tự nhận mình là Anh Trưởng
Đứng đầu một đoàn em đông đúc.
Xin cho chúng con
Luôn thi hành ý muốn của Cha
Để trở nên những người em
Cùng huyết nhục với Thầy.
Lạy Thầy Giêsu, Thầy đã nâng chúng con lên
Làm môn đệ, làm bạn, làm anh em của Thầy.
Còn Thầy lại hạ mình xuống
Phục vụ chúng con như người tôi tớ,
Rửa chân cho chúng con như một nôlệ
Và chết thay cho chúng con trên thập giá.
Xin cho chúng con hiểu được tấm lòng của Thầy
Và sống yêu thương mọi người như anh em. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
14 Ra khỏi đó, nhóm Pha-ri-sêu bàn bạc để tìm cách giết Đức Giê-su.15 Biết vậy, Đức Giê-su lánh khỏi nơi đó. Dân chúng theo Người đông đảo và Người chữa lành hết.16 Người còn cấm họ không được tiết lộ Người là ai.17 Như thế là để ứng nghiệm lời ngôn sứ I-sai-a đã nói:18
“Đây là người Tôi Trung Ta đã tuyển chọn, đây là người Ta yêu dấu:
Ta hài lòng về Người. Ta cho Thần Khí Ta ngự trên Người.
Người sẽ loan báo công lý trước muôn dân.19
Người sẽ không cãi vã, không kêu to,
chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng giữa phố phường.20
Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy,
tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi,
cho đến khi Người đưa công lý đến toàn thắng,21
và muôn dân đặt niềm hy vọng nơi danh Người.
Ta hài lòng về Người. Ta cho Thần Khí Ta ngự trên Người.
Người sẽ loan báo công lý trước muôn dân.19
Người sẽ không cãi vã, không kêu to,
chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng giữa phố phường.20
Cây lau bị giập, Người không đành bẻ gãy,
tim đèn leo lét, chẳng nỡ tắt đi,
cho đến khi Người đưa công lý đến toàn thắng,21
và muôn dân đặt niềm hy vọng nơi danh Người.
Chúng ta đã từng thấy một Đức Giêsu đầy uy quyền
trong Bài Giảng trên núi và trong các phép lạ (Mt 6-9).
Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy một Đức Giêsu ở vào thế yếu.
Khi biết nhóm Pharisêu tìm cách giết mình thì Ngài lánh đi (c. 15).
Ngài đã lánh đi nhiều lần khi gặp chống đối và đe dọa.
Ngài lánh đi khi nghe tin Gioan bị nộp, rồi bị giết (Mt 4, 12; 14, 13).
Đức Giêsu không đối đầu với kẻ bách hại như Ngài đã dạy môn đệ (Mt 10, 23).
Ngài chỉ đón lấy cái chết khi Cha muốn.
Đức Giêsu có tiếng tăm nhưng cũng rất âm thầm.
Ngài chữa bệnh cho đám đông theo Ngài, nhưng lại muốn giữ kín (c. 16).
Ngài không muốn những phô trương rầm rộ, những biểu dương hoành tráng.
Đây là chọn lựa của Ngài ngay từ đầu sứ vụ
khi Ngài từ chối không nhảy xuống từ nóc đền thờ để người ta vỗ tay.
Và Ngài đã sống sự âm thầm này đến cuối đời
khi Ngài không bước xuống khỏi thập giá để được kẻ thù tin kính.
Sự phục sinh của Ngài có thể nói cũng là chuyện âm thầm,
vì Ngài chỉ hiện ra với các môn đệ của Ngài (1 Cr 15, 5-8).
Ngài chẳng hiện ra để đòi mạng Philatô, Caipha, Hêrốt…
Giáo hội nhỏ bé của Ngài cũng đã âm thầm lớn lên sau hai mươi thế kỷ.
Giáo hội này vẫn từ chối dùng quyền lực và bạo lực để xây dựng Nước Trời.
Các kitô hữu đầu tiên đã thấy khuôn mặt người Tôi Trung nơi Đức Giêsu.
Đức Giêsu đã làm trọn từng nét của người Tôi Trung này (Is 42, 1-4).
Đây là người được Thiên Chúa yêu mến, tuyển chọn và hài lòng,
là người có Thần Khí Thiên Chúa, để được sai đến với muôn dân.
Người Tôi Trung này sẽ loan báo công lý trước muôn dân,
và sẽ đưa công lý đến toàn thắng (c. 20).
Tuy nhiên việc loan báo của người Tôi Trung này lại không ồn ào.
“Người sẽ không cãi vã, không kêu to,
chẳng ai nghe thấy Người lên tiếng giữa phố phường” (c. 19).
Đức Giêsu đã loan báo Tin Mừng như một lời mời gọi.
Ngài không dùng quyền năng Cha ban để đe dọa hay làm hại ai,
nhưng để phục vụ mọi người trong âm thầm và khiêm hạ.
Không bẻ gẫy cây lau bị giập, không làm tắt tim đèn leo lét (c. 20).
Nâng niu những gì còn có chút hy vọng,
gìn giữ những sự sống mong manh và khơi dậy những thiện chí còn ẩn dấu.
Đó là điều Đức Giêsu vẫn làm khi đến với những người bị loại trừ,
những tội nhân và người thu thuế.
Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đã nhắn nhủ các Đức Giám Mục Việt Nam
trong buổi triều yết ngày 27-6-2009 như sau :
“Trong tinh thần đối thoại và hợp tác tôn trọng nhau,
chỉ mong Giáo hội có thể góp phần xứng đáng vào sinh hoạt quốc gia,
vào việc phục vụ tất cả người dân.”
Xin cho chúng ta biết sống phục vụ như người Tôi Trung Giêsu
để “xây dựng một xã hội công bằng, liên đới và bình đẳng.”
Lời nguyện
Lạy Thầy Giêsu,
Thầy không gọi chúng con là tôi tớ,
Thầy cũng không chỉ coi chúng con là môn đệ.
Thầy còn coi chúng con như bạn hữu của Thầy,
Vì Thầy đã thổ lộ cho chúng con
Những điều riêng tư thầm kín nhất
Trong tương quan giữa Thầy với Cha.
Hơn nữa, sau phục sinh,
Thầy đã gọi các môn đệ là anh em.
Mặc nhiên Thầy tự nhận mình là Anh Trưởng
Đứng đầu một đoàn em đông đúc.
Xin cho chúng con
Luôn thi hành ý muốn của Cha
Để trở nên những người em
Cùng huyết nhục với Thầy.
Lạy Thầy Giêsu, Thầy đã nâng chúng con lên
Làm môn đệ, làm bạn, làm anh em của Thầy.
Còn Thầy lại hạ mình xuống
Phục vụ chúng con như người tôi tớ,
Rửa chân cho chúng con như một nôlệ
Và chết thay cho chúng con trên thập giá.
Xin cho chúng con hiểu được tấm lòng của Thầy
Và sống yêu thương mọi người như anh em. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
18 thg 7, 2014
Ta muốn lòng nhân – Thứ sáu Tuần 15 Thường niên
LỜI CHÚA: Mt 12, 1- 8
1 Hôm ấy, vào ngày sa-bát, Đức Giê-su đi băng qua một cánh đồng lúa; các môn đệ thấy đói và bắt đầu bứt lúa ăn.2 Người Pha-ri-sêu thấy vậy, mới nói với Đức Giê-su: “Ông coi, các môn đệ ông làm điều không được phép làm ngày sa-bát! “3 Người đáp: “Các ông chưa đọc trong Sách sao? Ông Đa-vít đã làm gì, khi ông và thuộc hạ đói bụng?4 Ông vào nhà Thiên Chúa, và đã cùng thuộc hạ ăn bánh tiến. Thứ bánh này, họ không được phép ăn, chỉ có tư tế mới được ăn mà thôi.5 Hay các ông chưa đọc trong sách Luật rằng ngày sa-bát, các tư tế trong Đền Thờ vi phạm luật sa-bát mà không mắc tội đó sao?6 Tôi nói cho các ông hay: ở đây còn lớn hơn Đền Thờ nữa. -7Nếu các ông hiểu được ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế, ắt các ông đã chẳng lên án kẻ vô tội.8 Quả thế, Con Người làm chủ ngày sa-bát.”
SUY NIỆM
Đức Khổng Tử đòi người quân tử phải có năm đức tính gọi là ngũ thường.
Đứng đầu của ngũ thường là lòng nhân.
Ngài viết : “Người quân tử mà bỏ đức nhân thì làm sao được gọi là quân tử?
Người quân tử dù trong một bữa ăn cũng không làm trái điều nhân,
dù trong lúc vội vàng cũng theo điều nhân” (Luận Ngữ, IV, 5).
