Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm Hiểu - Sống Đạo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tìm Hiểu - Sống Đạo. Hiển thị tất cả bài đăng

6 thg 12, 2019

Mạng xã hội tấn công hạnh phúc gia đình


Đang dùng bữa tối trong nhà hàng, chúng tôi thấy một gia đình, vợ chồng và hai người con, bước vào. Nhanh chóng bồi bàn đưa thực đơn, và họ chọn món. Khi chờ thức ăn, tôi ngỡ ngàng vì ai cũng lấy điện thoại ra xem. “Một gia đình thời mạng xã hội”- tôi nghĩ thế. Dĩ nhiên chẳng ai biết họ đang chuyện trò hoặc xem tin tức gì đó trong chiếc điện thoại thông minh. Chúng tôi xì xào với nhau rằng: “Phải chăng điện thoại là mối nguy cho hạnh phúc gia đình?”

Về nhà, tôi tìm đọc vài tài liệu liên quan đến thời công nghệ mạng. Từ quan điểm Giáo Hội công giáo, mạng xã hội và Internet đúng là quà tặng của Thiên Chúa dành cho con người. Tuy nhiên, Giáo Hội luôn cảnh giác người dùng về những mối nguy của nó. Đặc biệt về hạnh phúc gia đình, vấn đề ly thân, ly dị có khi đến từ nguyên nhân: mạng xã hội. Có lẽ nhiều người ngỡ ngàng về nguyên nhân này!

Đó là chủ đề được Thượng Hội Đồng về gia đình bàn nhiều đến trong Tông huấn Niềm Vui Yêu Thương. Khi phân tích thực trạng của các gia đình thời nay, Giáo Hội phải thừa nhận “văn hóa tạm bợ” có mặt ở mọi lãnh vực, nó len lỏi tận đến tương quan đời sống vợ chồng và gia đình. Như thế nào? Chúng ta quen với việc kết bạn trên Facebook, Twitter. Nếu thấy người nào dễ mến, hợp gu hoặc thinh thích là tôi kết bạn. Rất nhiều bạn trong tài khoản mà người ta có khi chẳng nhớ nổi. Buồn vu vơ, người ta dễ dàng ngưng kết bạn. Nói chung mối tương quan trên mạng xã hội không chắc chắn chút nào!

Tiếc rằng từ những hành vi nho nhỏ trên trang mạng ấy, lại ảnh hưởng đến quyết định của nhiều đôi vợ chồng. Giáo Hội chỉ rõ cho những người đã ly hôn: “Người ta tưởng rằng tình yêu, cũng giống như các mạng xã hội, có thể kết nối hay ngưng kết nối tùy theo sở thích của người tiêu dùng và cũng có thể nhanh chóng “bị chặn”.” (Niềm vui yêu Thương số 39). Đáng lẽ hôn nhân liên kết hai người nên một, chung thủy trọn đời, thì giờ đây, định chế ấy đang bị tấn công bởi những quyết định nhanh chóng và nhất thời của nhiều vợ chồng. Yêu cuồng, sống vội là phong cách của nhiều đôi bạn. Dĩ nhiên, gia đình công giáo cũng không miễn nhiễm với “virut” này. Thay vì cổ võ cho tình yêu trọn đời, sự dâng hiến cho nhau, ngày nay không ít người xem hôn nhân có vẻ ràng buộc người ta đến nghẹt thở. Giấy hôn thú, bí tích hôn nhân lấy đi sự tự do của nhiều người. Thực vậy, trong nền văn hóa tạm bợ này: người ta cảm thấy sợ dấn thân vĩnh viễn, sợ không còn thời gian tự do. Vợ chồng, con cái tính toán thiệt hơn, v.v.

Một khi vợ chồng không còn tôn trọng lẫn nhau, họ dễ dàng nói lời ly dị. Họ xem nhau như đồ vật, hàng hóa: dùng xong rồi vứt bỏ, thế thôi! “Hết yêu thì chia tay!” là câu nói đang trở nên phổ biến trong nhiều gia đình trẻ thời nay. Theo nghiên cứu của Giáo hội: “ai sử dụng người khác như các đồ vật, thì sớm hay muộn, sẽ bị người khác sử dụng, bị thao túng và bỏ rơi như thế.” Xin đừng yêu “qua đường”, nhưng hay yêu thật lòng, hy vọng sẽ cho người ta hạnh phúc. Nếu không, đống hồ sơ ly dị, vụ kiện cáo ly hôn cứ tăng dần. Mà một trong những thủ phạm chúng ta có thể đoán ra: bỏ nhau dễ như ngừng kết bạn với một ai đó trên mạng xã hội.

Xin đừng tưởng mạng xã hội chỉ tấn công vào những gia đình trẻ. Giáo Hội lưu ý vấn đề này có khi xảy ra cho những người lớn tuổi. Lý dó là “người lớn tuổi thích tìm một lối sống độc lập và từ chối lí tưởng chung sống với nhau cho đến tuổi già, để chăm sóc và nâng đỡ nhau.” Tôi nhớ thời ông bà ngày trước không có những suy nghĩ bỏ nhau hoặc ly dị. Hoặc ít ra, tình trạng ly dị ngày xưa không nhiều. Phải chăng khi mạng xã hội lên ngôi, nhiều tư tưởng cởi mở, chủ nghĩa hưởng thụ và cá nhân,v.v., đã bào mòn hạnh phúc các gia đình.

Về lý do trên đây có thể nhiều người không đồng ý. Thực ra, mạng xã hội chỉ là một trong muôn vàn lý do tấn công hạnh phúc gia đình. Trong khi nghiên cứu thực trạng của các gia đình, Giáo Hội còn liệt kê (từ số 40-43):

  • “Văn hóa khuyến khích người trẻ không lập gia đình.”
  • “ảnh hưởng của những ý thức hệ xem thường hôn nhân và gia đình, hoặc do muốn tránh kinh nghiệm thất bại của những đôi hôn nhân đi trước.”
  • “một thứ tình cảm quy ngã, bất ổn và thay đổi thất thường, vốn không luôn giúp người ta đạt tới sự trưởng thành chín chắn hơn”.
  • “Hình ảnh khiêu dâm và thương mại hóa thân xác, được thúc đẩy bởi việc lạm dụng các mạng toàn cầu”
  • “Người ta đương đầu với vấn đề này cách quá vội vàng và không đủ can đam để kiên nhẫn, thẩm định, tha thứ cho nhau, làm hòa lại với nhau và cũng để hi sinh cho nhau.”
  • “Não trạng không muốn sinh con và được khuyến khích.”
  • “Tình trạng đức tin và thực hành tôn giáo suy yếu.”
  • v.v
Đã đến lúc các gia đình, nhất là người trẻ để tâm hơn đến ơn gọi cao quý của mỗi người. Hôn nhân chắc chắn luôn là nét đẹp tuyệt vời. Đó là ơn gọi Thiên Chúa dành cho hầu hết chúng ta. Trong đó, tình yêu vợ chồng sẽ là chìa khóa để người ta giải quyết mọi vấn đề. Cho dù bức tranh về hạnh phúc gia đình có nhiều vết tối, nhưng luôn còn đó biết bao gia đình hạnh phúc. Là gia đình công giáo, họ dám để cho Thiên Chúa tác động đến hai người, đến các thành viên trong gia đình. Khi đó, những mỗi nguy, kể cả mạng xã hội, có thể được hóa giải một cách tốt đẹp.
Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

14 thg 10, 2019

Không nên đem hoa và nến trong cuộc rước dâng của lễ


 
c

Tại Việt Nam, mỗi khi tổ chức cuộc rước dâng lễ vật (phải gọi là cuộc rước chuẩn bị lễ vật thì đúng hơn vì dâng lễ thực sự diễn ra sau đó trong Kinh nguyện Thánh Thể)[1], chúng ta đều thấy có mang theo cả hoa và nến. Đây là thực hành đã tồn tại từ nhiều chục năm nay mà không ai thắc mắc gì khiến đa số tưởng như vậy là ổn. Do vậy, người ta thường chỉ đặt ra câu hỏi là: thứ tự của cuộc rước thế nào, người mang hoa và nến đi trước hay đi sau người mang bánh-rượu? Thực ra, khi nhìn lại thực hành này dưới khía cạnh lịch sử, luật pháp, thần học và mục vụ, việc đem hoa và nến đang cháy trong đoàn rước chuẩn bị lễ vật là dư thừa và không cần thiết. Như thế, không còn cần phải giải đáp hoa và nến đi trước hay sau bánh - rượu nữa vì hoa và nến không nên có trong đoàn rước này.

Vài nét lịch sử về cuộc rước

Từ ban đầu, các tín hữu đưa bánh rượu đặt trên bàn vị chủ sự để cử hành Bữa tối của Chúa, như họ thường gọi, hay cử hành Eucharistia[2].

Khi Bữa ăn Huynh đệ (Agape) không còn nữa, các tín hữu vẫn tiếp tục đưa của lễ đến để tham dự thánh lễ. Trong những của lễ này, vào thế kỷ II- III, các phó tế tiếp nhận lễ phẩm bánh và rượu và trình bày chúng cho Đức Giám mục để ngài cử hành Hy tế Thánh Thể nên chúng được coi như là oblatio (hiến vật) nghĩa là đồ vật thánh thiêng. Trong thể kỷ III, lý do Giáo hội khuyến khích các tín hữu đem dâng bánh rượu và các hoa mầu ruộng đất khi tham dự thánh lễ là nhằm giúp các tín hữu biết trân trọng các đối tượng vật chất và nhằm chống lại phái Ngộ đạo thuyết vốn chủ trương thuyết nhị nguyên bài vũ trụ, chấp nhận hai nguyên lý tốt xấu trong vũ trụ. Họ cho rằng sự ác nằm trong thế giới vật chất xấu xa nên những gì thuộc vật chất phải loại trừ[3]. Cũng trong thế kỷ III, thánh Cyprianô khuyến khích các tín hữu mang lễ vật của họ đến nhà thờ[4].

Sang thế kỷ IV, theo tường thuật của thánh Giêrônimô, các tín hữu đem theo lễ phẩm cũng như ý nguyện của mình khi đến tham dự thánh lễ. Họ rước lễ vật và đặt chúng ở một chỗ thuận tiện trước Thánh lễ [trên những chiếc bàn nhỏ ở gian ngang của nhà thờ Rôma]. Sau Phụng vụ Lời Chúa, thầy phó tế sẽ đưa các lễ phẩm này đến cho Giám mục. Ngoài của lễ là bánh và rượu, sách Truyền thống Tông đồ cho biết, các tín hữu còn mang lúa mì, dầu, nến, đèn, hương, vải, trái cây (nho, sung, lựu, táo, lê, đào, dâu, sơri, mận…), bánh sữa, mật ong... và nhiều thứ khác nữa (thỉnh thoảng có hoa đặc biệt là hoa hồng và hoa huệ) không những làm của lễ dâng tiến mà còn nhằm mục đích bác ái: nuôi dưỡng các giáo sĩ, lo cho các công việc của Giáo hội và giúp những người nghèo[5]. Nhiều Công đồng địa phương đã tìm cách hạn chế một số loại của lễ, và sách Hiến chế các Tông đồ (năm 380) liệt kê những thứ được phép là bánh, rượu, hương, hạt lúa, trái nho, trái ôliu và nến sáp[6]. Rượu được đựng trong bình lớn có quai, bánh mì đặt trên bàn rồi dùng tấm khăn lớn phủ lại cho khỏi bụi, còn các của lễ khác thì đặt bên cạnh bàn thờ[7].

