6 thg 3, 2015

Sinh hoa lợi (6.3.2015 – Thứ sáu Tuần 2 Mùa Chay)



Lời Chúa: Mt 21, 33-43.45-46
33 Các ông hãy nghe một dụ ngôn khác: “Có gia chủ kia trồng được một vườn nho; chung quanh vườn, ông rào giậu; trong vườn, ông khoét bồn đạp nho, và xây một tháp canh. Ông cho tá điền canh tác, rồi trẩy đi xa.34 Gần đến mùa hái nho, ông sai đầy tớ đến gặp các tá điền để thu hoa lợi.35 Bọn tá điền bắt các đầy tớ ông: chúng đánh người này, giết người kia, ném đá người nọ.36 Ông lại sai một số đầy tớ khác đông hơn trước: nhưng bọn tá điền cũng xử với họ y như vậy.37 Sau cùng, ông sai chính con trai mình đến gặp chúng, vì nghĩ rằng: “Chúng sẽ nể con ta.”38 Nhưng bọn tá điền vừa thấy người con, thì bảo nhau: “Đứa thừa tự đây rồi! Nào ta giết quách nó đi, và đoạt lấy gia tài nó! “39 Thế là chúng bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi.40 Vậy xin hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia? “41 Họ đáp: “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông.”42 Đức Giê-su bảo họ: “Các ông chưa bao giờ đọc câu này trong Kinh Thánh sao? Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên đá tảng góc tường. Đó chính là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta.
43 Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên Chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi. 45 Nghe những dụ ngôn Người kể, các thượng tế và người Pha-ri-sêu hiểu là Người nói về họ.46 Họ tìm cách bắt Người, nhưng lại sợ dân chúng, vì dân chúng cho Người là một ngôn sứ.
Suy nim:
Trong Mùa Chay, Giáo Hội cho chúng ta nghe dụ ngôn những tá điền. 
Những tá điền này được chủ nhà cho canh tác vườn nho của mình, 
để đến mùa hái nho họ giao lại cho ông hoa lợi. 
Đây là một vườn nho được ông chủ quan tâm săn sóc. 
Ông đã trồng, đã rào giậu, khoét bồn đạp nho và xây tháp canh. 
Tiếc thay, khi ông chủ sai các đầy tớ đến để thu hoa lợi 
các tá điền chẳng những không nộp, mà còn hành hạ họ và giết đi (c. 35). 
Nhóm đầy tớ thứ hai cũng chịu chung số phận (c. 36). 
Nhưng ông chủ vẫn không thất vọng trước sự độc ác của các tá điền. 
Sau cùng, ông đã sai chính con trai mình đến với họ. 
Đứa con thừa tự cũng chẳng được nể vì, bị lôi ra khỏi vườn nho và giết đi.
Khi kể dụ ngôn này Đức Giêsu muốn nói mình chính là người con ấy, 
người Con của ông chủ vườn nho là Thiên Chúa. 
Ngài tiên báo về cái chết sắp đến của mình 
bởi tay những tá điền sát nhân là các nhà lãnh đạo Do thái giáo đương thời. 
Cái chết của Đức Giêsu nằm trong chuỗi những cái chết của các ngôn sứ 
là các đầy tớ đã được Thiên Chúa sai đến với dân Ítraen trong dòng lịch sử. 
Tuy nhiên, cái chết ấy đặc biệt cao quý vì là cái chết của chính Người Con. 
Hơn thế nữa, cái chết ấy không phải là một dấu chấm hết. 
Nó là cánh cửa mở ra một trang mới của lịch sử, 
không phải chỉ là lịch sử của dân tộc Ítraen, mà còn của cả nhân loại. 
“Viên đá thợ xây nhà loại bỏ lại trở nên viên đá đầu góc.
Đó là công trình của Chúa, công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta”
 (c. 42). 

Giáo Hội sơ khai thích dùng trích dẫn trên đây của thánh vịnh 118, 22 
để nói về việc Đức Giêsu bị loại trừ và được tôn vinh (x. Cv 4,11; 1Pr 2,7). 
Bị loại bỏ là việc độc ác của con người, 
còn trở nên viên đá góc là việc làm kỳ diệu của Thiên Chúa.
“Thu hoa lợi”, “nộp hoa lợi”, “sinh hoa lợi” (cc. 34, 41, 43). 
Hoa lợi là điều mà ông chủ nhắm tới khi ông đầu tư cho vườn nho. 
Ông đã không thu được hoa lợi gì từ những tá điền độc ác, 
bởi đó ông đã lấy vườn nho lại, cho người khác làm để lấy hoa lợi. 
Vườn nho bây giờ được hiểu là Nước Thiên Chúa. 
Nước này không còn nằm trong tay giới lãnh đạo dân Do thái nữa, 
nhưng được trao cho một dân biết sinh hoa lợi (c. 43). 
Dân mới ấy chính là Giáo Hội phổ quát, 
trong đó gồm cả dân ngoại và những người Do thái tin Đức Giêsu.
Chúng ta thuộc về Giáo Hội, thuộc về đoàn dân mới. 
Chúng ta hãnh diện vì được trao phó vườn nho là Nước Thiên Chúa, 
và lo lắng trước trách nhiệm phải sinh hoa lợi cho xứng ở đời này. 
Làm thế nào để Giáo Hội nộp hoa lợi đúng mùa cho Chủ? 
Làm thế nào để chúng ta không rơi vào tội của các tá điền đi trước?
Cầu nguyn:
Lạy Chúa Giêsu,
con thường thấy mình không có thì giờ,
nhưng đồng thời cũng thấy mình
lãng phí bao thời gian quý báu.
Nhiều khi con tự hỏi
mình thực sự làm việc bao nhiêu giờ mỗi ngày.
Xin cho con biết quý trọng từng giây phút
đang trôi qua mà con không sao giữ lại được.
Chúa đã trao cho con nén bạc thời gian,
để con sinh lợi tối đa theo ý Chúa.

Xin cho con luôn làm việc như Chúa :
hăng say, tận tụy và vui tươi,
vâng phục, có phương pháp và đầy sáng tạo.
Vì quá khứ thì đã qua,
và tương lai thì chưa đến,
nên xin dạy con biết trân trọng giây phút hiện tại.
Xin cho con thấy Chúa
lúc này đang ở đây bên con,
và đang mời gọi con đáp lại tiếng của Ngài
bằng những hành động cụ thể.
Con xin hiến dâng Chúa giây phút này
như một hy lễ,
với tất cả những bất ngờ, đớn đau, thách đố.
Ước gì con dám sống hết mình giây phút hiện tại
để hiện tại đưa con vào vĩnh cửu của Chúa. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

5 thg 3, 2015

Vấn đề luân lý (12): Giải thích câu chuyện ba nhà chiêm tinh viếng Chúa và việc cấm thực hành chiêm tinh của Giáo Hội