Trong giáo huấn của Đức Giêsu, lòng nhân có một chỗ đứng đặc biệt.
Hai lần câu này của ngôn sứ Hôsê được trích dẫn trong Mátthêu :
“Ta muốn lòng nhân, chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9, 13; 12, 7).
Xem ra câu này không dễ hiểu, nên Ngài khuyên ta học cho biết ý nghĩa.
Đứng đầu của ngũ thường là lòng nhân.
Ngài viết : “Người quân tử mà bỏ đức nhân thì làm sao được gọi là quân tử?
Người quân tử dù trong một bữa ăn cũng không làm trái điều nhân,
dù trong lúc vội vàng cũng theo điều nhân” (Luận Ngữ, IV, 5).
Trong giáo huấn của Đức Giêsu, lòng nhân có một chỗ đứng đặc biệt.
Hai lần câu này của ngôn sứ Hôsê được trích dẫn trong Mátthêu :
“Ta muốn lòng nhân, chứ đâu cần lễ tế” (Mt 9, 13; 12, 7).
Xem ra câu này không dễ hiểu, nên Ngài khuyên ta học cho biết ý nghĩa.
Giữ ngày sabát là điều rất quan trọng trong Do-thái giáo.
Theo Luật Chúa, đó là ngày nghỉ ngơi, ngừng mọi công việc.
Đối với người Pharisêu, bứt lúa được xem như gặt lúa, nên là việc bị cấm làm.
Hành vi bứt lúa của các môn đệ bị coi là vi phạm ngày sa-bát.
Thay vì trách họ theo lời người Pharisêu, Thầy Giêsu lại bênh vực họ.
Ngài trưng dẫn trường hợp Đavít và các thuộc hạ khi đói bụng,
đã ăn bánh thánh hiến vốn dành riêng cho các tư tế (Lv 24,5-9; 1 Sm 21,1-6).
Hiển nhiên đây là chuyện vi phạm Lề Luật vì có nhu cầu chính đáng.
Nếu chấp nhận chuyện Đavít thì càng phải chấp nhận chuyện của các môn đệ,
vì họ đi theo một Đấng mà Đavít phải gọi là Chúa (Mt 22, 43).
Luật giữ ngày sabát thật ra không phải là một đòi buộc luân lý tuyệt đối.
Các tư tế phải làm việc phụng sự Chúa, chuẩn bị các lễ vật vào ngày sabát.
Nếu họ được phép vi phạm ngày sabát mà không mắc tội (c. 5),
thì huống hồ là Thầy Giêsu và các môn đệ của Ngài,
những người làm việc cho Nước Trời, nhưng lại phải chịu đói nên mới bứt lúa.
Theo Luật Chúa, đó là ngày nghỉ ngơi, ngừng mọi công việc.
Đối với người Pharisêu, bứt lúa được xem như gặt lúa, nên là việc bị cấm làm.
Hành vi bứt lúa của các môn đệ bị coi là vi phạm ngày sa-bát.
Thay vì trách họ theo lời người Pharisêu, Thầy Giêsu lại bênh vực họ.
Ngài trưng dẫn trường hợp Đavít và các thuộc hạ khi đói bụng,
đã ăn bánh thánh hiến vốn dành riêng cho các tư tế (Lv 24,5-9; 1 Sm 21,1-6).
Hiển nhiên đây là chuyện vi phạm Lề Luật vì có nhu cầu chính đáng.
Nếu chấp nhận chuyện Đavít thì càng phải chấp nhận chuyện của các môn đệ,
vì họ đi theo một Đấng mà Đavít phải gọi là Chúa (Mt 22, 43).
Luật giữ ngày sabát thật ra không phải là một đòi buộc luân lý tuyệt đối.
Các tư tế phải làm việc phụng sự Chúa, chuẩn bị các lễ vật vào ngày sabát.
Nếu họ được phép vi phạm ngày sabát mà không mắc tội (c. 5),
thì huống hồ là Thầy Giêsu và các môn đệ của Ngài,
những người làm việc cho Nước Trời, nhưng lại phải chịu đói nên mới bứt lúa.
Đức Giêsu không có thái độ bất kính với ngày sabát.
Nhưng Ngài là chủ ngày sabát, Ngài có quyền xác định điều gì được phép làm.
Ngài thấy gánh nặng đè lên con người bởi những cấm đoán chi li,
khiến con người ngột ngạt, mệt mỏi.
Giữ Luật phải đem lại cho con người hạnh phúc,
phải đi với lòng nhân.
Giữ Luật mà cứng nhắc, thiếu lòng nhân, lòng bao dung,
thì đó là thứ hy lễ Chúa không cần (Hs 6, 6).
Thật ra không có sự đối nghịch giữa luật lệ với lòng nhân.
Giữ luật là cách biểu lộ lòng nhân, vì luật trên hết là luật yêu thương.
Người giữ luật thực sự là người có khuôn mặt vui tươi và trái tim rộng mở.
Nhưng Ngài là chủ ngày sabát, Ngài có quyền xác định điều gì được phép làm.
Ngài thấy gánh nặng đè lên con người bởi những cấm đoán chi li,
khiến con người ngột ngạt, mệt mỏi.
Giữ Luật phải đem lại cho con người hạnh phúc,
phải đi với lòng nhân.
Giữ Luật mà cứng nhắc, thiếu lòng nhân, lòng bao dung,
thì đó là thứ hy lễ Chúa không cần (Hs 6, 6).
Thật ra không có sự đối nghịch giữa luật lệ với lòng nhân.
Giữ luật là cách biểu lộ lòng nhân, vì luật trên hết là luật yêu thương.
Người giữ luật thực sự là người có khuôn mặt vui tươi và trái tim rộng mở.
Khi yêu thì người ta trở nên chi li.
Không phải chi li để xét đoán người khác.
Nhưng chi li vì thấy những nhu cầu nhỏ bé của tha nhân.
Chỉ xin giữ mọi luật lệ nhỏ bé thật chi li, chỉ vì yêu bằng tình yêu quá lớn.
LỜI NGUYỆN
Không phải chi li để xét đoán người khác.
Nhưng chi li vì thấy những nhu cầu nhỏ bé của tha nhân.
Chỉ xin giữ mọi luật lệ nhỏ bé thật chi li, chỉ vì yêu bằng tình yêu quá lớn.
LỜI NGUYỆN
Lạy Chúa GiêSu, vì con bé nhỏ
nên xin yêu Ngài bằng khả năng bé nhỏ của con.
nên xin yêu Ngài bằng khả năng bé nhỏ của con.
Cho con biết yêu
những công việc bé nhỏ mỗi ngày
những công việc âm thầm
những bổn phận mà con làm vì yêu mến.
Cho con biết yêu những hy sinh bé nhỏ mỗi ngày,
vui lòng đón nhận những thánh giá tuy nhỏ
nhưng làm tim con đau đớn.
những công việc bé nhỏ mỗi ngày
những công việc âm thầm
những bổn phận mà con làm vì yêu mến.
Cho con biết yêu những hy sinh bé nhỏ mỗi ngày,
vui lòng đón nhận những thánh giá tuy nhỏ
nhưng làm tim con đau đớn.
Cho con biết yêu tinh thần bé nhỏ của trẻ thơ,
đơn sơ thú nhận mình yếu đuối và bất lực
sung sướng nương tựa vào duy một mình Chúa.
đơn sơ thú nhận mình yếu đuối và bất lực
sung sướng nương tựa vào duy một mình Chúa.
Hơn nữa , xin cho con can đảm
dám chọn những gì giúp con nên nhỏ bé hơn
nhờ đó con vui tươi phục vụ mọi người
và hạnh phúc khi thấy Chúa lớn lên trong con.
dám chọn những gì giúp con nên nhỏ bé hơn
nhờ đó con vui tươi phục vụ mọi người
và hạnh phúc khi thấy Chúa lớn lên trong con.
Mỗi lần bị cám dỗ tự cao,
xin cho con biết ngắm nhìn con đường Chúa đã đi
con đường bé nhỏ và khiêm hạ.
xin cho con biết ngắm nhìn con đường Chúa đã đi
con đường bé nhỏ và khiêm hạ.
Ước gì con được làm bạn của Chúa
trên đường từ BeLem đến Núi Sọ
và được ở bên Chúa trong Nước Trời .
Amen
trên đường từ BeLem đến Núi Sọ
và được ở bên Chúa trong Nước Trời .
Amen
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
16 thg 7, 2014
Hiền hậu và khiêm nhường – Thứ năm Tuần 15 Thường niên
Lời Chúa: Mt 11,28-30
Khi ấy, Đức Giêsu nói với dân chúng rằng: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng.”