Ở Tây phương, cuộc rước lễ phẩm sa sút dần dần suốt thời kỳ tiền Trung cổ. Lý do là vì bánh có men thông thường không thích hợp cho cử hành Thánh Thể nữa; mặt khác, số người tham dự thánh lễ và lên hiệp lễ ngày càng ít ỏi đi. Cuộc rước dâng của lễ kể như biến mất khi người ta thay đổi lễ vật tiến dâng từ sản phẩm nông nghiệp sang dâng cúng tiền bạc. Từ đó, quyên góp tiền bằng những thùng hay giỏ tiền trở thành một thực hành phổ biến trong Giáo hội[8].

Việc các tín hữu đến dâng lễ mang của lễ đi theo đã được ghi lại trong nhiều bút tích của các giáo phụ. Khoảng thế kỷ II, một tân Kitô hữu thường phải mang lễ vật của họ lần đầu tiên khi họ đến tham dự nghi thức Khai tâm Kitô giáo vào đêm Vọng Phục sinh[9]. Năm 155, thánh Justinô đã đề cập đến tập tục mang bánh và rượu đến cho vị tư tế sau khi kết thúc những Lời Chuyển cầu (Apol LXVII, 5)[10]. Thánh Hippôlytô (năm 225) cũng ghi nhận thực hành này. Trong thời gian đó, Tertulianô (199) cũng nói về dân chúng mang lễ vật của họ đến với thánh lễ như một “hiến lễ” dâng lên Thiên Chúa. Giữa thế kỷ III, đang khi đề cập đến việc các tín hữu trình bày lễ phẩm của họ, thánh Cyprianô thành Carthage (210-258) đã khiển trách một bà giàu có dám tớí dự thánh lễ mà không mang theo lễ vật[11].

Thánh Augustinô quả quyết rằng mẹ ngài không ngày nào không mang của lễ tới bàn thờ (Confessions, V, 9, 17). Công đồng Mâcon (585) truyền cho đàn ông đàn bà khi đi dâng lễ phải mang của lễ đi theo. Nhiều Công đồng khác cũng nhắc lại lệnh này, tuy càng ngày nó càng mất hiệu lực[12].

Vào thời Trung cổ, sau khi phụng vụ Rôma truyền qua Pháp, bị ảnh hưởng ngôn ngữ và khuynh hướng thần học tại đây, thánh lễ dần dần trở nên xa lạ với giáo dân. Trong phần Dâng lễ, họ không còn tích cực tham dự như trước. Chắc chắn từ ban đầu, bánh được đem dâng tiến là những ổ bánh mì, vì vậy, việc bẻ bánh ra những phần nhỏ đem phân phát cho nhiều người tham dự là điều cần thiết trong suốt thời gian dài trong Giáo hội thời cổ.

Từ thế kỷ VII, Giáo hội bên Tây phương cho hát Agnus Dei (Lạy Chiên Thiên Chúa...) kèm theo nghi thức Bẻ bánh. Nhưng đến thế kỷ VIII-IX, Giáo hội bên Tây phương chuyển sang dùng bánh không men thay cho bánh có men là thứ bánh hằng ngày dân chúng vẫn dùng trong các bữa ăn và có thể mua cách dễ dàng tại các tiệm bánh. Vì bánh không men được chuẩn bị cách đơn giản từ bột và nước mà không thêm bất kỳ một loại men nào, cho nên có thể giữ được lâu mà không sợ hư. Đàng khác, để tỏ lòng cung kính, người ta làm thứ bánh riêng theo hình tròn và dẹp. Bánh loại này không dễ bị rơi vãi vụn, dễ dàng phân phát cho nhiều người, do vậy không cần giáo dân đem lễ vật đến dâng trong phần Chuẩn bị Lễ vật nữa. Đó là lý do thay vì dân chúng mang bánh đến tiến dâng, sang thế kỷ XI, người ta dâng cúng tiền bạc. Điều này kéo theo hai việc: i] Cuộc rước kiệu phẩm vật biến mất; ii] Hình thành thực hành quyên tiền trong thánh lễ, xuất hiện khái niệm và thực hành xin lễ các linh mục, nhất là tang gia xin lễ cầu cho người quá cố của họ. Thói quen xin lễ như thế trở nên phổ biến vào thời Trung cổ, nhất là tại các đan viện vì nơi đây có nhiều linh mục. Nhưng tập tục này lại làm tách biệt việc dâng lễ với sự hiện diện để tham dự thánh lễ vì giáo dân nghĩ rằng họ chỉ cần xin lễ, tức “khoán trắng” cho các linh mục dâng lễ bằng một món tiền để ngài cầu nguyện theo ý chỉ là đủ, là đã hiệp thông với linh mục khi ngài dâng lễ rồi, không cần thiết họ phải đến hiện diện trong Thánh lễ nữa[13].

Thực hành rước dâng lễ vật hiện nay

Cuộc rước lễ phẩm được áp dụng phổ biến như hiện nay được phục hồi trở lại sau Công đồng Vatican II với hướng dẫn trong Sách lễ 1970. Toàn bộ nghi thức chuẩn bị bàn thờ và lễ vật hiện nay bao gồm: Chuẩn bị bàn thờ[14]; Mang lễ vật trong đoàn rước lên bàn thờ[15]; Đặt lễ vật lên bàn thờ (sau khi đọc lời nguyện “Lạy Chúa là Chúa cả trời đất…”)[16]; Xông hương lễ vật, dân chúng và chủ tế rửa tay[17]; Đọc Lời nguyện Tiến lễ.
Vì bài viết này chỉ xem xét lễ phẩm dâng tiến mang trong đoàn rước, nên chỉ nêu ra hai văn bản hướng dẫn cụ thể:

1. Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma [2002] số 73:

Bắt đầu phần phụng vụ Thánh Thể, các lễ vật được đưa lên bàn thờ và sẽ trở thành Mình và Máu Chúa Kitô.

Trước hết phải chuẩn bị bàn thờ hoặc còn gọi là bàn ăn của Chúa, tâm điểm nơi diễn ra toàn bộ phần phụng vụ Thánh Thể, phải trải trên đó một khăn thánh, đặt khăn lau chén, Sách lễ và chén lễ, trừ khi chén lễ được dọn ở bàn phụ.

Tiếp đến là đem lễ vật lên: nên để giáo dân dâng bánh và rượu, linh mục hoặc phó tế nhận tại một nơi thuận tiện, và đưa lên bàn thờ. Mặc dầu ngày nay giáo dân không còn mang bánh rượu của mình đến để dùng vào việc phụng vụ như xưa, nhưng việc dâng lễ vật vẫn giữ được giá trị và ý nghĩa thiêng liêng của nó.

Cũng được nhận tiền bạc hoặc các phẩm vật khác, do tín hữu mang đến hoặc được quyên ngay trong nhà thờ để giúp người nghèo hoặc nhà thờ, những phẩm vật này được đặt ở một nơi xứng hợp ngoài bàn thờ.

2. Nghi thức Thánh lễ [2002] số 22:

Các tín hữu nên biểu lộ sự tham dự của mình bằng việc dâng lễ vật: hoặc dâng bánh rượu để cử hành thánh lễ, hoặc những lễ vật khác theo nhu cầu của Hội Thánh và người nghèo.

Từ hướng dẫn ở trên, chúng ta thấy rằng:

Mục đích chính của nghi thức dâng lễ là mang lên bàn thờ bánh và rượu được sử dụng cho hy lễ Thánh Thể.

Ngoài bánh và rượu ra, có thể đem theo cuộc rước những lễ vật khác nữa trong đó có cả tặng phẩm dưới hình thức tiền bạc hay những lễ phẩm khác nhằm mục đích chăm lo cho Hội Thánh cũng như giúp đỡ người nghèo.

Tiền bạc, cũng như những vật phẩm khác dành cho người nghèo, phải được đặt để vào một nơi thích hợp, ngoài bàn tiệc Thánh Thể vì khác với bánh rượu, chúng không trực tiếp thuộc về dấu chỉ bí tích của bữa tiệc.

Có thể mang theo hoa và nến trong cuộc rước không?

Có những lý do sau đây khiến chúng ta phải loại hoa và nến [đang cháy] ra khỏi cuộc rước dâng lễ vật: 

1 - Không phải hoa hay nến, mà chính là bánh và rượu cũng như những lễ phẩm khác tín hữu đem lên trong cuộc rước là những dấu chỉ bên ngoài về hy lễ thiêng liêng của họ, đó là biểu tượng của “một tâm hồn thống hối ăn năn và lòng mến Chúa yêu người, làm cho chúng ta xứng hợp với hy lễ của Đức Kitô, Đấng đã nộp chính mình vì chúng ta”. Sở dĩ Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma số 73 khẳng định “việc dâng lễ vật vẫn giữ được giá trị và ý nghĩa thiêng liêng của nó” là bởi vì nghi thức rước lễ phẩm:

i] Diễn tả việc toàn thể cộng đoàn đều tham dự vào hiến tế của Chúa Kitô trong thánh lễ [mà không còn là việc của riêng linh mục nữa] cũng như vào trong sứ vụ của Giáo hội;

ii] Cho thấy rõ hơn là tất cả đời sống con người đi vào trong mầu nhiệm đang khởi sự;

iii] Ngay sau nghi thức này, các tín hữu được chuẩn bị để tham dự cách thiêng liêng vào hy tế của Đức Kitô trong Kinh nguyện Thánh Thể[18].

2 - Chủ đích của cuộc rước dâng lễ vật không phải là rước các biểu tượng khác cho bằng là đem “dâng tiến”:

i] Bánh rượu: Đại diện cho tất cả những gì mà thiên nhiên tạo ra và nằm trong kế hoạch sáng tạo của Thiên Chúa. Đây cũng là hoa màu ruộng đất và công lao của con người [xét như là một biểu tượng cực kỳ mạnh mẽ về của ăn nuôi sống con người nói chung (bánh - St 3, 19; Mt 6, 11), biểu tượng cho niềm vui mừng hạnh phúc của con người (rượu - Tv 104, 15; Hc 31, 27-28; Cn 31, 6-7; Gv 10, 19) cũng như biểu tượng cho toàn bộ cuộc sống chúng ta và của chính bản thân mỗi người chúng ta: thể lý, tâm lý và thiêng liêng] vốn đã được sử dụng trong bối cảnh của lễ Vượt qua và trong bữa Tiệc ly và sẽ được biến đổi thành Mình và Máu Chúa Kitô để chúng ta được nuôi dưỡng, được hiệp thông với Chúa và với nhau khi lãnh nhận Thánh Thể (1Cr 10, 16-17)[19];

ii] Tiền bạc và những tặng phẩm khác: xét như là nhu yếu phẩm dành cho nhu cầu của Giáo hội và người nghèo sau thánh lễ, tức phục vụ cho sứ vụ của Giáo hội và của giáo xứ: hoat động bác ái và loan báo Tin Mừng. Thế nên, có thể nói, cuộc rước chuẩn bị lễ vật chính là một bài thực tập và thực hành về tình yêu dành cho tha nhân, nhất là đối với những người yếu đau, bệnh tật và nghèo túng.

Trong khi đó, hoa và nến là vật phẩm mang ý nghĩa hoàn toàn khác: chúng vừa không được sử dụng để làm chất liệu cho hy tế Thánh Thể vừa không dễ dàng diễn tả được lòng bác ái đối với người nghèo. Theo bản chất của chúng, hoa và nến cháy thường không phục vụ cho bất kỳ mục đích nào sau cử hành thánh lễ. Hơn nữa, mang theo hoa và nến trong đoàn rước sẽ xảy ra nguy cơ là dân chúng có thể chú ý đến những người mang hoa - nến hơn là những người mang bánh rượu và những lễ phẩm khác.