Hỏi: Tin Mừng có thuật lại câu chuyện các nhà chiêm tinh đến bái lạy Hài Nhi Giêsu khi Ngài vừa mới sinh. Dựa theo tình tiết của câu chuyện, chẳng phải chính nhờ chiêm tinh mà các vị ấy mới biết được có một Vị Vua mới sinh và đến kính viếng hay sao. Vậy tại sao Giáo Hội là không cho phép thực hành và tin vào chiêm tinh?
Đáp:
Cảm ơn bạn đã dành cho chúng tôi một câu hỏi rất hay và cũng rất “thiết thực”. Chúng tôi nhận thấy nơi câu hỏi của bạn một khao khát ngay chính muốn hiểu hơn về giáo huấn của Giáo Hội, cũng như mối liên kết của các giáo huấn ấy với Kinh Thánh. Hẳn là có rất nhiều người, đặc biệt là các bạn trẻ, bận tâm về điều này, muốn biết câu trả lời xác đáng, vừa để giúp mình sống đạo tốt hơn, vừa để đối thoại với bạn bè ngoại đạo. Để trả lời câu hỏi của bạn, trước hết, tôi xin tóm lược giáo huấn của Giáo Hội liên quan đến việc chiêm tinh. Sau đó, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu đoạn Kinh Thánh có nhắc đến chuyện các đạo sĩ từ phương xa đến viếng Hài Nhi Giêsu. Tiếp đến, chúng ta sẽ tìm ra lý do vì sao Giáo Hội không đồng tình với việc các tín hữu Công Giáo tin vào chiêm tinh. Cuối cùng sẽ là một vài phản tỉnh liên quan đến vấn đề này.
Giáo huấn của Giáo Hội liên quan đến việc chiêm tinh
Điều răn thứ nhất trong Thập Điều mà Thiên Chúa dạy là phải “thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự.” Sở dĩ ta phải tuân giữ điều này là vì chỉ có Thiên Chúa là chủ tể duy nhất của vũ trụ, là Đấng tạo dựng muôn loài, là nguồn cội và là cùng đích của chúng ta. Xuất phát từ lệnh truyền này của Thiên Chúa, sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (GLHTCG), số 2116 dạy rằng: “Coi tử vi, chiêm tinh, xem chỉ tay, giải điều mộng, xin xăm, bói toán quá khứ vị lai, đồng bóng là những hình thức che giấu ước muốn có quyền trên thời gian, trên lịch sử và trên cả con người, cũng như ước muốn liên kết với các thế lực huyền bí. Điều này nghịch lại với lòng tôn kính và thần phục chỉ dành cho Thiên Chúa”.
Trước đó, ở số 2115, sách GLHTCG có giải thích: “Thiên Chúa có thể cho các ngôn sứ hay các thánh nhân biết về tương lai. Tuy vậy, thái độ đúng đắn của Kitô hữu là phó thác hoàn toàn trong tay Chúa Quan Phòng những gì thuộc về tương lai và từ bỏ mọi thứ tò mò thiếu lành mạnh trong lãnh vực này. Thế nhưng, ai không tiên liệu là người thiếu trách nhiệm.”
Như thế, việc ta phải vun đắp cho tương lai của mình ngay từ giây phút này là điều phải làm, nếu không, sẽ bị coi là “thiếu trách nhiệm”. Tuy nhiên, chúng ta cũng được mời gọi để phó thác tương lai của mình trong tay Chúa. Chúng ta phải phó thác vào Chúa, đặt trọn cuộc đời mình cho Chúa, chứ không ở những thủ thuật và niềm tin sai lệch.
Câu chuyện các vị chiêm tinh đến viếng Hài Nhi
Câu chuyện thú vị này được Thánh Sử Matthêu thuật lại ở chương 2, từ câu 1 đến câu 12, trong Tin Mừng của mình. Chuyện kể rằng khi Đức Giêsu được hạ sinh ở Bêlem, trong khi vua và dân trong thành Giêsusalem gần đó chẳng bận tâm gì thì có một số vị từ phương xa tìm kiếm Ngài để bái lạy Ngài và dâng tặng Ngài những vật phẩm. Ta không biết có bao nhiêu người trong phái đoàn, nhưng dựa vào việc họ dâng ba lễ phẩm (vàng, nhũ hương, mộc dược – x. câu 11) nên người ta đoán là có thể họ có ba người. Ta gọi họ là đạo sĩ nhờ căn cứ vào tình tiết được thuật lại trong câu chuyện. Họ nói với Vua Hêrôđê rằng họ đã thấy “ngôi sao của Người [Hài Nhi mới sinh]” (x. câu 2); rồi sau đó, khi tiếp tục hành trình, họ lại “mừng rỡ vô cùng” khi thấy ngôi sao (x. câu 10). Nhờ vào yếu tố “ngôi sao”, ta đoán rằng họ là các nhà chiêm tinh, những người đã dùng hiểu biết của mình trong việc quan sát các tinh tú, chòm sáng trên trời để dự đoán các sự kiện.
Tạm thời không nói đến những suy tư thần học về đoạn Tin Mừng này, ta có thể có những suy đoán nào về con người và hành trình tìm đến với Đức Giêsu của các vị ấy?
Các vị đạo sĩ này hẳn phải rất xác tín về những gì mình thấy được “trên bầu trời”. Bởi nếu không xác tín, họ đã chẳng chịu vất vả đường xa, tốn công tốn sức, đối diện những hiểm nguy rình rập trên cuộc hành trình để tìm cho ra một nhân vật mà họ cho là có một không hai. Hơn nữa, khi đã đến thành Giêrusalem, họ vào thẳng hoàng cung để hỏi Vua Hêrôđê và hỏi rằng: “Ðức Vua dân Do Thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Người xuất hiện bên phương Ðông, nên chúng tôi đến bái lạy Người.”(Mt 2,2). Phải rất xác tín và tin vào những gì mình biết, họ mới khảng khái như vậy. Chứ nếu còn nghi ngờ, hẳn là họ sẽ lân la hỏi dò người dân bình thường, kiểu như: “Tôi nghe nói là có vị hoàng tử vừa mới sinh phải không? Có thật là thế không?”… Họ có một xác tín rất mạnh rằng vị hoàng tử mới sinh là “Đức Vua dân Do Thái”, nên mới vào hoàng cung để hỏi, vì đó là nơi dành cho hoàng thân quý tộc. Ngoài ra, sau khi được ngôi sao dẫn đến chỗ Hài Nhi, các ông không hề ngạc nhiên, do dự hay thắc mắc rằng tại sao một thằng bé nghèo nàn, rách rưới này lại là Đức Vua dân Do Thái, nhưng đã ngay lập tức “sấp mình bái lạy Người, rồi mở bảo tráp, lấy vàng, nhũ hương và mộc dược mà dâng tiến.” (Mt 2,11). Những chi tiết này cho thấy, họ thật sự không có chút nghi ngờ gì về những gì họ làm. Họ đang tin vào một điều gì đó được mặc khải cho họ.
