14 thg 7, 2019

Không xứng với Thầy (15.7.2019 – Thứ Hai tuần 15 Thường niên)

Lời Chúa: Mt 10, 34 – 11, 1
34“Anh em đừng tưởng Thầy đến đem bình an cho trái đất; Thầy đến không phải để đem bình an, nhưng để đem gươm giáo.35 Quả vậy, Thầy đến để gây chia rẽ giữa con trai với cha, giữa con gái với mẹ, giữa con dâu với mẹ chồng.36 Kẻ thù của mình chính là người nhà. 37 “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.38 Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy.39 Ai giữ lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được.40 “Ai đón tiếp anh em là đón tiếp Thầy, và ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy.41 “Ai đón tiếp một ngôn sứ, vì người ấy là ngôn sứ, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc ngôn sứ; ai đón tiếp một người công chính, vì người ấy là người công chính, thì sẽ được lãnh phần thưởng dành cho bậc công chính.42 “Và ai cho một trong những kẻ bé nhỏ này uống, dù chỉ một chén nước lã thôi, vì kẻ ấy là môn đệ của Thầy, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.” 1 Ra chỉ thị cho mười hai môn đệ xong, Đức Giê-su rời chỗ đó, đi dạy dỗ và rao giảng trong các thành thị trong miền.
Suy niệm
Văn Cao là một nhạc sĩ có tài với bản Tiến Quân Ca bất hủ.
Nhưng ông cũng là một thi sĩ ít được ai biết đến.
Ông có làm một bài thơ ngắn Không Đề như sau :
“Con thuyền đi qua
Đoàn tàu đi qua
để lại tiếng.
Đoàn người đi qua
để lại bóng.
Tôi không đi qua tôi
để lại gì ?”
Ông muốn để lại chút gì cho đời của kẻ đã mang tiếng ở trong trời đất.
Và ông hiểu rằng mình không thể để lại gì, nếu không vượt qua chính mình.
Cái tôi và tất cả những gì thuộc về nó, đều là đối tượng phải vượt qua.
Vượt qua cái tôi không làm tôi mất nó, nhưng lại được một cái tôi viên mãn.
Phải chăng đó là điều Văn Cao, một kitô hữu ẩn danh đến lúc chết,
muốn gửi gấm qua những vần thơ này ?
Có những giá trị hầu như được mọi người nhìn nhận.
Có những giá trị thiêng liêng máu mủ như cha mẹ, con cái.
Đặc biệt trong xã hội Do-thái, hiếu thảo với cha mẹ là điều được đề cao.
Đức Giêsu cũng đã phê phán thái độ bất hiếu đối với cha mẹ (Mt 15, 3-6).
Mạng sống của con người cũng là một giá trị cao quý.
Đụng đến mạng sống con người là xúc phạm đến chính Thiên Chúa,
như ta thấy trong chuyện Cain giết em là Aben (St 4, 9-10).
Trước những giá trị thiêng liêng như thế, ta cần yêu mến, giữ gìn.
Yêu cha, yêu mẹ, yêu con trai, con gái, là những điều hợp đạo lý.
Giữ gìn mạng sống của mình là điều phải làm.
Tuy nhiên, Đức Giêsu đã đưa ra một đòi hỏi mới mẻ và đáng sợ.
Ngài không cấm các môn đệ yêu cha mẹ, con cái, hay mạng sống,
vì đó là những giá trị thiêng liêng cao quý.
nhưng Ngài không chấp nhận họ yêu những giá trị này hơn Ngài.
Ngài không muốn họ đặt Ngài ở dưới những giá trị đó.
Đơn giản Ngài muốn họ coi Ngài là một Giá Trị hơn hẳn, Giá Trị viết hoa.
Khi cần chọn lựa giữa các giá trị, Ngài đòi họ ưu tiên chọn Ngài.
Cụm từ “không xứng đáng với Thầy” được nhắc đến ba lần (cc. 37-38).
Chỉ ai dám yêu Ngài hơn người thân yêu, dám vác thập giá mình mà theo,
người ấy mới xứng đáng với Thầy.
Chỉ ai dám mất mạng sống của mình vì Thầy,
người ấy mới lấy lại được sự sống tròn đầy ở đời sau (c. 39).
Đức Kitô là ai mà đòi chúng ta phải đặt Ngài lên trên các thụ tạo như vậy,
nếu Ngài không phải là hiện thân của chính Thiên Chúa ?
Đừng quên chính Ngài đã mất mạng sống mình vì tôi trước.
Chỉ khi tôi đi qua tôi, nhờ đặt tôi và mọi sự thuộc về tôi dưới Đức Kitô,
tôi mới có gì để lại cho đời, tôi mới giữ lại được mọi giá trị khác (Mt 19, 29).
Xin làm được điều thánh Biển Đức dạy :
“Phải tuyệt đối không coi gì trọng hơn Đức Kitô.”
Lời nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con thấy Chúa thật lớn lao,
để đối với con, mọi sự khác trở thành bé nhỏ.
Xin cho con thấy Chúa thật bao la,
để cả mặt đất cũng chưa vừa cho con sống.
Xin cho con thấy Chúa thật thẳm sâu,
để con dễ đón nhận nỗi khổ đau sâu thẳm nhất.
Lạy Chúa Giêsu,
xin làm cho con thật mạnh mẽ,
để không nỗi thất vọng nào
còn chạm được tới con.
Xin làm cho con thật đầy ắp,
để ngay cả một ước muốn nhỏ
cũng không còn có chỗ trong con.
Xin làm cho con thật lặng lẽ,
để con chỉ còn loan báo Chúa mà thôi.
Xin Chúa ngự trong con thật sống động,
để không phải là con,
mà là chính Ngài đang sống.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