3 - Như đã trình bày ở trên, về phương diện lịch sử, bên cạnh lễ phẩm chính là bánh rượu cũng như các sản phẩm từ hoa màu ruộng đất và lao công của con người như lúa mì, trái cây, mật ong, sữa, dầu, hương, vải…, thì hoa - nến cũng nằm trong số các lễ phẩm dâng tiến. Tuy nhiên, có vài điểm cần lưu ý ở đây:

i] Nguyên tắc là có những thực hành phụng vụ phải thay đổi bằng cách bỏ đi hay chỉnh sửa lại đôi chút cho phù hợp và hoa - nến [đang cháy] trong đoàn rước chuẩn bị lễ vật nằm trong trường hợp này;

ii] Hoa - nến được đem lên vào lúc này nằm trong bối cảnh phụng vụ khác với hiện nay, nghĩa là bàn thờ vào thời điểm này mới được chuẩn bị bằng cách đốt nến sáng và trưng hoa;

iii] Một số nến được dâng vào lúc này thuộc về nhu cầu của Giáo hội để dùng cho những buổi cử hành khác sau này chứ không phải là nến đang cháy[20].

Còn ngày nay, hoa và nến [đang cháy] là một biểu tượng không mang ý nghĩa lương thực hay nhu yếu phẩm của con người, do vậy được Giáo hội dùng vào việc trưng bày trong cung thánh ngay từ đầu lễ [để tỏ lòng cung kính và mừng lễ] chứ không phải trong cuộc rước dâng của lễ[21], trừ ra trong ngày thứ Bảy Tuần Thánh (lễ Vọng Phục Sinh) và trong thánh lễ có nghi thức cung hiến bàn thờ hay làm phép bàn thờ[22]. Dẫu vậy, trong lễ Vọng Phục Sinh, hoa nến (chưa cháy) cũng đã được trưng ngay từ đầu lễ, đến kinh Vinh Danh thì chỉ đốt nến mà thôi. Còn những trường hợp khác, việc chuẩn bị bàn thờ với các đối tượng như hoa và nến diễn ra trước cuộc rước lễ phẩm chứ không phải mang theo trong chính cuộc rước này (Notitiae 35 (1999): 456)[23]. Hoa và nến đang cháy là những yếu tố trang trí cho không gian phụng tự. Chúng thuộc về môi trường phụng vụ chứ không nằm trong số những lễ phẩm cho người nghèo[24].

Thật vậy, ánh sáng [chẳng hạn của nến đang cháy, đèn pha lê…] là một biểu tượng. Việc đốt đèn hay nến bàn thờ có những ý nghĩa sau:

i] Bày tỏ sự kính trọng sâu xa nhất của Giáo hội đối với bàn thờ vốn là biểu tượng của Chúa Kitô và là nơi Hy tế Thánh Thể được dâng tiến;

ii] Không phải vì thiếu ánh sáng mà dùng nến, nhưng nến được đốt sáng trong buổi cử hành phụng vụ vừa để tôn vinh Chúa Kitô, làm dấu chỉ cho Đức Kitô Phục Sinh là “ánh sáng trần gian”, vừa biểu trưng cho những kẻ theo Ngài, họ cũng được mời gọi trở nên “con của ánh sáng”, nên “ánh sáng cho thế gian” (Ga 8, 12; 9, 5; Mt 4, 16. 5,14; Lc 1, 79);

iii] Đốt nến cho cháy sáng trong nhà thờ / nhà nguyện là nhằm thể hiện thái độ của chúng ta sẵn sàng đi vào cầu nguyện, không ngừng dâng lên Thiên Chúa lời khẩn cầu tha thiết trong suốt cuộc sống của mình[25]. Thay đổi số cây nến là một cách thức phân biệt ngày lễ và mức độ cử hành. Hiện nay, tập tục tốt lành đã phát triển ở một vài nơi là sử dụng 2 nến cho lễ thường và lễ nhớ, 4 cho lễ kính và 6 nến cho lễ Chúa nhật cùng lễ trọng. Vào những dịp long trọng, sẽ sử dụng 7 nến khi Đức Giám mục giáo phận chủ tế[26]. Ngày xưa, luật Giáo hội quy định rõ ràng: lễ trọng (6 nến); lễ hát (4-6 nến); lễ đọc (2 nến); đặt Mình Thánh chầu và ban phép lành Thánh Thể bằng hào quang (12 nến); ban phép lành bằng bình thánh (6 nến)[27]

"...Còn ngày nay, hoa và nến [đang cháy] là một biểu tượng không mang ý nghĩa lương thục hay nhu yếu phẩm của con người, do vậy được Giáo hội dùng vào việc trưng bày trong cung thánh ngay từ đầu lễ [để tỏ lòng cung kính và mừng lễ] chứ không phải trong cuộc rước dâng của lễ..."

Hoa lá cũng là một biểu tượng. Chẳng hạn: hoa huệ chỉ sự thanh khiết và mùa Phục Sinh; hoa hồng nói về tình yêu; cây (trái) lựu chỉ sự bất tử; lúa mì chỉ về Thánh Thể; vòng hoa với 3 cây nến tím và một cây nến hồng ám chỉ mùa Vọng; hoa trạng nguyên biểu tượng cho mùa Giáng Sinh… Sử dụng khôn khéo các vật liệu tự nhiên (cây cối, hoa, lá, cành, đá, cát, gỗ, san hô...) và nhân tạo (màn trướng, vải vóc, tranh ảnh, chén chậu, khung sườn, rubăng, cây Giáng Sinh...), cũng như màu sắc và ánh sáng khi trang hoàng cho đúng chỗ đúng dịp là nhằm mục đích thông truyền niềm tin và các giá trị vô hình, lôi kéo các tín hữu tham dự cả hồn lẫn xác của họ một cách có ý thức, tích cực và trọn vẹn vào cử hành phụng vụ. Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma [2002] số 305 dạy: “Nên giữ chừng mực khi trang hoàng bàn thờ. Trong mùa Vọng, bàn thờ được chưng hoa cách vừa phải, thích hợp với đặc tính của mùa, để không cho thấy quá sớm niềm vui trọn vẹn của ngày sinh nhật Chúa. Mùa Chay không được chưng hoa trên bàn thờ, trừ Chúa nhật Laetare (IV mùa Chay), các lễ trọng và lễ kính. Việc chưng hoa phải luôn luôn điều độ, và nên đặt hoa chung quanh bàn thờ hơn là trên bàn thờ”. Việc sử dụng màu hoa cũng như số lượng hoa thế nào tùy theo mùa phụng vụ, nơi chốn và tập tục địa phương.

Như vậy, trên hay gần bàn thờ có nến đã được đốt cháy ngay từ đầu lễ rồi [với số lượng đã được đề nghị rõ ràng] cũng như hoa đã được trang trí mang tính biểu tượng ngay từ đầu lễ[28]. Trước câu hỏi liệu có thể đem khăn bàn thờ và nến cháy lên bàn thờ trong cuộc rước lễ phẩm không, Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích đã trả lời dứt khoát không được: không thể trì hoãn trải khăn bàn thờ và trưng nến vào thời điểm chuẩn bị lễ vật (Notitiae 35 (1999): 456)[29]. Vì thế, không cần thiết phải “tăng cường” số lượng hoa và nến trên cung thánh nữa nhờ vào hoa nến mang theo trong đoàn rước dâng lễ. Thực hành này dễ dàng lôi kéo người ta đến việc nhìn ngắm và quan sát hoa nến hơn là đang tiến hành một hành vi phụng tự đúng nghĩa, và như thế không nên có chỗ trong cử hành phụng vụ. Tốt hơn hết, hành động này nên thực hiện bên ngoài thánh lễ.

4 - Hoa và nến là hai đối tượng được Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma [2002] và Nghi thức Thánh lễ [2002] nói một cách rõ ràng bất cứ khi nào cần được đề cập đến[30]. Tuy nhiên, số 73 của Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma [2002] và số 22 của Nghi thức Thánh lễ [2002] chỉ nhắc đến đối tượng có thể đem theo trong cuộc rước chuẩn bị lễ vật là bánh và rượu cùng những lễ phẩm khác nữa, trong đó có cả tặng phẩm dưới hình thức tiền bạc hay những lễ phẩm dùng cho nhu cầu của Hội Thánh và thi hành bác ái đối với người nghèo. Cụm từ “các phẩm vật khác” trong Quy chế Tổng quát Sách Lễ Rôma [2002] số 73 (Cũng được nhận tiền bạc hoặc các phẩm vật khác, do tín hữu mang đến hoặc được quyên ngay trong nhà thờ để giúp người nghèo hoặc nhà thờ) và “những lễ vật khác” trong Nghi thức Thánh lễ [2002] số 22 (hoặc những lễ vật khác theo nhu cầu của Hội Thánh và người nghèo) chắc chắn không thể hiểu gồm cả là hoa và nến.

5 - Nếu không hiểu nến là lễ phẩm như trên mà chỉ là nến cháy sáng đi theo cuộc rước như trong nhiều cuộc rước khác, thì cũng không được áp dụng trong trường hợp này. Bởi vì nến đang cháy [trong cuộc di chuyển / rước nào đó] là yếu tố cần thiết để đi kèm và tôn cao các đối tượng cao trọng và thánh thiêng như Thánh Thể, thánh giá, Sách Tin Mừng hay ảnh tượng thánh. Do đó, không thể mang theo nến đang cháy trong cuộc rước dâng của lễ với những đối tượng là bánh và rượu chưa được truyền phép, tiền nong hay những lễ phẩm khác[31].

6 - Thông thường, chúng ta vẫn dâng tặng bông cho những nhân vật vị vọng vào lúc cuối lễ mà nhiều khi những bó hoa này lại sang trọng và rực rỡ hơn cả hoa trong đoàn rước dâng lễ vật. Điều này tạo ra một sự khập khiễng và kỳ quặc không những vì đối tượng được kính dâng [theo nghĩa là kính trọng, tạ ơn và vinh danh] mà còn vì sẽ xảy ra một sự lập lại trái khoáy do ý nghĩa của hai lần dâng hoa này hoàn toàn khác biệt nhau. Cách giải quyết vấn đề khập khiễng và kỳ quặc này không phải là giảm bớt hoa tặng lúc cuối lễ hay tăng số lượng hoa trưng trong cung thánh, mà chính là đừng bao giờ mang hoa trong đoàn rước chuẩn bị lễ vật.
 

[1] Xc. Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma (= QCSL) [2002], số 79f.
[2] Xc. Heliodoro Lucatero, The Living Mass (USA: Liguori Publications, 2011), 9.
[3] Xc. Vinh sơn Nguyễn Thế Thủ, Phụng vụ Thánh Thể (Sài Gòn: ĐCV thánh Giuse, 2001),105.
[4] CCL 3a:64-65, trích lại từ Paul Turner, The Supper of the Lamb (Chicago: Liturgy Training Publications, 2011), 50.
[5] Trần Đình Tứ, Phụng vụ Thánh lễ (Sài Gòn: ĐCV Thánh Giuse, 1997), 91
[6] Phan Tấn Thành, Cử hành Bí tích Tình yêu (Sài Gòn: Học Viện Đaminh, 2012),179.
[7] Lawrence J. Johnson, The Mystery of Faith: A Study of the Structural Elements of the Order of the Mass (Washington DC:  FDLC, NE, 2003),  61.
[8] Johannes H. Emminghaus, The Eucharist - Essence, Form, Celebration (Minnesota: The Liturgical Press, 1997), 65.
[9] Bulletin 51, Christian Initiation, 281-283.
[10] Xc. Sách Giáo lý Hội Thánh Công giáo, số 1345.
[11] Cypriano, Liber de opere et eleemosinis, 15 = PL 4:612-613 trích lại trong Catherine Vincie, “The Mystagogical Implications”, ed. Foley, Edward, A Commentary on the General Instruction of the Roman Missal (Minnesota: A Pueblo, The Liturgical Press, 2007), 222.
[12] Trích lại trong Trần Đình Tứ, Phụng vụ Thánh lễ, 92.
[13] Phan Tấn Thành, Cử hành Bí tích Tình yêu,180; Xc. Vinh sơn Nguyễn Thế Thủ, Phụng vụ Thánh Thể, 107.
[14] Xc. QCSL [1970], các số 49-52); Paul Turner, The Supper of the Lamb, 51.
[15] Xc. QCSL [2002], các số 73-76.
[16] Xc. Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, Huấn thị Bí tích Cứu độ, số 70.
[17] Công đồng Vatican II, Hiến chế Phụng vụ Thánh, số 48.
[18] Xc. QCSL 78.
[19] Xc. QCSL 321
[20] Xc. Augustinô Nguyễn Văn Trinh, Phụng vụ Thánh lễ (1999), 336-340
[21] Xc. QCSL 117, 297, 307.
[22]  Xc. Sách Các Phép, các số 948, 981.
[23] Xc. Lawrence E. Mick, Worshiping Well ((Minnesota: The Liturgical Press, 1997), 63.
[24] Xc. Paul Turner, “Liturgical Catechesis:  Preparation of the Gifts” trong Modern Liturgy 28/9 (November 1993):24-25.
[25] Xc. Antonio Donghi, Actions and Words, bản dịch từ tiếng Ý bởi William McDonough và Dominic Serre (Collegeville, Minesota: The Liturgical Press, 1997), 83.
[26] Xc. QCSL 117.
[27] Xc. Edwin Ryan, Candles in the Roman Rite (Baltimore: A. Gross Candle Co., 2009), 15-23.
[28] Xc. QCSL 117, 307.
[29] Utrum in offertorio ad altare ferri possint linteamina eiusdem cum candelabris in processione donorum?  Negative.
[30] Xc. QCSL 100, 117, 119, 120, 133, 175, 188, 274, 297, 305.
[31] Xc. QCSL 117, 120, 133, 175, 188, 274
Tác giả bài viết: Lm. Giuse Phạm Đình Ái, SSS