Suy niệm:
Sống làm người ở đời ai tránh được gánh nặng.
Chẳng phải chỉ những người bốc vác ở cảng mới mang gánh nặng.
Gánh nặng gắn liền với phận người.
Có gánh nặng gia đình, gánh nặng nghề nghiệp, gánh nặng tuổi tác.
Có gánh nặng buồn đau của quá khứ, gánh nặng lo âu cho tương lai.
Xem ra mỗi người không vác nổi gánh nặng của mình.
Chẳng phải chỉ những người bốc vác ở cảng mới mang gánh nặng.
Gánh nặng gắn liền với phận người.
Có gánh nặng gia đình, gánh nặng nghề nghiệp, gánh nặng tuổi tác.
Có gánh nặng buồn đau của quá khứ, gánh nặng lo âu cho tương lai.
Xem ra mỗi người không vác nổi gánh nặng của mình.
Ai cũng thấy có lúc cần đến người khác.
Đức Giêsu nhìn thấy những ai đang mang gánh nặng vào thời của Ngài.
Đặc biệt những kẻ phải giữ chi li hơn 600 điều luật của phái Pharisêu.
Luật Chúa lẽ ra phải đem đến niềm vui hạnh phúc,
thì lại trở thành “những gánh nặng chất lên vai người ta” (Mt 23, 4).
Đức Giêsu mời đến với Ngài tất cả những ai đang vất vả,
tất cả những ai chưa là môn đệ của Ngài.
Ngài hứa sẽ cho họ được nghỉ ngơi trong tâm hồn (cc. 28. 29).
Đặc biệt những kẻ phải giữ chi li hơn 600 điều luật của phái Pharisêu.
Luật Chúa lẽ ra phải đem đến niềm vui hạnh phúc,
thì lại trở thành “những gánh nặng chất lên vai người ta” (Mt 23, 4).
Đức Giêsu mời đến với Ngài tất cả những ai đang vất vả,
tất cả những ai chưa là môn đệ của Ngài.
Ngài hứa sẽ cho họ được nghỉ ngơi trong tâm hồn (cc. 28. 29).
Sự nghỉ ngơi ở đây chính là sự bình an sâu xa của người được cứu độ,
được hưởng các mối phúc ngay từ bây giờ,
và bắt đầu được sống trong ngày Sabát vĩnh cửu với Thiên Chúa.
“Hãy đến với tôi; hãy mang ách của tôi; hãy học với tôi.”
Lời mời của Đức Giêsu lôi kéo những ai vất vả đến với Ngài.
Ngài mời họ làm môn đệ và sống theo giáo huấn của Ngài.
Trong Cựu Ước, ách tượng trưng cho Luật Thiên Chúa ban cho Môsê
Đi theo làm học trò Đức Giêsu, không phải là không có ách.
Ách của Đức Giêsu chính là lời giáo huấn của Ngài.
Lời giáo huấn ấy chúng ta đã được nghe trong Bài Giảng trên núi.
“Ách của tôi êm ái và gánh của tôi nhẹ nhàng” (c. 30).
Nhiều người không hiểu tại sao Đức Giêsu lại bảo ách mình êm ái,
khi mà Ngài đưa ra những đòi hỏi triệt để hơn,
tận căn hơn những đòi hỏi của Luật được giải thích bởi Môsê.
Thật ra sự êm ái nhẹ nhàng không bắt nguồn từ việc được đòi hỏi ít hơn,
nhưng đến từ tình yêu của tôi đối với Đức Giêsu.
Bài Tin Mừng hôm nay có 7 chữ tôi.
Cái tôi hiền hậu và khiêm nhường của Đức Giêsu thu hút tôi mến Ngài
Chính tình yêu làm cho ách và gánh của Ngài trở nên êm nhẹ.
Người ta thấy nặng nề khi bị áp lực phải giữ các luật lệ bên ngoài,
nhưng lại dễ làm theo sự thúc đẩy của một tình yêu bên trong.
Tự do hơn và vui tươi hơn, đó là điều ta cảm thấy khi sống cho Giêsu.
Làm sao để việc giữ đạo, theo đạo, sống đạo,
không trở thành một gánh nặng đè trên người Kitô hữu?
Làm sao để chúng ta tự do hơn và vui tươi hơn khi đến gặp Giêsu
và tìm được sự nghỉ ngơi cho tâm hồn mình?
không trở thành một gánh nặng đè trên người Kitô hữu?
Làm sao để chúng ta tự do hơn và vui tươi hơn khi đến gặp Giêsu
và tìm được sự nghỉ ngơi cho tâm hồn mình?
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã yêu trái đất này,
và đã sống trọn phận người ở đó.
Chúa đã nếm biết
nỗi khổ đau và hạnh phúc,
sự bi đát và cao cả của phận người.
Chúa đã yêu trái đất này,
và đã sống trọn phận người ở đó.
Chúa đã nếm biết
nỗi khổ đau và hạnh phúc,
sự bi đát và cao cả của phận người.
Xin dạy chúng con biết đường lên trời,
nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.
nhờ sống yêu thương đến hiến mạng cho anh em.
Khi ngước nhìn lên quê hương vĩnh cửu,
chúng con thấy mình được thêm sức mạnh
để xây dựng trái đất này,
và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.
chúng con thấy mình được thêm sức mạnh
để xây dựng trái đất này,
và chuẩn bị nó đón ngày Chúa trở lại.
Lạy Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Thiên Chúa,
xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời
không làm chúng con quên trời cao;
và những vẻ đẹp của trần gian
không ngăn bước chân con tiến về bên Chúa.
xin cho những vất vả của cuộc sống ở đời
không làm chúng con quên trời cao;
và những vẻ đẹp của trần gian
không ngăn bước chân con tiến về bên Chúa.
Ước gì qua cuộc sống hằng ngày của chúng con,
mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện.
mọi người thấy Nước Trời đang tỏ hiện.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
15 thg 7, 2014
Không sám hối – Thứ ba Tuần 15 Thường niên
Lời Chúa: Mt 11, 20-24
20 Bấy giờ Người bắt đầu quở trách các thành đã chứng kiến phần lớn các phép lạ Người làm mà không sám hối:21 “Khốn cho ngươi, hỡi Kho-ra-din! Khốn cho ngươi, hỡi Bết-xai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi các ngươi mà được làm tại Tia và Xi-đôn, thì họ đã mặc áo vải thô, rắc tro lên đầu tỏ lòng sám hối.22 Vì thế, Ta nói cho các ngươi hay: đến ngày phán xét, thành Tia và thành Xi-đôn còn được xử khoan hồng hơn các ngươi.23 Còn ngươi nữa, hỡi Ca-phác-na-um, ngươi tưởng sẽ được nâng lên đến tận trời ư? Ngươi sẽ phải nhào xuống tận âm phủ! Vì nếu các phép lạ đã làm nơi ngươi mà được làm tại Xơ-đôm, thì thành ấy đã tồn tại cho đến ngày nay.24 Vì thế, Ta nói cho các ngươi hay: đến ngày phán xét, đất Xơ-đôm còn được xử khoan hồng hơn các ngươi.”
Suy niệm
Lời giảng đầu tiên của Đức Giêsu là một lời mời sám hối (Mt 4, 17).
Những phép lạ Ngài làm cũng là một lời mời tương tự.
Phép lạ không phải chỉ là những biểu lộ của uy quyền và tình thương.
nhằm vén mở khuôn mặt của Thiên Chúa và của Con Ngài.
Phép lạ còn là lời mời gọi đổi đời, vì Nước Trời đã gần đến.
Đức Giêsu quở trách các thành đã lần lữa không chịu sám hối,
dù họ đã được chứng kiến phần lớn các phép lạ Ngài làm (c. 20).
Những phép lạ Ngài làm cũng là một lời mời tương tự.
Phép lạ không phải chỉ là những biểu lộ của uy quyền và tình thương.
nhằm vén mở khuôn mặt của Thiên Chúa và của Con Ngài.
Phép lạ còn là lời mời gọi đổi đời, vì Nước Trời đã gần đến.
Đức Giêsu quở trách các thành đã lần lữa không chịu sám hối,
dù họ đã được chứng kiến phần lớn các phép lạ Ngài làm (c. 20).
“Khốn cho ngươi, hỡi Khoradin ! Khốn cho ngươi, hỡi Bếtsaiđa !”
Đức Giêsu đã kêu than như một ngôn sứ, buồn phiền và đau đớn,
trước sự cứng lòng của những nơi mà Ngài đã đặt chân và thi ân.
Đức Giêsu đã kêu than như một ngôn sứ, buồn phiền và đau đớn,
trước sự cứng lòng của những nơi mà Ngài đã đặt chân và thi ân.