Điều gì đã được mặc khải cho họ? Chúng ta hoàn toàn không biết gì về thuật chiêm tinh của họ vào thời điểm đó. Họ đã sử dụng những kiến thức nào, phương pháp nào để biết chắc là có một nhân vật trọng đại vừa mới sinh? Và liệu trong cuộc đời họ, họ có thực hiện một cuộc hành trình nào khác để viếng thăm những vị vua mới sinh ở những nơi khác không, vì hàng ngày, hàng giờ, các hoàng tử chào đời ở khắp nơi? Chẳng lẽ cứ có một hoàng tử chào đời, thì trên trời xuất hiện một ngôi sao lạ, rồi họ cứ cất công lên đường kính viếng sao? Điều này là không thể! Vậy thì có điều gì đặc biệt giữa Hài Nhi Giêsu với các vị hoàng tử khác trên thế giới? Dù không chắc chắn, nhưng ta có quyền đưa ra giả thuyết rằng có thể họ đã được mặc khải bởi Thiên Chúa theo một cách thức thần nhiệm nào đấy đến độ khiến họ không thể nghi ngờ gì nữa. Sở dĩ ta có quyền suy đoán điều này là vì sau khi được báo mộng trong giấc mơ là đừng quay về tìm Hêrôđê, họ đã tin vào giấc mơ ấy, (x. câu 12) chứ không nghĩ ngợi hay đắn đo hay gạt sang một bên. Có thể họ đã từng có một giấc mơ tương tự như thế trước đây, nên bây giờ không còn thấy lạ lẫm nữa.
Tất cả những gì vừa nói trên đây chỉ là suy đoán. Tuy nhiên, ta có thể chắc chắn một điều: họ là những con người trung tín và khao khát tìm chân lý. Trung tín là bởi vì, khi đã hứa là sẽ quay lại để báo cho vua Hêrôđê về Hài Nhi Giêsu, họ đã có ý định sẽ quay lại thật chứ không nuốt lời. Bởi nếu họ “làm biếng” hoặc không muốn quay về với Hêrôđê như lời đã hứa, thì Thiên Sứ đã chẳng mất công hiện ra với họ trong giấc mơ để dặn dò hãy đi theo hướng khác mà về sứ sở mình. Còn khao khát đi tìm chân lý của họ được thể hiện trong thái độ và nỗ lực của họ trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện cuộc hành hương của mình. Có một điều mà chúng ta phải lưu ý, đó là: họ là những người ngoại đạo, họ không biết gì về Mười Điều Răn, họ không biết gì về Ngũ Thư, Luật Môsê hay bất cứ một điều gì khác về Thiên Chúa.
Sự khác biệt giữa chiêm tinh của các đạo sĩ này với chiêm tinh theo kiểu mê tín hiện nay
Dựa vào những gì Thánh Sử Matthêu kể lại, Giáo Hội đánh giá cao tấm lòng thành và mẫu gương nỗ lực đi tìm chân lý của các đạo sĩ. Sống trong một môi trường hoàn toàn ngoại đạo, không biết gì về những giới răn và chỉ dẫn của Thiên Chúa, họ chỉ biết sử dụng kiến thức và kinh nghiệm của tiền nhân truyền lại để tìm kiếm chân lý. Họ sử dụng những điều ấy là vì họ không có phương tiện nào khác để dùng. Trong lúc loay hoay giữa bóng tối để tìm minh đạo, tấm lòng thành của họ đã được Thiên Chúa cho toại nguyện khi Ngài ban cho họ những dấu chỉ hữu hình, giúp họ tìm đến với Giêsu.
Còn chúng ta, chúng ta đã có Lời Chúa và Thánh Thể soi đường. Chúng ta có sự trợ giúp của Giáo Hội để biết mình cần phải làm gì, đi đến đâu để gặp Chúa. Chúng ta không cần phải loay hoay tìm kiếm nữa vì mọi thứ đã được bày biện ra sẵn trước mắt chúng ta rồi. Bởi thế, khi ta tìm đến và tin vào chiêm tinh, cũng có nghĩa là ta cho rằng Lời Chúa là xạo, Thánh Thể là ảo, Giáo Hội không đáng tin. Ta háo hức với những gì huyền bí, muốn biết vận mệnh tương lai… rốt cuộc cũng chỉ thỏa mãn tính tò mò và ước muốn muốn làm chủ thời gian của ta. Điều đó nói lên một điều, rằng: ta không xem Chúa là tất cả của mình, ta không tin vào sự quan phòng của Chúa, ta không tin là Chúa quyền năng và yêu thương mình, sẽ dành cho mình những điều tốt đẹp nhất. Cũng như Eva trong vườn Địa Đàng năm xưa, từ sự “không tin” này, ta bắt đầu buông trôi đời sống và gạt Chúa ra một bên, tự tay “hái trái cấm” và hãnh diện về hành vi ấy của mình.
Như thế, các đạo sĩ thì không biết nên đi tìm và gặp được (họ từ thấp hướng lên cao). Còn ta thì đã gặp được rồi, lại chê bai và đi kiếm chỗ khác (từ trên cao xuống thấp). Hai chuyển động này hoàn toàn ngược chiều nhau và khác nhau ngay tự bản chất. Lý do khiến Giáo Hội không cho phép con cái mình tìm đến với chiêm tinh là vì khi làm điều ấy, họ đã đặt trọng tâm đời mình sai chỗ.
Một vài phản tỉnh liên quan
Nhiều tín hữu biện minh rằng con người mình yếu đuối, nhiều khi do bị quá nhiều vận rủi kéo đến, ta mới phải tìm thầy để xem bói hay chiêm tinh, chứ mình vẫn đi lễ đọc kinh lần chuỗi bình thường mà. Giáo Hội nên thông cảm hơn là trách tội họ.