RƯỚC LỄ BẰNG CÁCH CHẤM BÁNH. NÓI THÊM VỀ VỊ TRÍ NHÀ TẠM.


RƯỚC LỄ BẰNG CÁCH CHẤM BÁNH.
NÓI THÊM VỀ VỊ TRÍ NHÀ TẠM.
Giải đáp của Cha Edward McNamara, Dòng Đạo Binh Chúa Kitô (LC), giáo sư phụng vụ và thần học Bí tích, Giám đốc Viện Sacerdos tại Đại học Regina Apostolorum (Nữ Vương các Thánh Tông Đồ), Rôma.
Hỏi: Câu hỏi của con liên quan đến phương thức cho các nam nữ tu sĩ Rước lễ dưới hai hình. Linh mục cầm Mình Thánh, đưa cho một tu sĩ nam hoặc nữ, và nói: “Mình Máu Thánh Chúa Kitô”, tu sĩ này cầm Mình Thánh trong tay, nhúng vào Máu Thánh rồi Rước lễ. Hoặc linh mục cầm Mình Thánh, nhúng vào Máu Thánh, đưa lên lưỡi tu sĩ, và nói: “Mình Máu Thánh Chúa Kitô”. Thưa cha, cách nào là đúng? - S. K., Vijayawada, Andhra Pradesh, Ấn Độ.
Đáp: Về cơ bản, hình thức thứ hai là chính xác mặc dù với một số biến thể có thể được.
Hình thức đầu tiên là về cơ bản bị cấm, vì nó sẽ tạo thành một phương thức tự Rước lễ. Trong Thánh lễ, mọi người, ngoại trừ các vị đồng tế, phải luôn luôn Rước lễ qua một thừa tác viên. Trong trường hợp Rước lễ ngoài Thánh lễ do không có linh mục, các thừa tác viên sẽ cho tín hữu Rước lễ sau khi mình đã tự Rước lễ.
Đối với hình thức đầu tiên được trình bày bởi bạn đọc này, Thánh Bộ Phượng Tự đã chính thức trả lời cho một câu hỏi vào năm 2002. Xin mời đọc:
“Trong việc cho Rước lễ dưới hai hình, liệu tín hữu Chúa Kitô được phép lên Rước lễ, bằng cách cầm Mình Thánh đã được trao vào tay, và nhúng một phần vào Chén thánh do một linh mục hoặc phó tế cầm, rồi đưa vào miệng mình không?
“Đáp: Không được.
“Quy Chế Tổng Quát Sách lễ Rôma, ấn bản mẫu thứ ba, khẳng định cách rõ ràng: ‘Sau đó vị tư tế cầm Đĩa thánh hay Bình thánh, tiến đến chỗ những người rước lễ thông thường đi lên theo hàng. Không cho phép chính tín hữu tự mình cầm lấy Bánh thánh và Chén thánh, càng không được chuyền cho nhau. Các tín hữu rước lễ quỳ hay đứng tùy theo quy định của Hội Ðồng Giám Mục. Nếu đứng, họ nên tỏ một cử chỉ tôn kính, theo như luật định, trước khi nhận Mình Máu Thánh’ (số 160); và được thêm vào đó một điều liên quan đến trường hợp này: 'Nếu rước Chén thánh bằng cách chấm, người rước cầm đĩa dưới miệng, tiến đến vị tư tế cầm Chén thánh và bên cạnh ngài có thừa tác viên cầm Bình Mình Thánh. Vị tư tế lấy Bánh thánh, nhúng một phần vào Chén, rồi đưa cho vừa nói: "Mình và Máu Chúa Kitô", người rước nhận lấy bằng miệng, rồi lui gót’ (số 287) (Bản dịch Việt ngữ của Linh mục Phanxicô Xavier Nguyễn Chí Cần, Giáo phận Nha Trang.)
“Hơn nữa, việc thực hành mà theo đó tín hữu nhận trên tay Mình Thánh đã được nhúng vào Máu Thánh Châu Báu Chúa Kitô bị xem là sự lạm dụng. (Notitiae 38 (2002) 490)”.
Tôi nghĩ rằng điều đó là đủ rõ ràng, nhưng chủ đề đã được nhắc lại một lần nữa trong Huấn thị năm 2004 Redemptionis sacramentum (Bí tích Cứu Độ), với các chi tiết rõ hơn như sau:
“103. Quy tắc Sách Lễ Rôma chấp nhận nguyên tắc theo đó, khi cho rước lễ dưới hai hình, “có thể rước Máu Chúa Kitô hoặc bằng cách uống trực tiếp với chén thánh, hoặc bằng cách chấm Mình Thánh vào Máu Thánh, hoặc dùng ống hút hay một cái muỗng”. Khi cho giáo dân rước lễ, các Giám Mục có thể loại trừ cách cho rước lễ với ống hút hoặc cái muỗng, trong những không có thói quen, nhưng duy trì luôn cách cho rước lễ bằng cách chấm. Tuy nhiên, trong trường hợp sau này, phải dùng những bánh lễ không được quá mỏng, cũng không quá nhỏ, và người rước lễ phải nhận Thánh Thể do vị linh mục trao trực tiếp vào miệng.
“104. Không cho phép người rước lễ tự chấm Mình Thánh vào Chén thánh, cũng không được nhận trên tay Mình Thánh đã được chấm vào Máu Thánh Chúa Kitô. Cũng thế, Bánh thánh dành để rước lễ bằng cách chấm, phải được làm bằng một chất thành sự và được truyền phép; vậy, tuyệt đối cấm dùng bánh không có truyền phép hoặc làm với một chất khác (Bản dịch Việt Ngữ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam.)
Bởi vì hình thức thứ nhất được mô tả bởi bạn đọc của chúng tôi không được chấp nhận, chúng ta chỉ còn lại hình thức thứ hai. Tuy nhiên, ngoại trừ trong các nhà nguyện rất nhỏ, việc linh mục cho Rước lễ dưới cả hai hình là không thực tế, vì ngài không thể cầm Chén thánh và Bình thánh cùng một lúc. Điều này có nghĩa là ngài thường phải để Bình thánh trên bàn thờ, và cầm Chén thánh trong tay, mặc dù ở một số nơi có Bình thánh đặc biệt, vốn kết hợp một Chén thánh nhỏ trong đó, và được thiết kế đặc biệt cho việc chấm Mình Thánh.
Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, nghi thức Rước lễ dưới hai hình ngụ ý sự hiện diện của hai thừa tác viên, linh mục và một thừa tác viên cầm Chén thánh. Nếu có một phó tế và chỉ có một điểm cho Rước lễ, thầy thường sẽ đảm nhận chức thừa tác viên cầm Chén thánh.
Trong trường hợp bạn đọc trên nói về một cộng đoàn tu sĩ và chỉ có một linh mục, có thể xin phép Giám mục để một hoặc hai tu sĩ của cộng đoàn này có thể được chỉ định làm thừa tác viên ngoại thường cho Rước lễ, để họ có thể đảm nhận chức thừa tác viên cầm Chén thánh.
Nếu sự cho phép này được ban cấp, thì việc Rước lễ dưới hai hình có thể được thực hiện bằng việc chấm Bánh, với lời của linh mục: “Mình Máu Thánh Chúa Kitô”, hoặc bằng cách uống trực tiếp từ Chén thánh, sau khi linh mục trao Bánh và thừa tác viên ngoại thường trao Chén thánh, mỗi vị đưa Bánh Thánh và Máu Thánh riêng.
Sau khi tôi trả lời ngày 24-9-2019 về vị trí nhà tạm trong một giáo phận Canada, một bạn đọc đã chỉ ra một nguồn mà tôi chưa biết. Bạn ấy viết: “Bởi vì người đưa ra câu hỏi dường như ở Canada, có thể là hữu ích khi tham khảo tài liệu “Our Place of Worship” (Nơi thờ phượng của chúng ta) được công bố bởi Hội Đồng Giám Mục Canada.
Đây là một cuốn sách nhỏ với 87 trang được xuất bản năm 1999.
Theo như tôi đã có thể xác định, mặc dù được ban hành dưới sự bảo trợ của Hội Đồng Giám Mục Canada, nó dường như là tác phẩm của hai tác giả đủ tư cách, và không rõ liệu nó đã được thảo luận hoặc bỏ phiếu bởi toàn bộ Hội Đồng Giám Mục không, hay được phê chuẩn bởi một trong các Ủy ban của Hội Đồng Giám Mục này. Bởi vì lĩnh vực này là chủ yếu thuộc thẩm quyền của Tòa thánh và Giám Mục địa phương, chứ không phải là Hội Đồng Giám Mục, tập sách có thể chứa các đề xuất có giá trị nhưng không ràng buộc về mặt pháp lý.
Điều tương tự cũng có thể được nói cho Bản hướng dẫn của Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ “Built of Living Stones, Được dựng xây từ các viên đá sống động”, mặc dù tài liệu này là mới hơn một chút (năm 2003), và là kết quả của nhiều năm tranh luận giữa các Giám mục. Bản thân các Giám mục ưa thích công thức ‘hướng dẫn’, do tính chất của chủ đề, và bởi vì một tài liệu có tính ràng buộc về mặt pháp lý có thể đòi hỏi một quy trình phê duyệt của Tòa Thánh nữa.