Khoradin là một vùng ở tây bắc của Hồ Galilê (Mc 10, 13).
Nay chỉ còn là cánh đồng gạch vụn, với dấu tích của một hội đường.
Bếtsaiđa nghĩa là “nhà của cá”, nằm nơi sông Giođan đổ vào Hồ nói trên.
Thành này ngày nay cũng biến mất, có lẽ vì bị tràn ngập bởi phù sa.
Đức Giêsu đã so sánh hai thành này với hai thành dân ngoại Tia và Xiđôn.
Nếu Tia và Xiđôn nhận được sự hiện diện của Đức Giêsu,
hẳn họ đã ăn năn sám hối từ lâu rồi (c. 21).
Caphácnaum được coi là trụ sở của Đức Giêsu khi thi hành sứ vụ.
Nơi đây Ngài đã làm bao điều tốt lành (Mt 4, 13; 8, 5; 9, 1; 17, 24).
Vậy mà có vẻ nó lại không muốn đón nhận Đấng mang ơn cứu độ.
Phải chăng vì nó đã tự hào, tự cao trước những ơn Chúa ban ?
“Ngươi sẽ được đưa lên tới tận trời sao ? Ngươi sẽ bị tống xuống âm phủ.”
Nơi đây Ngài đã làm bao điều tốt lành (Mt 4, 13; 8, 5; 9, 1; 17, 24).
Vậy mà có vẻ nó lại không muốn đón nhận Đấng mang ơn cứu độ.
Phải chăng vì nó đã tự hào, tự cao trước những ơn Chúa ban ?
“Ngươi sẽ được đưa lên tới tận trời sao ? Ngươi sẽ bị tống xuống âm phủ.”
Đức Giêsu dám so sánh Caphácnaum với Sơđôm.
Sơđôm là một thành phố trụy lạc, đã bị thiêu hủy hoàn toàn (St 19, 25).
Ngài cho rằng Sơđôm mà được thấy những điều kỳ diệu Ngài làm,
hẳn nó đã hoán cải và còn tồn tại đến nay (c. 23).
Sơđôm là một thành phố trụy lạc, đã bị thiêu hủy hoàn toàn (St 19, 25).
Ngài cho rằng Sơđôm mà được thấy những điều kỳ diệu Ngài làm,
hẳn nó đã hoán cải và còn tồn tại đến nay (c. 23).
Đến ngày phán xét, con người sẽ bị xét xử theo điều mình đã lãnh nhận.
Lãnh ít thì sẽ được khoan hồng nhiều hơn.
Mỗi người chúng ta thật sự chẳng rõ mình đã nhận được bao nhiêu.
Chúng ta dễ có thái độ tự cao của những người được gần gũi Chúa.
“Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt Ngài,
và Ngài cũng đã từng dạy dỗ trên các đường phố của chúng tôi” (Lc 13,26).
Lãnh ít thì sẽ được khoan hồng nhiều hơn.
Mỗi người chúng ta thật sự chẳng rõ mình đã nhận được bao nhiêu.
Chúng ta dễ có thái độ tự cao của những người được gần gũi Chúa.
“Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt Ngài,
và Ngài cũng đã từng dạy dỗ trên các đường phố của chúng tôi” (Lc 13,26).
Nhưng điều quan trọng không phải là đã nghe giảng và đã thấy phép lạ.
Điều quan trọng là sám hối.
Những ơn lộc Chúa ban cho đời kitô hữu lại đòi ta phải hoán cải nhiều hơn.
Chúng ta không thể coi mình là Caphácnaum để khinh Xơđôm được.
Thiên Chúa xét xử theo điều Ngài ban cho từng con người,
từng nền văn hóa hay văn minh, từng vùng đất hay từng tôn giáo.
Làm sao tôi có thể thấy được những phép lạ Chúa làm cho tôi mỗi ngày ?
Có những phép lạ xảy ra đều đặn và bình thường nên tôi không nhận ra.
Mỗi cử chỉ yêu thương tôi nhận được cũng là phép lạ.
Mong tôi đáp lại phép lạ đó bằng một cử chỉ yêu thương.
Có những phép lạ xảy ra đều đặn và bình thường nên tôi không nhận ra.
Mỗi cử chỉ yêu thương tôi nhận được cũng là phép lạ.
Mong tôi đáp lại phép lạ đó bằng một cử chỉ yêu thương.
Lời nguyện
Con tạ ơn Cha vì những ơn Cha ban cho con,
những ơn con thấy được,
và những ơn con không nhận là ơn.
Con biết rằng
con đã nhận được nhiều ơn hơn con tưởng,
biết bao ơn mà con nghĩ là chuyện tự nhiên.
những ơn con thấy được,
và những ơn con không nhận là ơn.
Con biết rằng
con đã nhận được nhiều ơn hơn con tưởng,
biết bao ơn mà con nghĩ là chuyện tự nhiên.
Con thường đau khổ vì những gì
Cha không ban cho con,
và quên rằng đời con được bao bọc bằng ân sủng.
Cha không ban cho con,
và quên rằng đời con được bao bọc bằng ân sủng.
Tạ ơn Cha vì những gì
Cha cương quyết không ban
bởi lẽ điều đó có hại cho con,
hay vì Cha muốn ban cho con một ơn lớn hơn.
Cha cương quyết không ban
bởi lẽ điều đó có hại cho con,
hay vì Cha muốn ban cho con một ơn lớn hơn.
Xin cho con vững tin vào tình yêu Cha
dù con không hiểu hết những gì Cha làm cho đời con.
dù con không hiểu hết những gì Cha làm cho đời con.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.
14 thg 7, 2014
Không xứng với Thầy – Thứ hai Tuần 15 Thường niên
Lời Chúa: Mt 10, 34 – 11, 1
34“Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo.35 Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng.36 Kẻ thù của mình chính là người nhà. 37 “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.38 Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy.39 Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.40 “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.41 “Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính.42 “Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” 1 Ra chỉ thị cho mười hai môn đệ xong, Đức Giê-su rời chỗ đó, đi dạy dỗ và rao giảng trong các thành thị trong miền.
Suy niệm
Văn Cao là một nhạc sĩ có tài với bản Tiến Quân Ca bất hủ.
Nhưng ông cũng là một thi sĩ ít được ai biết đến.
Ông có làm một bài thơ ngắn Không Đề như sau :
Nhưng ông cũng là một thi sĩ ít được ai biết đến.
Ông có làm một bài thơ ngắn Không Đề như sau :
“Con thuyền đi qua
Đoàn tàu đi qua
để lại tiếng.
Đoàn người đi qua
để lại bóng.
Tôi không đi qua tôi
để lại gì ?”
Ông muốn để lại chút gì cho đời của kẻ đã mang tiếng ở trong trời đất.
Và ông hiểu rằng mình không thể để lại gì, nếu không vượt qua chính mình.
Cái tôi và tất cả những gì thuộc về nó, đều là đối tượng phải vượt qua.
Vượt qua cái tôi không làm tôi mất nó, nhưng lại được một cái tôi viên mãn.
Và ông hiểu rằng mình không thể để lại gì, nếu không vượt qua chính mình.
Cái tôi và tất cả những gì thuộc về nó, đều là đối tượng phải vượt qua.
Vượt qua cái tôi không làm tôi mất nó, nhưng lại được một cái tôi viên mãn.
Phải chăng đó là điều Văn Cao, một kitô hữu ẩn danh đến lúc chết,
muốn gửi gấm qua những vần thơ này ?
muốn gửi gấm qua những vần thơ này ?
Có những giá trị hầu như được mọi người nhìn nhận.
Có những giá trị thiêng liêng máu mủ như cha mẹ, con cái.
Đặc biệt trong xã hội Do-thái, hiếu thảo với cha mẹ là điều được đề cao.
Đức Giêsu cũng đã phê phán thái độ bất hiếu đối với cha mẹ (Mt 15, 3-6).
Mạng sống của con người cũng là một giá trị cao quý.
Đụng đến mạng sống con người là xúc phạm đến chính Thiên Chúa,
như ta thấy trong chuyện Cain giết em là Aben (St 4, 9-10).
Có những giá trị thiêng liêng máu mủ như cha mẹ, con cái.
Đặc biệt trong xã hội Do-thái, hiếu thảo với cha mẹ là điều được đề cao.
Đức Giêsu cũng đã phê phán thái độ bất hiếu đối với cha mẹ (Mt 15, 3-6).
Mạng sống của con người cũng là một giá trị cao quý.
Đụng đến mạng sống con người là xúc phạm đến chính Thiên Chúa,
như ta thấy trong chuyện Cain giết em là Aben (St 4, 9-10).