Thực ra thì Giáo Hội chẳng dám trách tội ai, vì chỉ có Thiên Chúa mới có quyền đó. Điều mà Giáo Hội làm là chỉ ra cho con cái mình biết đâu là điều sai, đâu là điều đúng. Hiển nhiên là Giáo Hội thông cảm, (và chắc chắn là cả Thiên Chúa cũng thông cảm nữa) cho những ai vì yếu đuối hay tò mò mà sa vào những điều này, nhưng sự thông cảm không thể thay đổi một sự thật là họ đã sai. Khi con cái của bạn vì ham chơi và nghe theo lời dụ dỗ của đám bạn xấu mà bỏ học hay hỗn hào với bạn, bạn có thể vì tình thương mà thông cảm và tha thứ cho đứa con ấy, nhưng điều đó không thay đổi được sự thật là nó đã sai. Sự “sai” của nó khác với sự “thông cảm” của mình. Bởi thế, Chúa và Giáo Hội đã nỗ lực để vạch ra lộ trình đúng cho các tín hữu, và luôn tha thiết mong muốn các tín hữu hãy đi trên con đường đó mà tìm về bến hạnh phúc. Còn những ai vì yếu đuối mà lầm đường lạc lối, Giáo Hội vẫn giang rộng vòng tay mời gọi họ quay về, chứ đừng lấy sự yếu đuối mà biện minh cho hành động sai trái và ở lì trong tội.
Trong Mt 6,25 – 34, Đức Giêsu dường như cũng hiểu được nỗi lòng của những con người yếu đuối chúng ta, nên căn dặn rằng chúng ta đừng lo lắng thái quá vào ngày mai. Lý luận của Đức Giêsu là: một con chim bé xíu hay một cánh hoa dại mà còn được Cha trên trời yêu thương lo lắng, chẳng lẽ Ngài lại bỏ rơi chúng ta? Chúng ta chẳng phải quý giá hơn những thứ kia gấp trăm triệu lần à? Chính chúng ta – những con người – mới mang hình ảnh Thiên Chúa, chứ những loài khác đâu có được đặc ân này. Thiên Chúa đã yêu chúng ta đến độ không thiết gì, lẽ nào Ngài bỏ mặc chúng ta? Trời đất muôn vật to lớn và phong phú dường ấy, Ngài chỉ cần phán một tiếng là có tất cả, chẳng lẽ Ngài không đủ quyền năng để chăm lo cho ta? Tương lai là một cái gì đó rất mơ hồ. Ta tìm đến với chiêm tinh mong biết tương lai để làm gì? Có chắc là tương lai của ta sẽ như những gì chiêm tinh nói không? Giả như nó đúng, thì ta có thể làm gì được nó, ta có thể thay đổi nó không? Nếu có thể thay đổi, ta sẽ thay đổi như thế nào?… Trí óc ta không đủ để tính toán hết những chuyện ấy. Nhưng Thiên Chúa là Đấng toàn tri và toàn năng, lại yêu thương ta hết mực, Ngài thừa biết nên để chuyện gì xảy ra, chuyện gì không nên xảy ra, vì ơn cứu độ đời đời cho chúng ta.
Còn việc bạn cho rằng bạn vừa tin vào chiêm tinh vừa đi lễ đọc kinh là chu toàn bổn phận của người tín hữu, xem ra bạn đã khinh thường Chúa quá! Khi nào có thể, bạn hãy dành ít phút ngẫm nghĩ mà xem: chúng ta tin vào Chúa thì Chúa được cái gì? Chúa cần những lời kinh và đồng tiền xin lễ của ta à? Hãy đọc lại lời Thánh Vịnh 49: “Dân Ta hỡi, nghe đây Ta phán dạy, này Ít-ra-en, Ta dẫn chứng tố ngươi. Ta là Thượng Ðế, là Chúa ngươi thờ. Ta chẳng trách cứ ngươi về hy lễ; lễ toàn thiêu của ngươi hằng nghi ngút trước mặt Ta đêm ngày. Bò của ngươi, Ta nào có thiết; chiên của ngươi, chẳng lẽ Ta ham! Vì thú rừng là của Ta hết thảy, cả ngàn muôn loài vật núi đồi. Mọi thứ chim trời, Ta đều biết rõ, động vật nơi hoang dã thuộc về Ta. Ta mà đói, Ta đâu cần nói ngươi hay, vì trái đất với mọi loài, chính Ta làm chủ. Thịt bò há là thức Ta ăn? Máu chiên há là đồ Ta uống? Hãy tiến dâng Thiên Chúa lời tạ ơn làm hy lễ, giữ trọn điều khấn nguyền cùng Ðấng Tối Cao. Hãy kêu cầu Ta trong ngày cùng khốn, Ta sẽ giải thoát, và ngươi sẽ làm hiển danh Ta.”
Thiên Chúa là Đấng toàn bích toàn mỹ, Ngài đâu thiếu thốn gì. Việc ta tin hay không tin vào Ngài, đối với Ngài, cũng chẳng mất mát hay thiệt thòi gì. Thậm chí cả những điều tốt ta làm, ta cứ cỡ là làm cho Ngài, nhưng Ngài cũng có được thêm hay bớt gì đâu. Ngài yêu ta bằng một tình yêu nhưng không, và Ngài muốn ta cũng hãy yêu Ngài bằng một tình yêu trọn vẹn và nhưng không như vậy. Giữ điều Chúa dạy, chẳng phải là vì Chúa, mà chính là vì ta. Đừng bố thí cho Chúa vài câu kinh rồi tưởng mình đã là thánh và đòi Chúa phải biết ơn mình, thỏa đáp ước vọng của mình. Nhưng hãy dâng lên Ngài trọn vẹn tấm lòng, chất chứa niềm tin và tình yêu của ta, dù tấm lòng ấy có khi nhiều loang lỗ, niềm tin của ta cứ bấp bênh, còn tình yêu thì chập chờn sóng nước.
Khi bố mẹ dạy con cái mình phải biết hiếu thảo, đó không phải là vì cha mẹ, nhưng chính là vì đứa con ấy. Chắc là ta cũng không muốn con cái mình đến với mình chỉ vì gia sản hay miếng đất hay tài khoản kếch su trong ngân hàng, nhưng là vì tình yêu thương nó dành cho mình. Chúa cũng như thế đấy. Nếu các bạn muốn thấy phép lạ, các bạn phải có niềm tin vào Chúa (x. Mt 13,58), chứ không phải tin vào chiêm tinh.
Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
 (Do khả năng và trình độ còn hạn hẹp, nếu có điều chi chưa rõ và chưa giải quyết thấu đáo, xin quý bạn đọc thông cảm và bổ túc thêm. Tất cả vì vinh danh Chúa!)