5 thg 7, 2019

Thực hư chuyện các em nhỏ chết ở Ai Cập trong sách Xuất Hành


Xin cho con hỏi: con thấy Thiên Chúa trong Cựu Ước thật độc ác chứ chả nhân lành gì. Con nhớ có lần con xem phim “Exodus” và thấy cảnh Ngài giết chết những em bé ở Ai Cập chỉ để cứu dân Israel. Như vậy thật là tàn nhẫn quá! Tấm pano quảng cáo của bộ phim cũng cho rằng việc áp bức người dân là điều không tốt nhưng việc giết những trẻ em vô tội như vậy thì liệu có phải là quá tàn nhẫn. Các bạn con đã hỏi con nhưng con không biết trả lời ra sao?
Chào bạn,
Câu hỏi của bạn đã từng trở thành một luận cứ mà người ta vịn vào đó để chống lại tôn giáo (đặc biệt là Kitô giáo) và cho rằng không có một Thiên Chúa nhân lành tồn tại. Thật là nguy hiểm khi các nhà làm phim đã dựng lại những câu chuyện trong Cựu Ước nói riêng và Kinh Thánh nói chung mà không tìm cách chuyển tải cho đúng ý nghĩa thần học trong.
Soggin (1926 – 2010) một học giả nổi tiếng cho rằng chúng ta có rất ít các dữ kiện lịch sử chính xác liên quan đến dân tộc Israel trước khi nước này hình thành chế độ quân chủ (thời vua Saul, Davit… trở đi). Tất cả những gì mà khoa học có thể xác thực trước đó chỉ dựa vào những vết tích còn sót lại qua những mảnh gỗ, đá… được các nhà khảo cổ tìm thấy. Vào những năm 2000 BC, nền văn minh ở Ai Cập đã phát triển cao. Người ta tìm thấy một lá thư được cho là của một viên quan người Ai Cập, trong đó nói rằng Pharaon (vua Ai Cập) tỏ lòng hiếu khách với các bộ tộc đến từ Ê-đôm. Như thế, rất bình thường khi có những chuyến di dân của các dân du mục sống trong sa mạc tiến về Ai Cập để kiếm đồ ăn thức uống cũng như công việc. Bộ tộc mà sau này mang tên Israel có lẽ cũng không ngoại lệ. Người ta cho rằng Rammes là vị Pharaon vào thời các sắc dân di cư và định cư ở Ai Cập  và vào thời vị Pharaon kế tiếp, Mernephtah, đám dân bị áp bức này rời khỏi Ai Cập, lúc đó vào khoảng năm 1200 BC. Còn việc họ đã ra đi như thế nào thì không ai biết.
Điều đầu tiên chúng ta phải chân nhận là Kinh Thánh không phải là một cuốn sách lịch sử thuần túy, đơn giản là bởi vì, nó không phải do các sử gia nghiên cứu và biên soạn lại những biến cố lịch sử. Cho dù Kinh Thánh (đặc biệt là Cựu Ước) có thuật lại lịch sử đi nữa thì chủ tâm của người viết cũng đã có ý hướng nó sang ý nghĩa thần học rồi. Cho nên, đọc Cựu Ước, chúng ta không nên nghĩ là những gì đã được mô tả là xảy ra răm rắp như vậy, đúng 100%, mà phải hiểu cho được ý nghĩa thâm sâu mà tác giả gửi gắm.
Một cách cụ thể, sẽ là ngớ ngẩn khi chúng ta tưởng tượng là lúc đó, Chúa ngồi trên trời rồi điều khiển rắn rết bò cạp châu chấu ếch nhái đến phá Pharaon. Rồi sau đó, Ngài làm cho lòng Pharaon trở nên cứng cỏi, không chịu tin, để rồi lại tiếp tục biến nước thành máu, rồi sai Thiên Sứ đi giết con đầu lòng của họ. Nếu hiểu như thế thì Thiên Chúa của mình vừa tàn ác, vừa bạo lực mà cũng vừa vô lý nữa.
Người viết lại trình thuật Xuất Hành này không phải là người trực tiếp chứng kiến các việc xảy ra. Họ chỉ nghe được câu chuyện này truyền lại từ bao đời trước, rồi mơ hồ tưởng tượng để viết lại thôi. Lúc này, tác giả có lẽ thuộc về thế hệ sau này, khi dân đã vào đất Canaan, lập nghiệp và sinh sôi nảy nở. Đây là lúc mà người dân bắt đầu nhìn lại chặng đường đã qua, đọc lại nó dưới cái nhìn đức tin. Tâm thức của người Do Thái ngày xưa luôn nghĩ rằng những gì xảy đến thường là do Chúa trực tiếp ra tay. Bạn hãy tưởng tượng nhé! Có một nhà văn, sau khi nghe kể lại câu chuyện ngày xửa ngày xưa này, biết là hồi trước dân Do Thái của mình làm nô lệ ở Ai Cập, bị áp bức, rồi có một nhân vật là Môsê lãnh đạo dân đứng dậy. Từ khi Môsê đi thương thuyết với Pharaon, có rất nhiều sự lạ xảy đến, nào là dịch bệnh, nào là mất mùa, thậm chí là chuyện nhiều trẻ em qua đời. Trước những biến cố ấy, Pharaon đã đồng ý bãi bỏ lệnh bắt người Do Thái làm nô lệ và trả tự do cho tất cả. Ông nhà văn đó ngẫm nghĩ lại những chuyện xảy ra, và tin rằng chắc có lẽ Chúa đã ra dấu chỉ, buộc Pharaon phải dừng lại những hành vi tàn ác của mình và thả hết những người nô lệ Do Thái. Và ông ta đã thêu dệt những tai ương kia thành một câu chuyện hoàn chỉnh, có tình tiết, cốt truyện, rồi gán cho Thiên Chúa là tác giả.
Để dễ hiểu hơn, bạn hãy tưởng tượng mấy trăm năm sau, người ta nghĩ về dịch bệnh Ebola, hay siêu bão ở Philippines, hay động đất ở Haity… Rồi để cho câu chuyện thêm hấp dẫn và hùng hồn, người ta sẽ nghĩ là chính Chúa đã giết chết những con người ấy. Nhưng chúng ta biết là Chúa đâu có hiện ra hay làm phép lạ gì để giết chết họ. Đó chỉ là một chuyện không may xảy đến theo quy luật của tự nhiên thôi. Câu chuyện những tai ương và cái chết của các em nhỏ trong trình thuật Xuất Hành cũng tương tự như vậy.
Vậy thì, khi tường thuật lại những gì đã xảy ra ở Ai Cập lúc đó, tác giả muốn nói ám chỉ điều gì? Chúng tôi xin mạn phép nêu ra một vài ý tưởng thần học mà tác giả nhắm đến.
  • Thiên Chúa là Đấng trung tín. Ngài đã hứa với Apraham là sẽ gìn giữ hậu duệ của ông, thì dù con cái ông có bội ước, Người luôn giữ lời hứa.
  • Thiên Chúa là Đấng quyền năng. Không một thế lực nào có thể chống lại Người. Sự dữ tuy có mạnh, nhưng cũng không bằng Thiên Chúa.
  • Dân Do Thái chính là Dân thuộc về Thiên Chúa, hình ảnh của Giáo Hội ngày nay. Dân Chúa luôn bị bách hại, nhưng nếu biết cậy trông vào Chúa thì Người sẽ cho tai qua nạn khỏi.
  • Pharaô mất đứa con đầu lòng là hình ảnh nói đến việc Thiên Chúa cũng mất đứa con đầu lòng của mình (Đức Giêsu chịu chết trên cây thập giá)
  • Hình ảnh nhà nào có máu chiên bôi trên cửa thì không chết có ý nói rằng người nào/nhà nào được đóng ấn bằng máu của Đức Kitô thì không chết đời đời, nhưng được cứu.
  • Cuộc vượt qua từ kiếp nô lệ thành người tự do tiên báo cuộc vượt qua từ thân phận phải chết thành con cái Thiên Chúa nhờ công nghiệp của Đức Kitô.
Như thế, nếu bạn đọc trình thuật sách Xuất Hành với một cái nhìn thần học, bạn sẽ thấy nó rất ý nghĩa và hệt như là cuộc tiên báo cho một biến cố sẽ xảy ra sau này trên đồi Canvê. Bạn sẽ thấy nơi đó là một Thiên Chúa vừa quyền năng (tiên liệu mọi sự), vừa yêu thương (muốn cứu mọi người), chứ không phải chỉ là chuyện nhiều người bị chết năm xưa.
Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