Trước những giá trị thiêng liêng như thế, ta cần yêu mến, giữ gìn.
Yêu cha, yêu mẹ, yêu con trai, con gái, là những điều hợp đạo lý.
Giữ gìn mạng sống của mình là điều phải làm.
Tuy nhiên, Đức Giêsu đã đưa ra một đòi hỏi mới mẻ và đáng sợ.
Ngài không cấm các môn đệ yêu cha mẹ, con cái, hay mạng sống,
vì đó là những giá trị thiêng liêng cao quý.
nhưng Ngài không chấp nhận họ yêu những giá trị này hơn Ngài.
Ngài không muốn họ đặt Ngài ở dưới những giá trị đó.
Đơn giản Ngài muốn họ coi Ngài là một Giá Trị hơn hẳn, Giá Trị viết hoa.
Khi cần chọn lựa giữa các giá trị, Ngài đòi họ ưu tiên chọn Ngài.
Cụm từ “không xứng đáng với Thầy” được nhắc đến ba lần (cc. 37-38).
Chỉ ai dám yêu Ngài hơn người thân yêu, dám vác thập giá mình mà theo,
người ấy mới xứng đáng với Thầy.
Chỉ ai dám mất mạng sống của mình vì Thầy,
người ấy mới lấy lại được sự sống tròn đầy ở đời sau (c. 39).
Đức Kitô là ai mà đòi chúng ta phải đặt Ngài lên trên các thụ tạo như vậy,
nếu Ngài không phải là hiện thân của chính Thiên Chúa ?
nếu Ngài không phải là hiện thân của chính Thiên Chúa ?
Đừng quên chính Ngài đã mất mạng sống mình vì tôi trước.
Chỉ khi tôi đi qua tôi, nhờ đặt tôi và mọi sự thuộc về tôi dưới Đức Kitô,
tôi mới có gì để lại cho đời, tôi mới giữ lại được mọi giá trị khác (Mt 19, 29).
Xin làm được điều thánh Biển Đức dạy :
“Phải tuyệt đối không coi gì trọng hơn Đức Kitô.”
Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con thấy Chúa thật lớn lao,
để đối với con, mọi sự khác trở thành bé nhỏ.
xin cho con thấy Chúa thật lớn lao,
để đối với con, mọi sự khác trở thành bé nhỏ.
Xin cho con thấy Chúa thật bao la,
để cả mặt đất cũng chưa vừa cho con sống.
Xin cho con thấy Chúa thật thẳm sâu,
để con dễ đón nhận nỗi khổ đau sâu thẳm nhất.
Lạy Chúa Giêsu,
xin làm cho con thật mạnh mẽ,
để không nỗi thất vọng nào
còn chạm được tới con.
Xin làm cho con thật đầy ắp,
để ngay cả một ước muốn nhỏ
cũng không còn có chỗ trong con.
xin làm cho con thật mạnh mẽ,
để không nỗi thất vọng nào
còn chạm được tới con.
Xin làm cho con thật đầy ắp,
để ngay cả một ước muốn nhỏ
cũng không còn có chỗ trong con.
Xin làm cho con thật lặng lẽ,
để con chỉ còn loan báo Chúa mà thôi.
Xin Chúa ngự trong con thật sống động,
để không phải là con,
mà là chính Ngài đang sống.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J
6 thg 2, 2014
Không được mang gì
Thứ năm Tuần 4 Thường niên
Không được mang gì
Lời Chúa: Mc 6, 6b-13
Khi
ấy Đức Giêsu gọi Nhóm Mười Hai lại và bắt đầu sai đi từng hai người
một. Người ban cho các ông quyền trừ quỷ. Người chỉ thị cho các ông
không được mang gì đi đường, chỉ trừ cây gậy; không được mang lương
thực, bao bị, tiền giắt lưng; được đi dép, nhưng không được mặc hai áo.
Người bảo các ông: “Bất cứ ở đâu, khi anh em đã vào nhà nào, thì cứ ở
lại đó cho đến lúc ra đi. Còn nơi nào người ta không đón tiếp và nghe
lời anh em, thì khi ra khỏi đó, hãy giũ bụi chân để tỏ ý phản đối họ.”
Các ông đi rao giảng, kêu gọi người ta ăn năn sám hối. Các ông trừ được
nhiều quỷ, xức dầu cho nhiều người đau ốm và chữa họ khỏi bệnh.
Suy niệm:
Đức Giêsu đã chọn nhóm Mười Hai
để họ ở với Ngài và để được Ngài sai đi rao giảng và trừ quỷ (Mc 3, 14-15).
Bây giờ, sau một thời gian sống gần gũi bên Thầy,
đã đến lúc họ được sai đi để làm những điều họ thấy Thầy làm:
kêu gọi người ta hoán cải, trừ quỷ, xức dầu chữa bệnh nhân (cc. 12-13).
Các môn đệ trở nên cánh tay nối dài của Thầy.
Họ được Thầy Giêsu tin tưởng cho chia sẻ cùng một sứ mạng.
Các môn đệ mang gì khi lên đường?
Một lệnh sai đi, một người bạn đồng hành, một quyền lực trên thần ô uế.
Đức Giêsu cho phép họ mang một cái gậy và đôi dép để đi đường xa.
Tất cả hành trang chỉ có thế!
Những thứ bị cấm mang khi đi đường
là những thứ vốn tạo ra sự bảo đảm hay dư thừa không cần thiết:
lương thực, bao bị, tiền giắt lưng, hai áo trong.
Như thế người được sai đi phải hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa lo liệu,
và phải hoàn toàn cậy dựa vào lòng tốt mỗi ngày của tha nhân.
Nhẹ nhàng, đơn sơ là thái độ của người luôn sẵn sàng ra đi.
Siêu thoát, vô vị lợi là thái độ của người không dính bén với vật chất.
Người tông đồ cũng không dính bén đến cơ sở hay tiện nghi.
Họ không tìm cách đổi chỗ ở để có chỗ tốt hơn (c. 10).
Hơn nữa họ chấp nhận sự thất bại, sự từ chối không muốn đón tiếp (c.11),
vì chính Thầy của họ cũng đã chịu cảnh ngộ tương tự ở quê nhà.
Nhóm Mười Hai đã ra đi theo lệnh Thầy Giêsu
và đã làm được những điều họ không dám mơ (cc. 12-13).
Họ đã học được kinh nghiệm về tin tưởng, khó nghèo, siêu thoát.
Họ đã thấy sức mạnh của Nước Trời đang thu hẹp lại mảnh đất của Satan.
Họ đã đem lại niềm vui cho bệnh nhân và người khao khát Tin Mừng.
Giáo Hội mọi thời vẫn được nhắc nhở từ đoạn Lời Chúa trên đây.
Chẳng ai giữ từng chữ của bản văn, nhưng tinh thần thì không được bỏ.
Sự nhẹ nhàng, cơ động của một Giáo hội đến phục vụ con người,
luôn kéo chúng ta ra khỏi những nặng nề, trì trệ dễ vướng phải.
Hôm nay Chúa cho phép tôi được mang gì
và cấm tôi mang gì?
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu,
xin sai chúng con lên đuờng
nhẹ nhàng và thanh thoát,
không chút cậy dựa vào khả năng bản thân
hay vào những phương tiện trần thế.
Xin cho chúng con làm đuợc những gì Chúa đã làm:
rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ,
chữa lành những người ốm đau.
Xin cho chúng con biết chia sẻ Tin Mừng
với niềm vui của người tìm đuợc viên ngọc quý,
biết nói về Ngài như nói về một người bạn thân.
Xin ban cho chúng con khả năng
đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa.
Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ
của bao người đau khổ thể xác tinh thần.
Lạy Chúa Giêsu,
thế giới thật bao la
mà vòng tay chúng con quá nhỏ.
Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau
mà tin tưởng lên đuờng,
nhẹ nhàng và thanh thoát.
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ
10 thg 12, 2013
LỜI CHÚA TRÀN LAN ...
Công giáo không có lửa truyền giáo?
Nếu quả là như vậy thì đây là một thực tế đáng buồn.
“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên” (Lc 12,49)
Lửa hồng Thầy Giêsu ném vào trong thế gian đang bừng cháy trong lòng
người môn đệ hôm nay, hay chỉ leo lét hoặc thậm chí đã tắt lịm từ lâu.
Không quen nghe Chúa nói, thì cũng không biết phải nói gì với Chúa, và càng không biết phải nói sao về Chúa.
Không quen nhận Lời Chúa, và cũng không quen giữ Lời Chúa, thì cũng không quen nói Lời Chúa.