4 thg 3, 2015

Có một vực thẳm (5.3.2015 – Thứ năm Tuần 2 Mùa Chay)


Lời Chúa: Lc 16, 19-31 
19 “Có một ông nhà giàu kia, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình.20 Lại có một người nghèo khó tên là La-da-rô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu,21 thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rớt xuống mà ăn cho no. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.22 Thế rồi người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Áp-ra-ham. Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn. 23 “Dưới âm phủ, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Áp-ra-ham ở tận đàng xa, và thấy anh La-da-rô trong lòng tổ phụ.24 Bấy giờ ông ta kêu lên: “Lạy tổ phụ Áp-ra-ham, xin thương xót con, và sai anh La-da-rô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát; vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm!25 Ông Áp-ra-ham đáp: “Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con, con đã nhận phần phước của con rồi; còn La-da-rô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ, La-da-rô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ.26 Hơn nữa, giữa chúng ta đây và các con đã có một vực thẳm lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên các con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được. 27 “Ông nhà giàu nói: “Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh La-da-rô đến nhà cha con,28 vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!29 Ông Áp-ra-ham đáp: “Chúng đã có Mô-sê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó.30 Ông nhà giàu nói: “Thưa tổ phụ Áp-ra-ham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối.31 Ông Áp-ra-ham đáp: “Mô-sê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.”
Suy niệm:
Tài sản của ba người Mỹ giàu nhất thế giới 
còn lớn hơn tài sản của 48 nước kém phát triển. 
Bill Gates giàu hơn 100 triệu người Mỹ nghèo nhất. 
Chỉ cần 40 tỉ đô la của ông, Liên Hiệp Quốc đủ chi tiêu 
cho giáo dục cơ bản, sức khỏe, nước sạch và vệ sinh 
cho cả thế giới trong một thời gian dài.
Khi nhìn sự chênh lệch giữa ông nhà giàu và Ladarô, 
chúng ta thấy bức tranh hiện thực của thế giới. 
Hố sâu ngăn cách giữa giàu nghèo ở đô thị, 
giữa đô thị và nông thôn, càng lúc càng lớn. 
Có 800 triệu Ladarô đang đói nghèo cùng cực. 
Hơn một tỉ Ladarô bệnh tật không được chăm sóc. 
Vẫn có bao người chết đói mỗi ngày, 
vì không được hưởng gì từ các bàn tiệc rơi xuống. 
Ông nhà giàu trong dụ ngôn có thấy, có biết Ladarô, 
nhưng thấy mà như không thấy có Ladarô trên đời. 
Tiện nghi vật chất đã thành bức tường kín. 
Ông sống an toàn mãn nguyện trong khoảng không gian riêng. 
Chính ông đã tạo ra một vực thẳm ngăn cách. 
Không cần Chúa, cũng chẳng cần biết đến anh em. 
Có thể nói vực thẳm đó lớn dần và kéo dài mãi đến đời sau. 
Hỏa ngục là sự tự cô lập mình không thể đảo ngược được. 
Chẳng ai có thể cho tôi một giọt nước. 
Vực thẳm ngăn cách con người ở đời sau 
là do chính con người đã tạo ra từ đời này.
Ông nhà giàu bị phạt, không phải vì ông đã bóc lột ai, 
nhưng vì ông không bị sốc chút nào 
trước sự chênh lệch ghê gớm giữa ông và Ladarô. 
Từ sốc mới nẩy sinh thức tỉnh, và dẫn đến hoán cải. 
Nhiều nước giàu vẫn trợ giúp các nước nghèo, 
nhưng không muốn loại bỏ sự bất bình đẳng. 
Các nước nghèo vẫn bị bóc lột về tài nguyên, nhân công, 
và bị nô lệ cho những món nợ không sao trả hết. 
Ông nhà giàu bị phạt không phải vì ông đã nhận nhiều, 
nhưng vì ông đã không san sẻ những gì mình nhận. 
Giàu không phải là một tội, của cải tự nó không xấu. 
Có bao người giàu tốt như Dakêu, Nicôđêmô, Giuse Arimathia. 
Nhưng giàu sang có thể dẫn đến cám dỗ nguy hiểm: 
Tích trữ, tham lam, hà tiện, khép kín, tự mãn, hưởng thụ, 
bị ám ảnh bởi đồng tiền, bị mê hoặc bởi lợi nhuận.
Chúng ta có thể nghèo của cải, nhưng giàu có về các mặt khác: 
giàu kiến thức chuyên môn, giàu thế lực ảnh hưởng, 
giàu sức khỏe, giàu tình bạn tình yêu, giàu niềm vui, ơn Chúa. 
Hãy tập nhìn xuống để thấy bao người dưới mình. 
Chia sẻ là lấp vực thẳm, nâng người khác lên bằng mình. 
Ước gì chúng ta để cho Lời Chúa hoán cải, 
để thấy trách nhiệm của mình trước những Ladarô 
nằm ngay nơi cửa, trong khu xóm… 
Chỉ cần bớt chút dư thừa, xa xỉ của chúng ta 
cũng đủ làm nhiều người no nê hạnh phúc.
Cầu nguyện:
 Lạy Cha, xin cho con ý thức rằng 
tấm bánh để dành của con thuộc về người đói, 
chiếc áo nằm trong tủ thuộc về người trần trụi, 
tiền bạc con cất giấu thuộc về người thiếu thốn.
Lạy Cha, có bao điều con giữ mà chẳng dùng, 
có bao điều con lãng phí 
bên cạnh những Ladarô túng quẫn, 
có bao điều con hưởng lợi 
dựa trên nỗi đau của người khác, 
có bao điều con định mua sắm dù chẳng có nhu cầu. 
Con hiểu rằng nguồn gốc sự bất công chẳng ở đâu xa. 
Nó nằm ngay nơi sự khép kín của lòng con. 
Con phải chịu trách nhiệm 
về cảnh nghèo trong xã hội.
Lạy Cha chí nhân, 
vũ trụ, trái đất và tất cả tài nguyên của nó 
là quà tặng Cha cho mọi người có quyền hưởng. 
Cha để cho có sự chênh lệch, thiếu hụt, 
vì Cha muốn chúng con san sẻ cho nhau. 
Thế giới còn nhiều người đói nghèo 
là vì chúng con giữ quá điều cần giữ. 
Xin dạy chúng con biết cách đầu tư làm giàu, 
nhờ sống chia sẻ yêu thương. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

Anh em không được như vậy (4.3.2015 – Thứ tư Tuần 2 Mùa Chay)


Lời Chúa: Mt 20, 17-28

17 Lúc sắp lên Giê-ru-sa-lem, Đức Giê-su đưa Nhóm Mười Hai đi riêng với mình, và dọc đường, Người nói với các ông:18 “Này chúng ta lên Giê-ru-sa-lem, và Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ kết án xử tử Người,19 sẽ nộp Người cho dân ngoại nhạo báng, đánh đòn và đóng đinh vào thập giá và, ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy.”
20 Bấy giờ bà mẹ của các con ông Dê-bê-đê đến gặp Đức Giê-su, có các con bà đi theo; bà bái lạy và kêu xin Người một điều.21 Người hỏi bà: “Bà muốn gì? ” Bà thưa: “Xin Thầy truyền cho hai con tôi đây, một người ngồi bên hữu, một người bên tả Thầy trong Nước Thầy.”22 Đức Giê-su bảo: “Các người không biết các người xin gì! Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không? ” Họ đáp: “Thưa uống nổi.”23 Đức Giê-su bảo: “Chén của Thầy, các người sẽ uống; còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy, thì Thầy không có quyền cho, nhưng Cha Thầy đã chuẩn bị cho ai, thì kẻ ấy mới được.”
24 Nghe vậy, mười môn đệ kia tức tối với hai anh em đó.25 Nhưng Đức Giê-su gọi các ông lại và nói: “Anh em biết: thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân.26 Giữa anh em thì không được như vậy: Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em.27 Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em.28 Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.” 

Suy niệm: 

Ghế tượng trưng cho chức vụ và chức vị. 
Chính vì thế bình thường người ta ai cũng thích ghế. 
Ghế trong tôn giáo cũng như ghế ngoài đời. 
Tìm cách có ghế, giữ ghế hay tìm cách lên một ghế cao hơn, 
đó vẫn là điều khiến nhiều người vất vả, 
và đó cũng là điều khiến thế giới loạn lạc và xung đột.