29 thg 6, 2019

NÓI THÊM VỀ VẤN ĐỀ DANH XƯNG TRONG GIÁO HỘI


Tôi cần nói thêm một lần nữa về vấn đề này. Lý do là cho đến nay còn một số ít người vẫn đặt vấn đề danh xưng trong Giáo Hội Việt nam và giải thích sai lạc cũng như đòi hỏi sửa đổi không hợp lý về một số danh xưng quen dùng từ lâu trong giới Công giáo Việtnam.
- Cụ thể, có người đặt vấn đề thay đổi các danh xưng như: Cha, Thầy, Sơ, Đức Ông, Đức Cha, Đức Hồng Y, Đức Thánh Cha.. cũng như một số hình dung từ (metaphor)như con chiên, đàn chiên, chủ chăn… và cả danh từ giáo dân (laity) nữa.
- Nhận định của một vài tác giả về vấn đề này chỉ là ý kiến riêng, không dựa trên căn bản truyền thống, giáo lý hay Kinh Thánh nào của Giáo Hội nên chắc chắn không có giá trị thuyết phục và chắc chắn tuyệt đại đa số giáo dân Viêtnam không ai để ý đến. Tuy nhiên, đối với những người ngoài Công Giáo và riêng với một vài nhóm thù nghịch Giáo Hội Công Giáo, thì những ý kiến này có thể giúp ích cho họ trong việc tiếp tục đả kích Giáo Hội.
Và đây là lý do khiến tôi phải lên tiếng một lần nữa dù có bị các tác giả kia gán cho nhãn hiệu “bảo thủ, lỗi thời… cố chấp... ”
- Trước hết, phải nhận rằng chỉ trong giới Công Giáo Viêtnam mới có nhửng danh xưng mà các tín hữu khác trong toàn Giáo Hội không có. Và chỉ trong ngôn ngữ Việtnam chúng ta mới có những kiểu nói, nhửng danh xưng mà tuyệt nhiên không tìm thấy trong một ngôn ngữ nào trên thế giới.
- Người ngoại quốc, khi học tiếng Việt, rất khổ tâm vì không biết khi nào phải gọi người đối diện bằng cụ, ông, bà, cô, bác, chú,anh, chị , em ..v.v và lúc nào phải xưng hô là con, cháu, tôi, chúng tôi, mày/tao… Sở dĩ thế, vì chỉ trong ngôn ngữ Việtnam, mới có những cặp danh xưng như ông-bà /cháu, cha-mẹ-ba- má../con, anh-chị/em . Quí vị/tôi-chúng tôi, mi, mày /tao … Lại nữa, thật vô cùng khó khăn cho họ để hiểu và phân biệt nghĩa của những tiếng như : cái nhà, con cái , thằng bé, đứa bé, con chó, con bé , trẻ con ..
Trong moi ngôn ngữ tây phương thì chỉ có cặp đại từ (pronouns) I/you; Je/ Tu-Vous.
Yo/ Tu-Usted…Io/Tu- Lei …được dùng trong mọi trường hợp từ gia đình, đến mọi tương giao xã hội và ngày cả trong cầu nguyện với Chúa, Đức Mẹ và các Thánh.
Người Mỹ khi gặp một Giám Mục thì chào : Good morning Bishop, nhưng khi nói chuyện tiếp , thì dùng I/you hay We/you , ..trong khi người Công giáo Viêtnam thì lúc nào cũng phải Thưa Đức Cha, /con hay chúng con vì trong ngôn ngữ Việtnam không có cặp I/You., Je/ Vous …như trong Anh và Pháp Ngữ
- Vì thế, thực buồn cười khi có người nói: Đức Tân Giáo Hoàng Bênêdictô XVI đã tỏ ra “bình dân” hơn các Giáo Hoàng trước khi ngài dùng chữ Tôi” thay vì “Ta”, “anh chi em”, thay vì “các con” trong lúc nói với giáo dân !.Tức cười là vì Ngài nói bằng tiếng Ý và tiếng Anh hay tiếng Đức thì làm gì có từ ngữ nào là “Tôi hay Ta hoặc “các con” ? Ngài chỉ dùng đại đanh từ” I hay Io” và người dịch đã Việt hóa thành “Tôi hay Ta” “anh chị em” (brothers and sisters” thành “các con”chứ trong tiếng Ý hay bất cứ ngôn ngữ Tây phương nào khác thì làm gì có chữ nào là “tôi hay Ta” như trong tiếng Việt !
Vây mà người ta cũng nêu chi tiết trên để bênh vực cho điều mình muốn chỉ trích và đòi thay đổi về một số danh xưng quen dùng trong giới Công Giáo Việtnam , đại để như sau :
I- Danh xưng Đức Ông, Đức Cha, Đức Hồng Y, Đức Thánh Cha
Người ta nêu lý do là các chữ “ đức” ở trên lẫn lộn với chữ “Đức” trong ngữ cảnh “Đức Chúa, Đức Kitô, Đức Mẹ”
Thật ra thì đây chỉ là thói quen đã dùng từ lâu nên đã trở thành thông dụng trong giới Công Giáo Việtnam. Mặt khác, đứng về mặt văn phạm (grammar) thì đây lại là thí dụ cụ thể về nét đặc thù và đa dạng của các mạo từ ( articles) trong Việt ngữ.
Tiếng Pháp chỉ có các mạo từ le, la, les, un, une, des để chỉ giống và số (genre et nombre) trong khi tiếng Việt có biết bao mạo từ khác nhau và dũng lẫn lộn gây nhiều khó khăn cho người ngoại quốc học tiếng Việt.
Trong các danh xưng nêu trên thì chữ “đức” có thể được phân tích như tiếng mạo từ (article) đặt trước danh từ chung, tương tự như cái nhà. Cái ông này, con chó, con mắt..nhưng cũng có thể hiểu như là thành phần của một danh từ chung (common noun) không thể tách rời ra được vì sẽ làm vô nghĩa hay tối nghĩa cho danh từ chung này . Thí dụ Đức Cha là danh xưng chỉ Giám Mục. Nếu bỏ chữ “Đức” đi thì chỉ còn lại chữ “cha” tiếng chung chỉ Linh Mục nên sẽ làm mất nội dung của từ ngữ muốn chỉ chức Giám Mục.
Nếu ta bắt bẻ rằng gọi Giám Mục là Đức Cha, Hồng Y là Đức Hồng Y thì sẽ lẫn lộn với chữ Đức trong “Đức Kitô, Đức Mẹ”. Điều này xem ra bề ngoài có vẻ hợp lý nhưng nếu đi sâu vào ngữ pháp Việtnam thì khó có thể giải thích xuôi tai được vấn nạn sau đây:
Nếu tiếng “Đức” chỉ được dùng để nói về Chúa như Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con , Đức Chúa Thánh Thần hoặc Đức Mẹ Maria thì tiếng Việt còn danh từ kép là “đức ông chồng hay “ đức lang quân” Đức Từ Cung ( Mẹ Vua) Đức Khổng Tử, Đức Phật Thích Ca nữa thì sao ?Những chữ “Đức” ở đây có đồng nghĩa không và dùng lẫn lộn như vậy thì anh em Phật tử và những người theo Đạo Nho có phiền hà gì không ?
Lại nữa, chữ CON trong từ Con Người=Son of Man= Hijo del Hombre=Fils de L’ Homme là từ ngữ chỉ Chúa Giêsu Ngôi Lời nhập thể, có đồng nghĩa với chữ con trong các từ ngữ con khỉ , con gái, con trai, con hoang…không và như vậy có lẫn lộn và xúc phạm đến Chúa Giêsu hay không ?
Và giới từ “cái” trong các từ ngữ cái xẻng, cái răng, cái ông này, cái chị này… có đồng nghĩa với nhau không ?
Tôi thiết nghĩ không ai lại “vạch lá tìm sâu” để thắc mắc về việc dùng các mạo từ “con”, “cái” và “đức” trong các ngữ cảnh trên đây vì đó là nét phong phú và đa dạng của Việt ngữ và được dùng với nghĩa chung của danh từ đi kèm thay vì tách rời ra với nghĩa riêng của nó để phải lấn cấn với một số ngữ cảnh quen dùng.
Nói khác đi, khi người Công giáo nói Đức Chúa Giêsu hay Đức Mẹ thì chữ Đức đi kèm để nói lên mức tôn thờ, (adoration) tôn kính (veneration) đặc biệt dành cho Chúa và Mẹ, nhưng khi nói Đức Ông, Đức Cha, Đức Hồng Y .. thì chỉ muốn nói đến tước vị trong Giáo Hội của các chức sắc này chứ không nhằm biểu dương mức tôn thờ, tôn kính như khi nói Đức Chúa Cha... Đức Maria mặc dù về từ ngữ thì giống nhau trong cả hai trường hợp. Thật ra, các từ ngữ Đức Ông, Đức Cha, Đức Hồng Y, Đức Giáo Hoàng cũng không được dịch sát nghĩa các từ Monsignor, Bishop, Cardinal, Pope trong tiếng Anh và các tiếng Tây phương khác.
Nhưng vì người Công giáo Việtnam quen dùng từ xưa đến nay và người có thẩm quyền thay đổi là Hội Đồng Giám Mục Việtnam lại không chính thức nói gì thì AI có tư cách để đòi thay đổi ?
Ta hãy xem các giáo hữu Âu Mỹ xưng hô thế nào trong những trường hợp trên.
Trong các ngôn ngữ Tây Phương người ta không có kiểu nói Đức Ông ,Đức Cha, Đức Hồng Y.. Đức Giáo Hoàng như chúng ta , nhưng khi đối thoại với các vị này người ta lại có kiểu nói mà mình không có và dịch tương đương được ,thí dụ khi thưa Đức Cha, thì người Anh- Mỹ –Pháp nói : Your Excellency = Éxcellence = Mon Seigneur
Thưa Đức Hồng Y = Your Eminence = Votre Éminence; Thưa Đức Thánh Cha = Your Holiness = Votre Sainteté…
Riêng từ Đức Ông( Monsignor) thì không biết từ đâu có lối xưng hô này vì Việt ngữ không có từ tương đượng cùng ý nghĩa với danh xưng này trong Anh hay Pháp Ngữ.
Điều quan trọng là phải giải thích cho giáo dân và cả người ngoài Công Giáo biết rằng Đức Ông (Monsignor) chỉ là một tước vị ( title) danh dự mà Giáo Hội ban tặng cho một Linh mục xuất sắc nào đó hay cho các nhân viên của Tòa Thánh làm việc trong các Cơ Quan trung ương ở Giáo Đô hay trong các phái bộ ngoại giao của Vatican ở các quốc gia trên thế giới. Tước Đức Ông không phải là một chức thánh ( ordo) nên Đức Ông cũng chỉ là một linh mục thôi. Ngược lại ,danh tước Đức Cha là tước vị của một Giám Mục ,tức là người có chức thánh cao nhất trong Giáo Hội. Hồng Y là một tước vị cao nhất mà Giáo Hội ban cho một Giám Mục và đôi khi cũng cho một Linh mục xuất sắc nào đó ( như trường hợp các linh mục Every Dulles và Henri de Lubac thuộc Dòng Tện và Yves Congar Dòng Đaminh đã được vinh thăng làm Hồng Y ). Theo Giáo Luật số 349 thì “ Các Hồng Y họp thành Hồng Y Đoàn riêng biệt với thẩm quyền bầu cử Đức Thánh Cha và phụ giúp Đức Thánh Cha trong việc quản trị Giáo Hội hoàn vũ”. Hồng Y không phải là một thánh chức mà chỉ là một tước vị cao nhất do Đức Thánh Cha ban tặng và bổ nhiệm với quyền chọn lựa Giáo Hoàng mới khi đương kim Giáo Hoàng qua đời. Hồng Y và ngay cả Đức Thánh Cha cũng chỉ có chức Giám Mục mà thôi nhưng với quyền hạn và trách nhiệm lớn hơn Giám Mục.
II. Danh xưng “Giáo Dân= laity”
Có người đề nghị đổi danh xưng này thành “người tín hữu” hay Kitô hữu.
Thật ra, trong Giáo Hội thì mọi thành phần Dân Chúa từ Giáo Hoàng, Hồng Y, Giám Mục. Linh mục, Phó Tế, Nam tu, Nữ tu và Giáo dân đều là Người tín hữu ( faithful) Chúa Kitô hay Kitô hữu ( Christians ) vì đều tin và nhận Chúa Kitô là Đấng Cứu Thế (Savior). Qua Phép Rửa, tất cả đều bình đẳng và có phẩm giá (dignity) như nhau trước mặt Chúa và trong tư cách làm con cái Chúa và anh chị em với nhau trong Chúa Kitô.
Có khác chỉ khác nhau về ơn gọi (vocation) và đặc sủng (charism) để đảm trách những nhiệm vụ khác nhau trong Giáo Hội mà thôi.
Thánh Công Đồng Vaticanô II đã định nghĩa như sau về người giáo dân (laity) “ Danh hiệu giáo dân ở đây được hiểu là tất cả những Kitô hữu không có chức thánh hoặc bậc tu trì được Giáo Hội công nhận..” ( x.Lumen Gentium (LG) , số 31).Nói khác đi, giáo dân là thành phần không thuộc hàng giáo sĩ (clergy) và Tu Sĩ (Religious) nhưng cùng với các thành phần này họp thành Dân Chúa ( God’s People) trong Giáo Hội.
Như thế phải nói với danh hiệu giáo dân để phân biệt với hàng giáo sĩ và tu sĩ. Nếu dùng danh hiệu Kitôhữu thì chỉ đúng một phần về nội dung những không nói rõ được ơn gọi và địa vị của mình trong Giáo Hội vì giáo sĩ và tu sĩ cũng là Kitôhữu như giáo dân qua Phép rửa.(baptism) và chỉ khác giáo dân về ơn gọi (vacation) mà thôi.