“Nếu anh em ở lại trong Thầy, và lời Thầy ở lại trong anh em…(Ga 15,7),
Khi Hội Thánh ở Giêrusalem trải qua một cơn bắt bớ dữ dội, ngoài các
tông đồ ra, mọi người đều phải tản mác về các vùng quê miền Giuđê và
Samari (Cv 8,1),
Những người phải tản mác này đi khắp nơi loan báo lời Chúa (Cv 8,4);
Cộng đoàn các tín hữu đầu tiên, sau khi đã chuyên cần nghe các tông đồ
giảng Lời Chúa, thì theo một phản ứng dây chuyền, họ không thể không nói
điều mình đã nghe, và lời Chúa cứ thế lan tràn.
Người giáo dân
Việt Nam trong những đợt di dân, gồng gánh cả ảnh tượng, đến vùng đất
mới là lo dựng nhà thờ để có nơi tập trung thờ phượng, đời sống đạo chủ
yếu dựa vào kinh bổn, nhà thờ, làm thành chuẩn mực cho cuộc sống thường
hằng. Đấy là những năm trước công đồng Vatican II, thánh lễ còn đọc bằng
tiếng Latinh, linh mục giảng sao biết vậy, chứ còn nay, nhà nhà có thể
có được cuốn Thámh Kinh, người người có Tân Ước… Tuy nhiên, nhà nhà đọc
Thánh Kinh, người người đọc Tân Ước, ngày ngày nghe Lời Chúa thì không
nhiều lắm..
Những người phải tản mác vì cuộc bách hại xảy ra
nhân vụ ông Têphanô, đi đến tận miền Phênixi, đảo Syp và thành
Antiokia…có mấy người gốc Syp và Kyrênê khi đến Antiôkia đã giảng cho cả
người Hy-Lạp nữa (Cv 11,19-20).
Không biết các tín hữu tha
hương đã làm gì khi đặt chân tới những vùng đất mới? Một điều chắc chắn
là người Việt Nam cũng đã đóng góp cho các giáo hội địa phương kia nhiều
ơn gọi linh mục tu sĩ.
Kinh bổn và nhà thờ, tổ chức các hội
đoàn, như bức tường thành gìn giữ và nuôi sống đời sống đạo một thời,
nhưng nay, tình thế đã đổi khác, cuộc sống tất bật và hối hả, mái ấm gia
đình bị phân tán vì sinh kế, việc học hành gần như chiếm trọn thời gian
của con cái, nhiều chuẩn mực đạo đức bị phá vỡ, mất dần cảm thức linh
thánh nơi tâm trí con người.
Đã đến lúc phải dựng lại nhà, Tân Tin Mừng hoá gia đình,
Nơi đâu các tín hữu chuyên cần nghe Lời Chúa, thì cũng phải có người miệt mài rao giảng:
“chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống là điều không phải” (Cv 6,2).
Thế nhưng tiêu chuẩn của người được sai đi rao giảng buổi ban đầu là
“những anh em đã cùng chúng tôi đi theo Chúa Giêsu…(Cv 1,21), những
người có khả năng tường thuật, kể lại câu chuyện Giêsu, “tường thuật tất
cả những việc Đức Giêsu làm, và những điều người dạy, kể từ đầu cho tới
ngày người được rước lên trời (Cv 1,1-2), không bỏ sót một chi tiết
nào.
Ngay khi thành lập NHÓM BẢY, bước đầu là để lo phân chia
đồ ăn cho cộng đoàn, thì các tông đồ cũng đề ra 3 tiều chuẩn: được tiếng
tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan (Cv 6,3), nghĩa là những người đã thấm
nhuần Lời Chúa, nói năng và hành động theo hướng dẫn của Thánh Thần.
Ông Têphanô, người đứng đầu danh sách nhóm Bảy, được đầy ân sủng và
quyền năng, đã làm những điềm thiêng dấu lạ lớn lao trong dân…người ta
không địch nổi những lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông…toàn
thể cử toạ trong Hội đồng nhìn thẳng vào ông Têphanô, và họ thấy mặt ông
giống như mặt thiên sứ .
Người được sai đi rao giảng mang khuôn mặt của một thiên sứ, nói nhân danh Giêsu:
Một Giêsu đã đi rao giảng, đã được các môn đệ làm chứng và rao giảng.
Tuy nhiên, để người môn đệ có thể tường thuật lại những lời từ miệng
Giêsu, thì trước đó đã lắng nghe và đã nghe được Lời sự sống.
Giáo lý viên mọi thời (trong các giáo xứ) cũng được kể là những sứ giả
Tin Mừng, cũng phải mang khuôn mặt thiên sứ, và cũng phải hội đủ 3 tiêu
chuẩn của nhóm Bảy là những người có lòng tốt, đầy khôn ngoan và Thánh
Thần, để có thể trao Lời sự sống cho mọi người.
Người giáo lý
viên hôm nay có thể ngạc nhiên khi thấy các tín hữu chuyên cần lắng nghe
trong các lớp giáo lý của các tông đồ! (x.Cv 2,42) Cũng với Lời hằng
sống được loan báo như đã được ghi lại trong Tin Mừng, nhưng trong bầu
khí cầu nguyện, để cả người nói và nghe đều nói và nghe trong ân huệ
Thiên Chúa là Thánh Thần.
Trong những năm gần đây, các giáo lý
viên được đào tạo bài bản, đầy đủ về mọi mặt, nhưng học để trở thành con
người cầu nguyện, hầu có thể dẫn dắt lớp giáo lý với một con tim biết
lắng nghe thì hình như đây là điểm yếu, mà điều chính yếu lại là điểm
yếu thì phải làm sao đây.
Thử cùng nhau tham dự một giờ lắng nghe Lời Chúa của các thiếu nhi dân tộc một giáo xứ.
Mở đầu giờ chia sẻ, các em vào nhà thờ, cùng với cha xứ, cầu nguyện nài
xin Chúa Thánh Thần dẫn dắt, đọc lại đoạn Tin Mừng Chúa Nhật, cha xứ
hướng dẫn chừng 5 phút, sau đó chia ra từng nhóm nhỏ, vừa hát, vừa lập
đi lập lại từng câu, hoặc ai thích câu nào thì đọc lên câu đó, lặng lẽ
giây lát để Lời Chúa thấm vào lòng, rồi lại hát, lại đọc, và cuối cùng,
họp lại với cha xứ, dâng lời nguyện tạ ơn. Cách lắng nghe Lời Chúa thật
đơn giản, nhưng khi các em bước ra khỏi nhà thờ, tôi thấy khuôn mặt các
em sáng ngời. Cha xứ nói: các thiên thần của Chúa đấy.
Thế là
từ nhà thờ ra tới lớp giáo lý và về nhà, Lời Chúa ở ngay bên, Lời Chúa
ngay trong lòng, lời Chúa ngay trên miệng, Lời Chúa lan tràn
Ở nhà thờ có cha xứ và các giáo lý viên, các sứ giả Tin Mừng
Ngoài nhà thờ cũng như ở nhà, mọi tín hữu là sứ giả, giống như thời
giáo hội sơ khai, các tín hữu phải tản mác đi khắp nơi loan báo Lời
Chúa.
Tiến trình TIN MỪNG HOÁ cứ phải bắt đầu từ kinh nghiệm của các tông đồ:
Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu,
Điều chúng tôi đã nghe
Điều chúng tôi đã thấy tận mắt
Điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến,
Đó là LỜI sự sống (1Ga 1,1)
Và đến lượt các thế hệ môn đệ tiếp theo, từ lớp giáo lý ở nhà thờ cho tới giờ kinh tối trong gia đình,
Chuyên cần lắng nghe Lời Chúa,
Nghe để thấu hiểu điều Chúa muốn nói, chứ không chỉ nghe những gì mình muốn nghe
nghe Chúa nói trong Tin Mừng, mắt chiêm ngưỡng,
chiêm ngắm và lắng nghe cho tới khi tay chạm vào LỜI SỰ SỐNG…
Cuối cùng, điều gia đình chúng tôi đã thấy và đã nghe…
chúng tôi loan báo cho nhau và cho mọi người.
Nếu quả là như vậy thì đây là một thực tế đáng buồn.
“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên” (Lc 12,49)
Lửa hồng Thầy Giêsu ném vào trong thế gian đang bừng cháy trong lòng người môn đệ hôm nay, hay chỉ leo lét hoặc thậm chí đã tắt lịm từ lâu.
Không quen nghe Chúa nói, thì cũng không biết phải nói gì với Chúa, và càng không biết phải nói sao về Chúa.
Không quen nhận Lời Chúa, và cũng không quen giữ Lời Chúa, thì cũng không quen nói Lời Chúa.