Bài Tin Mừng kể cho chúng ta chuyện tranh cãi giữa nhóm Mười Hai. 
Vẫn là chuyện những cái ghế. 
Quan trọng nhất là hai ghế nằm hai bên tả hữu của Thầy 
khi Thầy vào vinh quang trong Nước Thiên Chúa. 
Chỉ tiếc là chuyện tranh cãi này lại xảy ra ngay sau khi 
Thầy Giêsu tâm sự riêng với các môn đệ về cuộc Khổ Nạn của mình. 
Chẳng rõ có phải Gioan và Giacôbê đã nhờ mẹ mình xin giùm không. 
Từ chối lời xin ngây thơ của một người mẹ thương con là điều không dễ. 
Thầy Giêsu có bực mình không khi phải chịu một áp lực như thế?
Các người không biết các người xin gì!” 
Điều các người xin xa lạ với con đường Thầy sắp đi. 
Điều các người mơ ước lại là điều Thầy sắp phải quyết liệt từ bỏ: 
quyền lực, tiếng tăm, vinh dự… 
Các người có uống nổi chén Thầy sắp uống không?”
Như thế Thầy Giêsu thách đố nhóm Mười Hai 

về khả năng chia sẻ cuộc Khổ Nạn với Ngài, 
khả năng dám uống chung một chén đắng mà Ngài sắp uống. 
Chỉ những ai dám cùng chịu đau khổ mới được chung phần vinh quang. 
Chẳng rõ các môn đệ có lường được cái giá phải trả không, 
nhưng họ đã vội trả lời là uống nổi. 
Thầy Giêsu xác nhận chọn lựa của họ, 
nhưng Ngài lại không hứa cho họ ngồi hai bên tả hữu của mình, 
đơn giản là vì điều đó thuộc quyền của Cha.
Chuyện tranh cãi giữa các môn đệ là cơ hội để Thầy Giêsu vạch ra 
cách hành xử cho những nhà lãnh đạo tương lai của Giáo Hội. 
Chắc chắn nó khác với lối lãnh đạo ngoài đời, 
khi người ta dùng quyền uy để thống trị và làm bá chủ (c. 25). 
Giữa anh em thì không được như vậy,” anh em không được theo thói đời. 

Thầy Giêsu dạy các môn đệ điều ngược đời: 
kẻ làm lớn, làm đầu phải làm đầy tớ phục vụ cho anh em mình (cc. 26-27). 
Tấm gương lớn nhất là tấm gương Thầy phục vụ (c. 28). 
Cuộc Khổ nạn sắp đến là việc phục vụ khiêm hạ nhất của Thầy. 

Lần đầu tiên Đức Giêsu cho biết ý nghĩa cái chết sắp đến của mình, 
cái chết như giá chuộc để cứu độ muôn người (c. 28).
Mười môn đệ khác có còn ghen tức hai anh em con ông Dêbêđê nữa không 
nếu họ biết rằng ngồi ghế cao chính là để thấy rõ mà dễ phục vụ hơn?

Cầu nguyện:  

Lạy Thầy Giêsu,
Thầy không gọi chúng con là tôi tớ,
Thầy cũng không chỉ coi chúng con là môn đệ.
Thầy còn coi chúng con như bạn hữu của Thầy,
vì Thầy đã thổ lộ cho chúng con
những điều riêng tư thầm kín nhất
trong tương quan giữa Thầy với Cha.

Hơn nữa, sau phục sinh,
Thầy đã gọi các môn đệ là anh em.
Mặc nhiên Thầy tự nhận mình là Anh Trưởng
đứng đầu một đoàn em đông đúc.

Xin cho chúng con
luôn thi hành ý muốn của Cha
để trở nên những người em
cùng huyết nhục với Thầy.

Lạy Thầy Giêsu, Thầy đã nâng chúng con lên
làm môn đệ, làm bạn, làm anh em của Thầy.
Còn Thầy lại hạ mình xuống
phục vụ chúng con như người tôi tớ,
rửa chân cho chúng con như một nô lệ
và chết thay cho chúng con trên thập giá.
Xin cho chúng con hiểu được tấm lòng của Thầy
và sống yêu thương mọi người như anh em. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

3 thg 3, 2015

Vấn đề luân lý (11): Nhờ thầy pháp dùng bùa để “bắt ma” trị bệnh thì có tội không?