Mặt khác, trên thực tế, danh hiệu Kitôhữu (Christian) không nói lên đúng được căn tính (identity) của Người tín hữu Chúa Kitô thuộc Giáo Hội Công Giáo (Roman Catholic Church). Lý do : tất cả các anh em Tin lành thuộc mọi giáo phái tin nhận Chúa Kitô đều xưng mình là Kitô hữu (Christian). Do đó, nếu một người Công Giáo chỉ nói mình là Kitôhữu không thôi, thì làm sao cho người ta nhận ra mình là giaó dân trong Giáo Hội Công Giáo ? Người Anh, Mỹ phân biệt rất rõ : hoặc nhận mình là Catholic (Công giáo) Anglican (Anh Giáo) Baptist, Methodist, hay Lutheran v.v. Người giaó dân nói tiếng Anh luôn luôn nói mình là Catholic chứ không chỉ là Christian thôi vì Christian là danh hiệu chung cho mọi người tin Chúa Kitô thuộc các giáo phái Tin lành kể cả người Công Giáo. Người ta có thể là vừa là Catholic và là Christian (như người Công giáo). Nhưng là Christian thì không hẳn có nghĩa là Catholic (trường hợp anh em tin lành). Chúng ta phải hoan hỉ xưng mình là người Công giáo vì thuộc về Giáo Hội do chính Chúa Giêsu thiết lập trên nền tảng các Tông Đồ với ba đặc tình căn bản là thánh thiên (sanctam) ( công giáo) (catholicam) và tông truyền (apostolicam). Công giáo vì là Giáo Hội dành cho và mời gọi hết mọi người gia nhập chứ không riêng cho một dân tộc nào. Đây là đặc tính phổ quát (universality) của ơn cứu độ do Chúa Kitô mang đến cho toàn thể nhân loại. Có người không hiểu lý do sâu xa này nên đã giải thích sai lầm công giáo là công cộng (public) và dịch Đạo Công Giáo là ( Public Religion) một từ ngữ không có trong danh mục các tôn giáo trên thế giới.
Từ ngày Đạo Công giáo được du nhập vào Việtnam, từ lâu chúng ta đã có danh xưng “giáo dân” để phân biệt với “lương dân” tức là những người chưa gia nhập Giáo Hội Công Giáo. Danh xưng “giáo dân’(laity) vừa nói lên bậc sống và ơn gọi của người Kitô hữu sống giữa trần thế và trong Giáo Hội bên cạnh các thành phần giáo sĩ và tu sĩ,vừa diễn tả đúng căn tính của mình là người Kitôhữu Công giáo ( Catholic christian) Nghĩa là không muốn bị lẫn lộn với những anh chị em tin Chúa Kitô nhưng đang sống bên ngoài Giáo Hội Công Giáo như đã nói ở trên.
Vậy, đề nghị bỏ danh xưng : “giaó dân” để thay bằng “Kitôhữu” là điều không hợp lý xét về hai khía cạnh thần học và thực hành.
III- Danh xưng “Cha-con”.
Tôi lại bất đắc dĩ phải nói một lần nữa về vấn đề này vì một số người vẫn cố tình không hiểu hoặc hiểu sai lạc nhưng vẫn nói như thể mình biết chính xác và đòi hỏi một điều hợp lý. Tôi phải nói dù cho người ta có hiểu lầm và chỉ trích rằng tôi cố “ăn thua đủ” để được làm “cha” hoặc “sống như cha” thì quan trọng hơn “là cha’.
Vấn đề ở đây không phải là đòi được “làm cha” và bắt ai phải “xưng con” với mình, mà chủ yếu là để giải thích và bênh vực lý do Giáo Hội cho phép gọi linh mục là “cha” dựa trên giáo lý của Thánh Phaolô và truyền thống lâu đời trong Giáo Hội..
Tôi cũng không muốn “ bút chiến” với ai về vần đề này. Nhưng vì có người vẫn hiểu sai và chỉ trích Giáo Hội về việc này nên buộc lòng tôi phải nói lên thêm một lần nữa mà thôi.
Trước hết tôi xin nói danh xưng ‘cha” dành cho các linh mục Công Giáo là một truyền thống có từ lâu trong Giáo Hội. Sự kiện cụ thể là không phải chỉ có người Công giáo Việtnam gọi linh mục là “cha” mà tất cả các tín hữu Công giáo trên thế giới cho đến nay đều gọi như vậy., và quan trọng là không có ai thắc mắc gì về vấn đề nay,trừ mấy anh em Tin lành trước đây và nay có thêm vài người Công Giáo Việtnam ở Mỹ.
Trong thực tế , không ai chối cãi được sự kiện này: Người Anh Mỹ gọi linh mục là Father, người Pháp gọi Père, Người Ý và Tây Ban Nha gọi Padre… Đặc biệt người Pháp và Ý còn gọi Révérend Père (Reverendissimo Padre) tức là Cha đáng kính nữa!. Người Mỹ khi gặp một linh mục thì chào Good morning Father, chứ không hề chào là Good morning Priest bao giờ! Người Pháp cũng nói Bonjour Mon Père! .Người Tây Ban Nha chào Buenos Dias Padre …Vậy họ quá “lạc hậu” ,”ngu dốt” hay sao mà xưng hô “kỳ cục” như vậy? Nếu thế thì phải nhờ mấy người “ Việtnam tiến bộ ” ở Mỹ dạy cho họ biết mà thay đổi cho hợp thời hơn.
Nhưng các Giám mục (Việtnam hay ngoại quốc), sau khi truyền chức cho tân linh mục và khi bổ nhiệm linh mục thì đều dùng danh xưng cha khi nói cũng như viết trên giấy tờ.
Vậy, tại sao Giáo Hội khắp nơi lại cho làm việc “ vô lý” như thế ?
Để trả lời cho câu hỏi này, một lần nữa, đây là căn bản Kinh Thánh : “ ..Trong Đức Kitô Giêsu, nhờ Tín Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em” ( 1Cr 4:15). Vì thế Thánh Phaolô đã gọi Timôthê là “ người con tôi đã sinh ra trong đức tin” (1 Tim 1:2).
Đồng một quan điểm, Thánh Pherô cũng dạy: “ Vì anh em đã được tái sinh, không phải do hạt giống mục nát mà do hạt giống bất diệt ,nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống và tồn tại mải mãi… Đó chính là Lời đã được loan báo cho anh em như một Tin Mừng” (1 P 1: 23-25).
Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã trao nhiệm vụ loan báo, giảng dạy Tin Mừng và làm phép rửa trước hết cho các Tông Đồ và tiếp theo cho những người kế vị là các giám mục va các phụ tá là hàng linh mục thừa tác (ministerial priesthood)( x. Mt 28:19-20).
Cho nên, dựa vào lệnh truyền của Chúa Giêsu và giáo lý của Thánh Phaolô và Phêrô, Thánh Công Đồng Vaticanô II đã dạy như sau trong Hiến Chế Tín Lý Lumen Gentium: “Linh mục phải săn sóc các tín hữu như những người cha trong Chúa Kitô vì đã sinh họ cách thiêng liêng nhờ phép rửa và giáo huấn" (x.1 Cor 4,15và 1P 1.23) ( x. LG.số 28)
Nói khác đi, cùng với các giám mục, linh mục được trao phó cho nhiệm vụ thánh hóa, giảng dạy để “tái sinh” con người nhờ hạt giống bất diệt là Lời Chúa và phương tiện cứu độ là Phép rửa. Đây là vai trò và sứ vụ “Người Cha thiêng liêng”( Spiritual Fatherhood) của hàng giáo sĩ thừa tác (Ministerial clerics= Giám mục ,Linh mục).
Ai muốn thông hiệp với Giáo Hội thì phải tuân theo giáo lý này của Giáo Hội, dựa trên nền tảng Kinh Thánh. Đây không phải là lý thuyết vô căn cứ của ai hay một nhóm người nào, mà là giáo lý, tín lý và truyền thống của Giáo Hội. Đây là vần đề có liên quan mật thiết đến đức tin Công Giáo, vì nếu không tin giáo sĩ thừa tác là những người đang tiếp tục sứ vụ của các Thánh Tông Đồ, đang thay mặt Chúa Giêsu để giảng dạy và cử hành các Bí Tích thì giáo dân dựa vào căn bản nào để nghe giảng dạy và lãnh nhận các Bí tích, đặc biệt là bí tích Rửa Tội,Thánh Thể và Hòa giải từ tay Giám mục và Linh mục ?
Như vậy, khi gọi các giáo sĩ thừa tác là “Cha” có nghĩa là chấp nhận giáo lý của Thánh Phaolô, người đã “sinh ra Timôthê qua Tin Mừng và Phép Rửa” và Công Đồng Vaticanô II đã nhắc lại trong Hiến Chế Tín Lý (Dogmatic Constitution) Lumen Gentium như đã trích trên đây. Nếu đây không phải là tiêu chuẩn vững chắc để tin và thực hành thì những ai chống đối dựa vào căn bản nào để phi bác và đòi thay đổi ?
Sở dĩ người giáo dân Việtnam gọi các Giám mục, linh mục là “cha” và xưng “con” là vì nét đặc thù của văn hóa và ngôn ngữ Việtnam, một điều không tìm được trong bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới.. Trong gia đình, theo văn hóa và ngôn ngữ Việtnam, con cái phải luôn luôn nhận mình là con khi nói chuyện hay thưa gửi cha mẹ. Phải xưng “cháu” hay “con” khi nói với ông bà, cô, chú, bác, cậu mợ. Điều này tuyệt nhiên không có trong bất cứ ngôn ngữ nào trên thế giới đặc biệt là ngôn ngữ tây phương, mặc dù người Mỹ, Pháp, Ý, Đức Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha .v.v đều gọi linh mục là “ Cha’ ( Pater, Father, Père, Padre..) Họ không xưng “con” vì trong ngôn ngữ của họ không có lối nói này chứ không vì họ muốn bình đẳng với cha mẹ hay với linh mục, giám mục.
Những người chỉ trích danh xưng “cha-con” đã nại lý do một cha trẻ đáng tuổi con cháu không lẽ bắt cụ già phải chào là “cha” hay sao ? Hỏi như vậy là đã đi từ phạm vi niềm tin sang lãnh vực văn hóa, phong tục. Nhưng trước hết phải nói ngay là có ai bắt cụ già kia gọi thế đâu mà buộc tội vô lý? Nếu cụ tình nguyện gọi linh mục trẻ là “cha’ thì cụ phải hiểu rằng cụ gọi thế vì tôn trọng vai trò đại diện Chúa Kitô của linh mục, dù già hay trẻ chứ không phải vì văn hóa phong tục hay bị ai bắt phải gọi như vậy.
Nhưng đây là thực tế: khi cụ già kia đến Nhà thờ, vào tòa xưng tội với một linh mục trẻ thì cụ sẽ nói thế nào? cụ có nói theo văn hóa Việtnam rằng “ này cháu , cháu giải tội cho ông đi” hay sẽ nói theo niềm tin Công Giáo là: Xin Cha giải tội cho tôi hoặc con? Tôi không tin có cụ già Việtnam nào, và ngay cả cha mẹ ruột của linh mục lại xưng hô kiểu ” văn hóa tôn ti” như trên trong trường hợp này.
Vậy tại sao khi lãnh Bí tích thì nhìn nhận linh mục là đại diện của Chúa Kitô để không phân biệt tuổi tác, liên hệ gia đình mà gọi linh mục là cha, nhưng khi ra khỏi nhà thờ thì lại không muốn gọi vì nại lý do tôn ti văn hóa, không cho phép người già gọi người trẻ như thế ? Vậy đức tin đứng chỗ nào trong thực hành ?
Và một câu hỏi lần chót cho những ai không đồng ý gọi linh mục là cha: quí vị căn cứ vào tiêu chuẩn nào, căn bản nào để đả kích truyền thống này của Giáo Hội vốn có từ lâu trong mọi nền văn hóa, ngôn ngữ ?
Nếu dựa vào lời Chúa Giêsu trong Mt 23:9 theo đó Chúa nói “đừng gọi ai dưới đất là cha” thì chỉ có các nhóm Tin lành (protestants) quen đọc và giải thích Kinh Thánh theo nghĩa đen của từ ngữ (literal meaning) nên mới đả kích Giáo Hội Công Giáo về việc này mà thôi. Giáo Hội Công Giáo không đồng quan điểm với họ nên vẫn tiếp tục dùng danh xưng “Cha” trong nhiều trường hợp như sau:
Trước hết, trong truyền thống có từ mấy thế kỷ sơ khai, Giáo Hội đã tôn phong một số giáo sĩ –và sau này trở thành Thánh- vào bậc “Giáo Phụ của Giáo Hội” (Church Fathers). Đó là các Thánh Augustine (354-430) Ambrosio(339-397, Jerome(347-420) John Chrysostom(344-407 )… tức là những vị đã sống gần thời đại các Tông Đồ, có đời sống thánh thiện và có giáo lý vững chắc khi giảng dạy.