“Nếu anh em ở lại trong Thầy, và lời Thầy ở lại trong anh em…(Ga 15,7),
Khi Hội Thánh ở Giêrusalem trải qua một cơn bắt bớ dữ dội, ngoài các tông đồ ra, mọi người đều phải tản mác về các vùng quê miền Giuđê và Samari (Cv 8,1),
Những người phải tản mác này đi khắp nơi loan báo lời Chúa (Cv 8,4);
Cộng đoàn các tín hữu đầu tiên, sau khi đã chuyên cần nghe các tông đồ giảng Lời Chúa, thì theo một phản ứng dây chuyền, họ không thể không nói điều mình đã nghe, và lời Chúa cứ thế lan tràn.
Người giáo dân Việt Nam trong những đợt di dân, gồng gánh cả ảnh tượng, đến vùng đất mới là lo dựng nhà thờ để có nơi tập trung thờ phượng, đời sống đạo chủ yếu dựa vào kinh bổn, nhà thờ, làm thành chuẩn mực cho cuộc sống thường hằng. Đấy là những năm trước công đồng Vatican II, thánh lễ còn đọc bằng tiếng Latinh, linh mục giảng sao biết vậy, chứ còn nay, nhà nhà có thể có được cuốn Thámh Kinh, người người có Tân Ước… Tuy nhiên, nhà nhà đọc Thánh Kinh, người người đọc Tân Ước, ngày ngày nghe Lời Chúa thì không nhiều lắm..
Những người phải tản mác vì cuộc bách hại xảy ra nhân vụ ông Têphanô, đi đến tận miền Phênixi, đảo Syp và thành Antiokia…có mấy người gốc Syp và Kyrênê khi đến Antiôkia đã giảng cho cả người Hy-Lạp nữa (Cv 11,19-20).
Không biết các tín hữu tha hương đã làm gì khi đặt chân tới những vùng đất mới? Một điều chắc chắn là người Việt Nam cũng đã đóng góp cho các giáo hội địa phương kia nhiều ơn gọi linh mục tu sĩ.
Kinh bổn và nhà thờ, tổ chức các hội đoàn, như bức tường thành gìn giữ và nuôi sống đời sống đạo một thời, nhưng nay, tình thế đã đổi khác, cuộc sống tất bật và hối hả, mái ấm gia đình bị phân tán vì sinh kế, việc học hành gần như chiếm trọn thời gian của con cái, nhiều chuẩn mực đạo đức bị phá vỡ, mất dần cảm thức linh thánh nơi tâm trí con người.
Đã đến lúc phải dựng lại nhà, Tân Tin Mừng hoá gia đình,
Nơi đâu các tín hữu chuyên cần nghe Lời Chúa, thì cũng phải có người miệt mài rao giảng:
“chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống là điều không phải” (Cv 6,2).
Thế nhưng tiêu chuẩn của người được sai đi rao giảng buổi ban đầu là “những anh em đã cùng chúng tôi đi theo Chúa Giêsu…(Cv 1,21), những người có khả năng tường thuật, kể lại câu chuyện Giêsu, “tường thuật tất cả những việc Đức Giêsu làm, và những điều người dạy, kể từ đầu cho tới ngày người được rước lên trời (Cv 1,1-2), không bỏ sót một chi tiết nào.
Ngay khi thành lập NHÓM BẢY, bước đầu là để lo phân chia đồ ăn cho cộng đoàn, thì các tông đồ cũng đề ra 3 tiều chuẩn: được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan (Cv 6,3), nghĩa là những người đã thấm nhuần Lời Chúa, nói năng và hành động theo hướng dẫn của Thánh Thần.
Ông Têphanô, người đứng đầu danh sách nhóm Bảy, được đầy ân sủng và quyền năng, đã làm những điềm thiêng dấu lạ lớn lao trong dân…người ta không địch nổi những lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông…toàn thể cử toạ trong Hội đồng nhìn thẳng vào ông Têphanô, và họ thấy mặt ông giống như mặt thiên sứ .
Người được sai đi rao giảng mang khuôn mặt của một thiên sứ, nói nhân danh Giêsu:
Một Giêsu đã đi rao giảng, đã được các môn đệ làm chứng và rao giảng. Tuy nhiên, để người môn đệ có thể tường thuật lại những lời từ miệng Giêsu, thì trước đó đã lắng nghe và đã nghe được Lời sự sống.
Giáo lý viên mọi thời (trong các giáo xứ) cũng được kể là những sứ giả Tin Mừng, cũng phải mang khuôn mặt thiên sứ, và cũng phải hội đủ 3 tiêu chuẩn của nhóm Bảy là những người có lòng tốt, đầy khôn ngoan và Thánh Thần, để có thể trao Lời sự sống cho mọi người.
Người giáo lý viên hôm nay có thể ngạc nhiên khi thấy các tín hữu chuyên cần lắng nghe trong các lớp giáo lý của các tông đồ! (x.Cv 2,42) Cũng với Lời hằng sống được loan báo như đã được ghi lại trong Tin Mừng, nhưng trong bầu khí cầu nguyện, để cả người nói và nghe đều nói và nghe trong ân huệ Thiên Chúa là Thánh Thần.
Trong những năm gần đây, các giáo lý viên được đào tạo bài bản, đầy đủ về mọi mặt, nhưng học để trở thành con người cầu nguyện, hầu có thể dẫn dắt lớp giáo lý với một con tim biết lắng nghe thì hình như đây là điểm yếu, mà điều chính yếu lại là điểm yếu thì phải làm sao đây.
Thử cùng nhau tham dự một giờ lắng nghe Lời Chúa của các thiếu nhi dân tộc một giáo xứ.
Mở đầu giờ chia sẻ, các em vào nhà thờ, cùng với cha xứ, cầu nguyện nài xin Chúa Thánh Thần dẫn dắt, đọc lại đoạn Tin Mừng Chúa Nhật, cha xứ hướng dẫn chừng 5 phút, sau đó chia ra từng nhóm nhỏ, vừa hát, vừa lập đi lập lại từng câu, hoặc ai thích câu nào thì đọc lên câu đó, lặng lẽ giây lát để Lời Chúa thấm vào lòng, rồi lại hát, lại đọc, và cuối cùng, họp lại với cha xứ, dâng lời nguyện tạ ơn. Cách lắng nghe Lời Chúa thật đơn giản, nhưng khi các em bước ra khỏi nhà thờ, tôi thấy khuôn mặt các em sáng ngời. Cha xứ nói: các thiên thần của Chúa đấy.
Thế là từ nhà thờ ra tới lớp giáo lý và về nhà, Lời Chúa ở ngay bên, Lời Chúa ngay trong lòng, lời Chúa ngay trên miệng, Lời Chúa lan tràn
Ở nhà thờ có cha xứ và các giáo lý viên, các sứ giả Tin Mừng
Ngoài nhà thờ cũng như ở nhà, mọi tín hữu là sứ giả, giống như thời giáo hội sơ khai, các tín hữu phải tản mác đi khắp nơi loan báo Lời Chúa.
Tiến trình TIN MỪNG HOÁ cứ phải bắt đầu từ kinh nghiệm của các tông đồ:
Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu,
Điều chúng tôi đã nghe
Điều chúng tôi đã thấy tận mắt
Điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến,
Đó là LỜI sự sống (1Ga 1,1)
Và đến lượt các thế hệ môn đệ tiếp theo, từ lớp giáo lý ở nhà thờ cho tới giờ kinh tối trong gia đình,
Chuyên cần lắng nghe Lời Chúa,
Nghe để thấu hiểu điều Chúa muốn nói, chứ không chỉ nghe những gì mình muốn nghe
nghe Chúa nói trong Tin Mừng, mắt chiêm ngưỡng,
chiêm ngắm và lắng nghe cho tới khi tay chạm vào LỜI SỰ SỐNG…
Cuối cùng, điều gia đình chúng tôi đã thấy và đã nghe…
chúng tôi loan báo cho nhau và cho mọi người.
1 thg 12, 2013
NIỀM VUI CHÚA ĐẾN TRONG GIA ĐÌNH
Bước vào Mùa Vọng là bắt đầu một Năm Phụng Vụ mới. Với Giáo Hội Công giáo Việt Nam, năm Phụng Vụ 2014 được ghi dấu bằng hai sự kiện đặc biệt.
Một là Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đề ra kế hoạch mục vụ kéo dài 3 năm (2014–2016) với mục tiêu Tân Phúc-Âm-hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo,đồng thời chọn năm 2014 là năm Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình.