Hỏi: Tôi có người bà con có tâm thần không ổn định, đã cố gắng chạy chữa khắp nơi nhưng không khỏi. Nghe người ta đồn có một thầy sư, giỏi pháp thuật, có thể chữa được bệnh nên tôi đã đem người này đến gặp, xin giúp đỡ. Vị sư nói là người thân của tôi bị ma ám, cần phải dùng bùa để chữa trị. Tôi đã để cho vị sư này thực hiện các nghi thức bùa chú của ông ấy để chữa bệnh cho người thân của tôi. Tôi có phạm tội không?
Đáp:
Điều răn thứ nhất trong Mười Điều Răn dạy rằng: “Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi sự”. Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (GLHTCG), số 2116 có ghi rằng “Phải loại bỏ mọi hình thức bói toán: cậy nhờ Xa-tan hay ma quỉ, gọi hồn người chết hay những cách khác ngỡ rằng sẽ đoán được tương lai (x. Ðnl 18,10; Gr 29,8). Coi tử vi, chiêm tinh, xem chỉ tay, giải điều mộng, xin xăm, bói toán quá khứ vị lai, đồng bóng, là những hình thức che giấu ước muốn có quyền trên thời gian, trên lịch sử và trên cả con người, cũng như ước muốn liên kết với các thế lực huyền bí. Ðiều này nghịch lại với lòng tôn kính và thần phục chỉ dành cho Thiên Chúa.”
Số 2117 còn nói rõ thêm: “Ai muốn dùng ma thuật hay pháp thuật để chế ngự các thế lực huyền bí, bắt chúng phục vụ mình và nắm được quyền lực siêu phàm trên người khác dù là để chữa bệnh, cũng lỗi nặng nhân đức thờ phượng. Các việc nầy càng đáng lên án hơn nữa khi có dụng ý hại người, hay nhờ đến sự can thiệp của ma quỉ. Mang bùa cũng là điều đáng trách. Chiêu hồn thường đi kèm cả bói toán hay ma thuật. Hội Thánh cảnh giác các tín hữu phải xa lánh các điều ấy. Khi dùng các phương thuốc gia truyền, không được kêu cầu các thế lực ma quỉ cũng như lợi dụng sự nhẹ dạ của người khác.”
Việc bạn đưa người thân đến gặp thầy sư để xin vị này chữa bệnh cho thấy bạn đã đồng tình với việc sử dụng một sức mạnh huyền bí, chứ không dùng đức tin vào Thiên Chúa, để chữa bệnh cho người thân của mình. Và việc đồng tình của bạn cũng đồng nghĩa với việc bạn đã không tôn kính và thờ phượng Thiên Chúa trên hết mọi sự như Điều Răn Thứ Nhất dạy. Điều này có tội hay không, chắc là bạn đã rõ.
Là tội không phải chỉ là vi phạm điều Giáo Hội dạy, nhưng hơn hết là do mình đã không còn tin vào Chúa, không cậy vào quyền năng của Chúa, không tin vào sức mạnh của lời cầu nguyện, nhưng lại đi tìm một nơi cậy dựa khác. Ngày xưa, Thiên Chúa trách tội dân Israel là vì họ đã không cậy vào Ngài những lúc khó khăn, nhưng chỉ đi tìm những thần khác để thờ lạy. Việc bạn nhờ đến sức mạnh huyền bí của sư thầy để chữa bệnh cũng là một dạng tương tự như vậy.
Bạn có thể thắc mắc: “nhưng mục đích của tôi là tốt mà, tôi chỉ muốn người thân của tôi được khỏi bệnh thôi”.
Luân lý học có một nguyên tắc: Mục đích không thể biện minh cho phương tiện. Có nghĩa là: không phải cứ nhắm tới mục đích tốt là mình có quyền làm mọi chuyện. Giúp đỡ người nghèo là tốt, nhưng không thể vì giúp người nghèo mà ta đi cướp tài sản của người khác. Ta cũng không thể cho rằng để ngăn chăn sự dữ thì ta cần phải giết hết những người làm điều ác. Quan niệm và hành xử như thế sai. Tương tự như vậy, không thể vì sức khỏe của người thân mà ta loại trừ Thiên Chúa và làm tay sai cho ma quỷ.
Hơn nữa, về mặt thiêng liêng mà nói, bạn có dám chắc là việc người thân của bạn hết bệnh là điều tốt không? Giàu có thể là phúc, cũng có thể là họa; thông minh có thể là phúc, nhưng cũng có thể là họa; khỏe có thể là phúc, cũng có thể là họa; sống lâu có thể là phúc, nhưng cũng có thể là họa. Cái gì cũng có hai mặt của nó. Người Kitô hữu chúng ta được mời gọi để đón nhận hết tất cả những gì Chúa gửi đến và nên thánh trong những điều đó. Trong các Mối Phúc, Đức Giêsu đã đề cao và gọi là có phúc những ai tín thác vào Cha trên trời, chứ không phải là khỏe mạnh hay giàu sang.
Bạn có thể nói: “Nhưng tôi chỉ đưa người thân của tôi đi chữa bệnh thôi mà, tôi đâu có ý gì khác”.
“Chữa bệnh” là cách nói của bạn, nó chỉ là bề ngoài. Cái ẩn tàng đằng sau chữ “chữa bệnh” mới là vấn đề, và đó là việc bạn đã tin và trao phó người thân của mình cho một người không đáng tin, dưới cái nhìn của Giáo Hội. Như những gì bạn nói trong câu hỏi, rõ ràng bạn tin là người thân của bạn bị “ma ám” (nên mới để ông làm phép), chứ không phải bị “bệnh”. Vị sư thầy kia không phải là bác sĩ, không có chuyên môn y học, làm sao có thể “chữa bệnh” được. Giả như ông ta chỉ là giả mạo, bạn chẳng phải đã bị lừa rồi sao? Còn trong trường hợp ông ta có thể làm được, ông ta đã sử dụng một quyền lực huyền bí không-đến-từ-Thiên-Chúa. Bạn nhờ đến năng lực ấy của ông ta, nghĩa là bạn cho rằng chỉ có ông ấy mới có thể giúp người thân của bạn, ngoài ra, không còn một thế lực nào khác có thể. Như thế, bạn đã không tin vào Chúa nữa, và đi kiếm một thần minh khác để giải quyết vấn đề cho mình. Cái sai của bạn nằm ở đó.
Giả như người thân của bạn thật sự bị quỷ ám, tại sao bạn không cậy đến Giáo Hội? Sách GLHTCG 1673 có nói đến việc trừ tà: “Khi Hội Thánh, một cách công khai và có thẩm quyền, nhân danh Chúa Giêsu Kitô, cầu xin để một người hay một đồ vật, được Thiên Chúa bảo vệ khỏi ảnh hưởng của Ác thần và giải thoát khỏi ách thống trị của nó, thì gọi là Trừ tà (exorcismus). Giáo Luật số 1172 quy định rằng: “Không ai có thể trừ tà cách hợp pháp cho những người bị quỷ ám, trừ khi có phép đặc biệt và minh nhiên của Đấng Bản Quyền địa phương. Đấng Bản Quyền địa phương chỉ ban phép trừ ta cho một linh mục đạo đức, sáng suốt, khôn ngoan và có đời sống vẹn toàn”.
Như vậy, ngay cả khi bạn tin là người thân của bạn bị quỷ ám, bạn cũng đã sai khi không nhờ đến Giáo Hội mà lại nhờ đến một thế lực khác bên ngoài Giáo Hội. Nó cho thấy, bạn chẳng những không tin vào Chúa mà còn phản bội lại lời tuyên tín của bạn trong Kinh Tin Kính: Tôi tin Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.
Mong là giải đáp vắn gọn trên đây có thể giúp bạn hiểu rõ hơn không những về giáo huấn của Giáo Hội mà cả lý do vì sao Giáo Hội lại giáo huấn như thế.
Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Nói mà không làm (3.3.2015 – Thứ ba Tuần 2 Mùa Chay)