Mới đây nhất, Đức tân Giáo Hoàng ,trong bài giảng đầu tiên ngày 7 tháng 5 vừa qua tại Đền Thánh John Latran , đã mở đầu như sau:
- Dear Father Cardinals (Thưa quí Giáo Phụ Hồng Y)
- Dear brothers in the Episcopate ( Thưa Chư Huynh Giám mục)
- Dear Brothers and Sisters ( Anh chi em thân mến)
Nếu không được gọi ai dưới đất là “Cha” thì Đức Tân Giáo Hoàng, người từng nắm giữ kho tàng giáo lý đức tin Công Giáo trong hơn 20 năm qua, có xúc phạm đến Thiên Chúa là CHA khi ngài gọi các Hồng Y là các “ Cha= Fathers" hay không ?
Và ngay chính ngôi vị Giáo Hoàng, cả Giáo Hội đều gọi là Đức Thánh Cha (Holy Father) mà sao chưa thấy Giáo Hoàng nào lên tiếng sửa sai ai về danh xưng này dành cho mình ?
Thứ đến, trong các Dòng Tu, danh xưng Cha Bề Trên (Father Superior=Père Supérieur) vẫn thông dụng cho đến ngày nay ở khắp nơi trong Giáo Hội.
Vậy có trái với tinh thần câu Kinh Thánh Mt 23:9 không ?
Trong một bài viết trước đây, tôi đã có dịp giải thích về câu Kinh Thánh trên đây. Tôi chỉ nhắc lại ở đây điểm then chốt là câu nói trên của Chúa Giêsu phải được hiểu trong tâm cảnh (mentality) một lời lên án thái độ háo danh, đạo đức giả của nhóm Biệt phái Pharisi thời đó hơn là một lời ngăn cấm con người dùng danh xưng “Cha” với nội dung xúc phạm đến Thiên Chúa là CHA.
Trong phụng vụ thánh của Giáo Hội thì Latria là mức tôn thờ, kính trọng cao nhất dành riêng cho một mình Thiên Chúa. Đức Mẹ Maria được tôn kính (veneration) ở mức Hyperdulia, tức là dưới mức tôn thờ (adoration) Latria dành riêng cho Thiên Chúa mà thôi. Mức tôn kính cuối dùng dành cho các Thánh Nam Nữ là Dulia.
Như thế, Chúa Giêsu chỉ cấm chúng ta dành cho bất cứ tạo vật nào dưới đất mức tôn thờ Latria dành riêng cho một Chúa Cha chứ không ngăn cấm việc gọi những người cộng tác với Thiên Chúa trong chương trình sáng tạo và cứu chuộc con người là cha me thể lý hay tinh thần.
Thật vậy, từ thời Cựu Ước, Chúa đã ban điều răn thứ 4 dạy con cái loài người như sau:
“Ngươi hãy thờ cha kính mẹ để được sống lâu trên đất mà Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, ban cho ngươi” (Xh 20:12)
“Honour your father and your mother so that you may have a long life in the land Yaweh your God has given to you”
Như thế, Chúa đâu có cấm gọi ai dưới đất là “cha”. Ngược lại, Chúa dạy con cái loài người phải gọi những người sinh ra mình về mặt thể lý là cha, là mẹ vì vai trò cộng tác với Chúa trong chương trình sáng tạo (procreation)l oài người. Về mặt thiêng liêng, các Tông đồ và nay là các giáo sĩ thừa tác (Giám mục, linh mục) cộng tác với Chúa để tái sinh (rebear) con người qua Tin Mừng và phép rửa như Thánh Phaolô và Phêrô dạy Vì thế Giáo Hội đã cho phép dùng danh xưng “cha” cho các vị này trong mọi nền văn hóa nhân loại từ bao lâu nay.
Các Giám mục đều gọi linh mục là Cha và giới thiệu với giáo dân như vậy trong mọi hoàn cảnh mục vụ, nên giáo dân khắp nơi mới dùng danh xưng này mỗi khi phải tiếp xúc với một linh mục. Khi nói đến danh xưng “linh mục” là nói đến một thánh chức, một bậc sống được tuyển chọn để phục vụ, nhưng khi gọi linh mục là ‘cha” Giáo Hội muốn nhắc người tín hữu về vai trò đại diện cho Chúa Kitô trước hết của các Thánh Tông Đồ và nay là hàng giáo sĩ thừa tác (ministerial clergy) trong Giáo Hội như Chúa Giêsu đã nói rõ như sau :
“ Ai nghe anh em là nghe Thầy; ai khước từ anh em là khước từ Thầy;
mà ai khước từ Thầy là khước từ Đấng đã sai Thầy” ( Lc 10: 16)
Từ Đức Thánh Cha xuống đến hàng linh mục đều nhất thiết nhân danh Chúa Kitô (in persona Christi) mà thi hành mọi thừa tác vụ (ministerium) thánh để phục vụ cho lợi ích thiêng liêng của dân Chúa như những “Mục tử được giao phó nhiệm vụ chăn dắt đoàn chiên thay mặt cho Con Chúa”. Như vậy, gọi Đức Thánh Cha, Đức Cha, các Cha là vì kính trọng Chúa là CHA mà các ngài là những đại diện bí tích chứ không vì cá nhân các vị này.. Danh xưng này cũng đồng thời nói lên mối dây thiêng liêng thắm thiết giữa người thay mặt, nhân danh Chúa Kitô để giảng dạy và người nhận sự dạy dỗ, săn sóc này vì đức tin. Chính trong giây thân tình thiêng liêng này mà Thánh Phaolô đã tự ví mình như “người cha” để “tái sinh con thiêng liêng” cho Chúa Kitô.
Dầu vậy Giáo Hội không bắt buộc ai phải gọi Giám mục, Linh mục là Cha mà chỉ cho phép dùng danh xưng này để nói lên mối tình thiêng liêng thắm thiết giữa các thừa tác viên đã được thánh hiến và dân Chúa được phục vụ mà thôi. Ai không muốn hiểu và thực hành điều này thì đó là quyền tự do của họ, nhưng nếu nói đó là điều phi lý thì quả là hồ đồ, không có căn bản giáo lý nào. Người giáo dân Việtnam gọi cha và tự động xưng con là vì văn hóa và ngôn ngữ Việtnam không có lối nói I/you, Je/Tu …như các ngôn ngữ Tây phương mặc dù người ta vẫn gọi linh mục là “cha”. Trong một viết trước đây, tôi đã nói : khi được giáo dân gọi mình là cha, thì linh mục được nhắc nhở về sứ vụ thiêng liêng mà mình được lãnh nhận qua thánh chức chứ không phải một thứ đặc ân, ưu quyền nào khác. Vì thế, về phần linh mục, không ai lại “lố bịch” tự xưng cha với giáo dân và gọi người khác bằng con, trừ với mấy em nhỏ thiếu nhi. Nhưng danh xưng ‘cha’ mà Giáo Hội cho phép gọi linh mục, giám mục là một truyền thống có căn bản Kinh Thánh trong Giáo Hội nên mọi ý kiến chống đối danh xưng này đều không có nền tảng vững chắc nào.Hơn thế nữa, còn cho thấy thái độ khinh thường, nếu không muốn nói là tị hiềm của một số người đối với hàng giáo sĩ Công giáo. Điều này thể hiện rõ qua chứng lý mà họ viện dẫn để đòi thay đổi: họ nêu vấn đề một số giáo sĩ “bất xứng”, “hách dịch” trong cách cư xử với giáo dân, chuyện tai tiếng của một số linh mục mắc tội “lạm dụng tính dục trẻ em”v.v
Chuyện “xứng “ hay “bất xứng’ của một số nhỏ, nếu có, đâu phải là lý do bác bỏ, bôi nhọ cả tập thể? Vả lại, họ là ai mà muốn “ném đá” lên án người khác là “bất xứng, không đạo đức” ?
Trong một xã hội mà công lý thuộc về kẻ có nhiều tiền,có thế lực và sợ áp lực quần chúng như xã hội chúng ta đang sống thì mọi phán đoán của xã hội về đạo đức, luân lý, tác phong hành động .. có luôn công bằng, khách quan và đáng quan tâm hay không ?
III- Từ ngữ “con chiên” “chủ chiên ;
Có người cũng đòi thay đổi các từ ngữ này vì xét ra không hợp với địa vị và tương quan giữa giáo dân và linh mục. Nó rõ hơn, họ không muốn nhận mình là “con chiên” đặt dưới sự dẫn dắt của hàng giáo sĩ ví như các “chủ chăn”. Tương quan này xem ra bất bình đẳng đối với họ (...) Chính vì quan niệm như vậy, nên một số người đã không hài lòng với những từ ngữ quen dùng trong Giáo Hội ở khắp nơi chứ không riêng ở Việtnam như “con chiên” “đàn chiên” “chủ chăn”. Chỉ có điều lạ là các tín hữu Tây phương và cả Á, Phi châu chưa hề có ai lên tiếng phản đối hay đòi thay đổi các từ ngữ brebis, berger, pasteur, sheep, flock, shepherd… quen dùng trong ngôn ngữ của họ mà nay chỉ thấy có vài người Công giáo Việtnam “tiến bộ” hơn đòi mà thôi!
Đòi hỏi này thực không hợp lý chút nào vì nó cho thấy các tác giả kia không biết gì về ngôn từ mà chính Chúa Giêsu đã dùng trong Tin Mừng như sau :
“ Ta chính là Mục Tử nhân lành.
Ta biết chiên của Ta
Và chiên của Ta biết ta (Jn 10:14)
Chúa cũng trao cho Phêrô nhiệm vụ sau trước khi Người về trời:
“Hãy chăm sóc chiên con của Thầy” (Jn 21:15)
“ Hãy chăn dắt chiên của Thầy" ( Jn 21:16)
Kinh Thánh Cựu Ước cũng có những lời sau đây :
“Hãy nhìn nhận CHÚA là Thượng Đế
Chính Người dựng nên ta, ta thuộc về Người
Ta là dân Người, là đoàn chiên Người dẫn dắt” ( Tv 100 : 3)
Trong Kinh Tiền Tụng ( preface) Lể kính các Thánh Tông Đồ, Giáo Hội đọc :
“Chúa là Mục Tử hằng hữu, không bỏ rơi đoàn chiên Chúa, nhưng nhờ các Thánh Tông Đồ, Chúa luôn luôn che chở, giữ gìn, để đoàn chiên được hướng dẫn nhờ các vị lãnh đạo Chúa đã đặt làm mục tử coi sóc đoàn chiên thay thế Con Chúa..”
Vậy Xin hỏi những ai “dị ứng” về từ ngữ “chiên” và “đoàn chiên” nói trong những câu Kinh Thánh và lời cầu nguyện trên đây: con chiên hay đoàn chiên nói trên là những con vật đang ăn cỏ và kêu be be ngoài đồng hay đúng ra là hình dung từ (metaphors) chỉ Dân Thiên Chúa cả trong thời Cựu lẩn Tân Ước ?
Và người Mục Tử nói trên có phải là người chăn chiên, chăn cừu ngoài đồng cỏ hay cũng là hình dung từ chỉ các giáo sĩ như Giáo hoàng, Giám mục và Linh mục trong trong nhiệm vụ coi sóc dân Chúa ngày nay trong Giáo Hội? Ngôn từ và hình ảnh này đã được chính Chúa Giêsu dùng trước đây để nói lên tương quan gần gũi thân tình giữa Chúa và dân được cứu chuộc nhờ máu của Người đổ ra trên thập giá. Ngôn từ và hình ảnh ấy được Chúa trao lại cho các Tông Đồ và những người kế tục Sứ Vụ rao giảng Tin Mừng và cử hành các bí tích cứu độ. Vậy tại sao lại đòi thay đổi ?
Đòi hỏi như vậy có phù hợp với Lời Chúa trong Kinh Thánh và áp dụng mục vụ của Giáo Hội ngày nay không? .
Tóm lại, khi đòi hỏi hay phê bình Giáo Hội về vấn đề gì thì thiết yếu phải có thành tâm thiện chí và kiến thức phải dựa trên những dữ kiện căn bản hợp lý. Không thể dựa vào cảm quan hay thiên kiến của mình để nói vung vít thiếu nền tảng giáo lý, thần học, Kinh Thánh và Truyền thống là những tiêu chuẩn phải dựa khi suy tư về Giáo Hội
Không ai ngăn cấm giáo dân góp ý xây dựng Giáo Hội, nhưng góp Ý xây dựng khác với phê bình chỉ trích vô căn cớ, chỉ gây hoang mang hiểu lầm và gương xấu.
Không nên vì cung cách cư xử hay đời sống của một thiểu số giáo sĩ nào đó mà có thành kiến chung với tập thể giáo sĩ, tu sĩ cũng như với Giáo Hội nói chung.
Ước mong những điều giải thích trên đây của tôi giúp quí độc giả bốn phương hiểu rõ vấn đề khúc mắc đang được đặt ra trên báo chí, truyền thông ở vài nơi trong và ngoài Việtnam..
LM. Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn (Houston, Texas)