Hai là cùng với Giáo Hội toàn cầu, chúng ta hân hoan đón nhận tông huấn mới của Đức Thánh Cha Phanxicô: Evangelii Gaudium, Niềm Vui Phúc Âm. “Niềm vui của Phúc Âm tràn ngập tâm hồn và đời sống của tất cả những ai gặp gỡ Chúa Giêsu. Những ai đón nhận quà tặng cứu độ của Người thì được giải thoát khỏi tội lỗi, ưu phiền, sự trống rỗng và cô đơn trong tâm hồn. Với Đức Kitô, niềm vui không ngừng được sinh ra”.
Nối kết hai sự kiện trên, Mùa Vọng năm nay trở thành lời mời gọi đặc biệt đến các gia đình Công giáo: Hãy sống niềm vui Chúa đến trong gia đình. Niềm vui Chúa đến sẽ tràn ngập đời sống gia đình khi mỗi thành viên trong gia đình mở lòng ra đón nhận Hài nhi Giêsu, khi mọi người trong nhà cùng nhau xây dựng gia đình thành tổ ấm chan chứa yêu thương, và làm cho niềm vui yêu thương ấy lan tỏa ra chung quanh.
Để đón nhận và sống niềm vui Chúa đến trong gia đình, không có khuôn mẫu nào lý tưởng và đẹp đẽ cho bằng Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse.
Cả hai đấng đều đặt thánh ý Chúa lên trên hết: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền” (Lc 1,38); “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón bà Maria về nhà” (Mt 1,24).
Thánh ý Chúa không phải lúc nào cũng rõ ràng tỏ hiện, các ngài phải tìm kiếm trong cầu nguyện và suy nghĩ, nhiều khi trong tăm tối. Trước sự kiện Đức Maria thụ thai, thánh Giuse không hiểu được đâu là nguồn cơn và phải ứng xử thế nào cho phải: “Ông Giuse là người công chính và không muốn tố giác bà (Maria), nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19). Đức Maria cũng hết sức ngỡ ngàng trước tiếng gọi của Chúa: “Việc ấy làm sao xảy ra được vì tôi không biết đến việc vợ chồng” (Lc 1,34). Cả hai đấng lấy làm ngỡ ngàng khi nghe trẻ Giêsu trả lời: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao? Nhưng hai ông bà không hiểu lời Người nói” (Lc 2,49-50). Và thánh Luca nhiều lần ghi nhận về Đức Mẹ: “Bà Maria hằng ghi nhớ mọi sự và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19,51).
Một khi đã khám phá ra thánh ý Chúa, các ngài sẵn lòng đón nhận, dù phải hi sinh và chịu nhiều đau khổ như lời cụ Simêon nói với Đức Maria: “Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35).
Tấm gương ấy mời gọi các gia đình Công giáo đặt Chúa làm trung tâm của đời sống chung trong gia đình, thường xuyên tìm kiếm thánh ý Chúa qua cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa, dù khi được bình an hay khi phải đối diện với những khó khăn, thử thách. Sống theo thánh ý Chúa không hề là chuyện dễ dãi, nhất là trong một thời đại mà những giá trị Phúc Âm bị coi như lỗi thời và phản tiến bộ. Thế nhưng cuộc đời của Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse làm chứng rằng đó chính là nẻo đường dẫn đến niềm vui đích thực, thay cho những lời phỉnh gạt của ma quỷ, chỉ dẫn đến những niềm vui giả trá.
Lời nhắc nhở của Đức Thánh Cha Phanxicô trong tông huấn Niềm Vui Phúc Âm đáng cho chúng ta ghi nhớ và suy nghĩ: “Mối nguy hiểm lớn trong thế giới hôm nay do tác động của chủ nghĩa tiêu thụ là sự thất vọng và chán chường, phát xuất từ con tim tham lam điên cuồng chạy theo những khoái lạc chóng qua, và một lương tâm lu mờ. Bất cứ khi nào đời sống tâm hồn chúng ta bị bó chặt vào những quan tâm và lợi ích riêng của mình thôi, thì tâm hồn không còn chỗ cho tha nhân, cho người nghèo nữa. Tiếng nói của Thiên Chúa không còn được lắng nghe, không còn cảm nhận được niềm vui tĩnh lặng của tình yêu Chúa, và ước muốn làm điều lành cũng nhạt nhòa” (Evangelii Gaudium, số 2).
Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến và xin cho niềm vui của Chúa tràn ngập gia đình chúng con.
Thiên Triệu
CHỐNG LẠI THÓI QUEN
| Chúa Nhật I mùa vọng - Năm A |
| “Anh em hãy tỉnh thức!” Giấc ngủ là thói quen của chúng ta. Nó làm chúng ta không ý thức được ngày giờ trôi qua. Chúa Giêsu mô tả thói quen này như sau: “Vào thời Noe, người ta ăn uống, người ta dựng vợ gả chồng …”. Có một người thoát ra khỏi thói quen này đúng lúc, đó là Noe. “Noe bước lên tàu”. Còn những người khác vẫn sống “mà không nghi ngờ gì cả, cho đến khi trận lụt nhận chìm họ”. Thói quen nhận chìm chúng ta. Bạn hãy nghĩ đến những câu: “Tôi phải phản ứng lại… Tôi phải bắt đầu… Không thể tin được là thời gian trôi qua nhanh thế… Nếu có thể làm lại điều đó… Nếu lúc trẻ mà biết thì …”. Chúng ta biết chứ. Chỉ cần lắng nghe Chúa Giêsu thì đủ rõ: “Hai người cùng ở trong ruộng, thì một sẽ bị đem đi, và một sẽ được để lại; hai bà cùng xay bột nơi cối, thì một sẽ bị đem đi và một sẽ được để lại. Vậy các ngươi hãy tỉnh thức”. Khi làm cùng những công việc, có người thì chết, có người thì sống. Có người không chuẩn bị gì cả, có người đã chuẩn bị sẵn sàng. Sẵn sàng cho cái gì? Phải lặp đi lặp lại lời kêu gọi cảnh giác này vì Chúa Giêsu cũng lặp đi lặp lại lời kêu gọi cảnh giác đó, một sự cảnh giác thật sự. Sự cảnh giác có thể có vẻ như một sự lo âu làm cho tê liệt, hoặc đi đến chỗ đặt câu hỏi “ích lợi gì cơ chứ?” làm cho quay sang khinh dể thế gian và những công việc trần thế. Không, trái lại, sự cảnh giác trong Phúc Âm là một sức sống mạnh mẽ hiện tại, bởi vì người ta luôn luôn xác minh được ở đó ích lợi và sự biểu hiện thực sự của điều mà người ta đang làm. Những thói quen của chúng ta (công việc, truyền hình, xe cộ), những lo toan của chúng ta (kiếm tiền nhiều hơn, hoàn thành nhiệm vụ nào đó), những dự định nghỉ ngơi (mong ngày cuối tuần mau đến, mong kỳ nghỉ hè mau đến), có phải những điều đó làm cho mỗi người chúng ta sử dụng cuộc sống đến nơi đến chốn rồi chăng? Đâu là tình yêu, nghĩa là cuộc sống 100%? Sự phục vụ huynh đệ, nỗi ám ảnh truyền giáo, kinh nguyện, ở đâu? “Tôi không có thời giờ” đôi khi là tiếng than phiền của cuộc sống mãnh liệt. Nhưng thường thì đây là bài ca của thói quen. Thói quen ca bài này rất hay. Sự tỉnh thức của người Kitô hữu không gì khác hơn là cuộc sống trước mặt Thiên Chúa, cuộc sống với Thiên Chúa. Người ta làm đúng y cũng những điều đó, nhưng chúng có thêm một ích lợi, một chiều dày. “Một sẽ bị đem đi, và một sẽ được để lại”. Những người tỉnh thức đã bám rễ trong vĩnh cửu, những người thủ cựu thì ở trên bề mặt, lúc nào họ cũng có nguy cơ bị quét đi. Khác xa việc lấy mất sở thích những gì thuộc về cuộc sống, sự tỉnh thức thật sự mang lại thú vị cho những bước khai tâm, những bước đầu học tập lý thú. Tuyệt vời làm sao, qua những gì người ta sống, khi trở thành một người được xây dựng cho sự vĩnh cửu và xây dựng một phần của nhân loại vĩnh cửu! Chống lại thói quen là sao? Là suy nghĩ, lại tiếp tục, không buộc mình chỉ sống theo đồng hồ, lịch hoặc sự đều đặn máy móc và bảo “tôi luôn luôn làm điều đó”. Người tín hữu Kitô “sẵn sàng” là người sống cái bình thường một cách hết sức tự do, ý thức, đến độ điều này giữ cho họ tỉnh thức đối với điều bất ngờ, trong đó có giờ phút cuối đời, giờ kẻ trộm đến: “Hãy sẵn sàng, vì vào chính giờ các ngươi không ngờ, thì Con Người sẽ đến".
André Sève
|
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)