Lời Chúa: Mt 23, 1-12
1 Bấy giờ, Đức Giê-su nói với dân chúng và các môn đệ Người rằng:2 “Các kinh sư và các người Pha-ri-sêu ngồi trên toà ông Mô-sê mà giảng dạy.3Vậy, tất cả những gì họ nói, anh em hãy làm, hãy giữ, còn những việc họ làm, thì đừng có làm theo, vì họ nói mà không làm.4 Họ bó những gánh nặng mà chất lên vai người ta, nhưng chính họ thì lại không buồn động ngón tay vào.5 Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy. Quả vậy, họ đeo những hộp kinh thật lớn, mang những tua áo thật dài.6 Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường,7 ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “ráp-bi”.
8 “Phần anh em, thì đừng để ai gọi mình là “ráp-bi”, vì anh em chỉ có một Thầy; còn tất cả anh em đều là anh em với nhau.9 Anh em cũng đừng gọi ai dưới đất này là cha của anh em, vì anh em chỉ có một Cha là Cha trên trời.10 Anh em cũng đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo, vì anh em chỉ có một vị lãnh đạo, là Đức Ki-tô.11 Trong anh em, người làm lớn hơn cả, phải làm người phục vụ anh em.12 Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên. 
Suy niệm 
Bài Tin Mừng hôm nay được đọc trong Mùa Chay 
không phải để chúng ta nghiền ngẫm thói hư của một số người Pharisêu, 
nhưng để chúng ta soi gương họ mà nhận ra mình. 
Chẳng có thói đạo đức giả nào của họ mà ta được miễn nhiễm.
Đạo đức giả đơn giản là một sự mâu thuẫn, thiếu thống nhất nơi lòng người. 
Nói rất hay, giảng rất đúng, nhưng lại chẳng sống điều mình nói hay giảng. 
Có một khoảng cách thật xa giữa ngôn và hành. 
Chất trên vai người khác gánh nặng của luật lệ với những đòi hỏi chi li, 
nhưng chính mình lại không muốn chia sẻ chút nào gánh nặng đó. 
Vẫn là khoảng cách giữa nói và làm, giữa mình với người khác. 
Đeo trên trán hay cánh tay những hộp kinh thật to, đính những tua áo thật dài : 
các cử chỉ này lẽ ra để bày tỏ tình yêu đối với Lời Chúa, qui hướng về Chúa, 
thì lại trở nên những cử chỉ qui về mình, 
nhằm làm cho người ta thấy mình, thấy sự đạo hạnh của mình, để tìm tiếng khen. 
Người đạo đức giả không thực sự tìm Chúa. 
Chúa chỉ là phương tiện để họ tự đánh bóng mình trước mặt người đời. 
Háo danh là điều họ khó dứt bỏ trong cuộc sống : 
ưa ngồi chỗ nhất, ưa chiếm ghế đầu, thích được chào là rabbi…
Cộng đoàn Kitô hữu của Matthêu là một cộng đoàn huynh đệ. 
Trong cộng đoàn ấy hẳn có những vị thầy dạy. 
Có những bậc thầy cao niên được gọi một cách trân trọng là rabbi. 
Có những đấng sáng lập cộng đoàn được gọi một cách kính cẩn là cha. 
Nhưng bất chấp điều đó, Đức Giêsu khẳng định : 
Tất cả anh em đều là anh em với nhau” (c.8). 
Mọi thành viên trong cộng đoàn đều lệ thuộc như nhau 
vào một vị Thầy duy nhất là Đức Giêsu Kitô, 
vào một người Cha duy nhất là Cha trên trời. 
Các Kitô hữu gọi nhau là anh, là chị, là em, 
và đối xử với nhau như anh chị em, con một Cha, học trò một Thầy. 
Đừng để ai gọi mình là thầy, đừng gọi ai là cha…” 
Lời của Đức Giêsu vẫn là một lời cảnh giác cho Giáo hội mọi thời.
Càng lớn mạnh theo thời gian, Giáo hội càng cần một cơ cấu tổ chức, 
bao gồm nhiều chức vụ lãnh đạo có uy quyền. 
Làm sao để tinh thần phục vụ khiêm hạ của Đức Kitô thấm vào mọi cơ cấu? 
Làm sao để mọi vị thầy của Giáo hội không che khuất Đấng là vị Thầy duy nhất? 
Làm sao để các người cha thiêng liêng múc được tình phụ tử dịu hiền 
từ Người Cha duy nhất là chính Thiên Chúa?
Cầu nguyện:  
Lạy Chúa Giêsu,
khi đến với nhau,
chúng con thường mang những mặt nạ.
Chúng con sợ người khác thấy sự thật về mình.
Chúng con cố giữ uy tín cho bộ mặt
dù đó chỉ là chiếc mặt nạ giả dối.
Khi đến với Chúa,
chúng con cũng thường mang mặt nạ.
Có những hành vi đạo đức bên ngoài
để che giấu cái trống rỗng bên trong.
Có những lời kinh đọc trên môi,
nhưng không có chỗ trong tâm hồn,
và ngược hẳn với cuộc sống thực tế.
Lạy Chúa Giêsu,
chúng con cũng thường ngắm mình trong gương,
tự ru ngủ và đánh lừa mình,
mãn nguyện với cái mặt nạ vừa vặn.
Xin giúp chúng con cởi bỏ mọi thứ mặt nạ,
đã ăn sâu vào da thịt chúng con,
để chúng con thôi đánh lừa nhau,
đánh lừa Chúa và chính mình.
Ước gì chúng con xây dựng bầu khí chân thành,
để chúng con được lớn lên trong bình an.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

2 thg 3, 2015

Hãy có lòng nhân (2.3.2015– Thứ Hai Tuần 2 Mùa Chay)



Lời Chúa: Lc 6, 36-38
36 “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ.37 Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha.38 Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.”
Suy niệm: 
Lòng nhân có chỗ đứng quan trọng trong Khổng giáo. 
Sách Luận Ngữ coi lòng nhân là nét đặc trưng của con người. 
Phật giáo cũng đề cao tinh thần từ bi hỷ xả. 
Lấy ân báo oán, oán sẽ tiêu tan.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu mời các môn đệ 
Hãy có lòng nhân từ như Cha anh em là Đấng nhân từ” (c. 36). 
Như thế nhân từ là nét đặc biệt nơi Thiên Chúa. 
Nhân từ nằm ở nơi khuôn mặt và ngay nơi trái tim của Ngài. 
Như tín đồ của các tôn giáo khác, Kitô hữu phải sống lòng nhân. 
Nhưng hơn nữa, ở đây, Đức Giêsu mời gọi chúng ta 
bắt chước lòng nhân từ của chính Thiên Chúa, 
một lòng nhân từ không bị giới hạn bởi bất cứ ngăn cách nào.
Lòng nhân được diễn tả bằng bốn mệnh lệnh của Đức Giêsu, 
hai mệnh lệnh tiêu cực và hai mệnh lệnh tích cực. 
Các mệnh lệnh này đều ngắn gọn và nhịp nhàng. 
Phần sau của mỗi mệnh lệnh đều ở thể thụ động, 
nhằm nói lên hành động của Thiên Chúa. 
“Đừng xét đoán để khỏi bị xét đoán, đừng kết án để khỏi bị kết án,
hãy tha thứ thì sẽ được tha thứ, hãy cho thì sẽ được cho lại.”

Xét đoán ở đây không có ý nói đến hành động xét xử của vị quan tòa. 

Nó chỉ muốn nói đến khuynh hướng hay phê bình, chỉ trích người khác. 
Cần để ý đến tam giác giữa Thiên Chúa, tha nhân và chúng ta. 
Thái độ của ta đối với tha nhân thế nào, 
ta sẽ bị Thiên Chúa đối xử lại như vậy. 
Nói cách khác, ta muốn được Thiên Chúa đối xử với mình ra sao, 
ta hãy đối xử với tha nhân như vậy. 
Càng cho nhiều và tha thứ nhiều, càng bớt xét đoán hay kết án, 
ta càng được hưởng lòng nhân từ của Thiên Chúa.
Thiên Chúa đong lại cho chúng ta bằng đấu của chúng ta, 
không phải vì Ngài thiếu quảng đại hay rộng lượng. 
Nhưng vì giống như người đi múc nước bằng một chiếc thùng nhỏ, 
người ấy sẽ chỉ lấy được ít nước thôi. 
Thiên Chúa muốn ban cho ta nhiều hết sức, 
nhưng điều đó còn tùy vào sức chứa của ta. 
Có khi chính ta lại tự giới hạn khả năng đón nhận của mình.
Mùa Chay là thời gian để ta sống lòng nhân của Thiên Chúa. 
Hãy thay đổi cái đấu ta thường dùng để đong cho người khác, 
chúng ta sẽ thấy mình giàu có hơn xưa.
Cầu nguyện:  
Lạy Chúa,
xin cho con quả tim của Chúa.
Xin cho con đừng khép lại trên chính mình,
nhưng xin cho quả tim con quảng đại như Chúa
vươn lên cao, vượt mọi tình cảm tầm thường
để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ.
Xin cho con vượt qua mọi hờn oán nhỏ nhen,
mọi trả thù ti tiện.
Xin cho con cứ luôn bình an, trong sáng,
không một biến cố nào làm xáo trộn,
không một đam mê nào khuấy động hồn con.
Xin cho con đừng quá vui khi thành công,
cũng đừng quá bối rối khi gặp lời chỉ trích.
Xin cho quả tim con đủ lớn
để yêu người con không ưa.
Xin cho vòng tay con luôn rộng mở

để có thể ôm cả những người thù ghét con.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.