13 thg 7, 2019

Hãy đi và làm như vậy (14.7.2019 – Chúa nhật 15 Thường niên)

Lời Chúa: (Lc 10,25-37)
25 Một hôm, có người thông luật kia đứng lên hỏi Ðức Giêsu để thử Người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” 26 Người đáp: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” 27 Ông ấy thưa: “Ngươi hãy yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi và người thân cận như chính mình”. 28 Ðức Giêsu bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống”.
29 Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Ðức Giêsu rằng: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” 30 Ðức Giêsu đáp: “Một người kia từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. 31 Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. 32 Rồi cũng thế, một thầy Lêvi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. 33 Nhưng một người Samaria kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. 34 Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. 35 Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiều, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”. 36 Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” 37 Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Ðức Giêsu bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy”.
Suy Niệm
Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?
Phải yêu, yêu hết mình,
yêu Thiên Chúa và yêu người thân cận.
Ðức Giêsu khen câu trả lời của người luật sĩ và bảo:
“Hãy làm như vậy và ông sẽ có sự sống.”
Ðể có sự sống, cần phải yêu,
nghĩa là ra khỏi mình và trao hiến.
Ai không yêu là hủy hoại chính mình và người khác.
Con người được dựng nên bởi Ðấng là Tình Yêu,
được khuôn đúc theo hình ảnh của Tình Yêu đó,
nên con người hướng về Tình Yêu
như hoa hướng dương quay về phía mặt trời.
Con người chỉ thật là mình khi biết yêu thương.
Hãy yêu người thân cận như chính mình.
Nhưng ai là người thân cận của tôi?
Ðức Giêsu giúp ta tìm thấy câu trả lời bất ngờ
qua dụ ngôn người Samari nhân hậu.
Người thân cận của tôi là mọi người đang cần đến tôi,
là người hôm nay tình cờ tôi gặp trên đường.
Người thân cận là người gần tôi
vì tôi đã đến gần người ấy,
đã cúi xuống và phục vụ.
Không phải vì người đó là thân cận của tôi
nên tôi đến gần mà phục vụ.
Nhưng khi tôi đến gần bất cứ ai mà phục vụ,
tôi biến mình thành người thân cận của họ.
Chẳng ai là người xa lạ với tôi,
nếu tôi không tránh họ như hai thầy Lêvi và tư tế.
Người thân cận với tôi không chỉ là người cùng nhà,
cùng nhóm, cùng tôn giáo, cùng quê hương, cùng lý tưởng.
Người thân cận với tôi không phải là một ý niệm trừu tượng
nhưng là bà mẹ già gần bên, là người bạn chung phòng,
là người hàng xóm mà tôi phải chịu đựng,
là tất cả những ai đã và đang làm tôi đau khổ.
Tất cả đều có thể được tôi yêu thương
và đều có thể trở nên người thân cận của tôi.
Tình yêu là một phép mầu,
chỉ cần tôi dám bước tới, xích lại và cúi xuống
là người lạ nên quen, người xa nên gần, kẻ thù nên bạn.
Những khoảng cách được lấp đầy,
những rào chắn phút chốc sụp đổ.
Nhưng yêu không phải là chuyện dễ
dù con người hôm nay cứ tưởng mình đã biết yêu.
Lúc nào cũng có cớ để người ta né tránh yêu thương.
Thầy tư tế và Lêvi đều tránh qua một bên mà đi.
Phải chăng họ sợ bị ô nhơ nếu đụng nhằm xác chết?
Phải chăng họ sợ bọn cướp vẫn còn ở đâu đây?
Những nỗi sợ làm người ta bỏ đi.
Chấp nhận là đến gần và cúi xuống
là chấp nhận liều lĩnh và trả giá.
Cuộc hành trình bị chậm lại, chương trình phải thay đổi.
Tiền bạc, thời giờ, công sức là những điều phải trao đi.
Tất cả chỉ vì chạnh lòng thương,
vì con tim biết nhói đau trước nỗi khổ của người khác.
Tình yêu thực sự bao giờ cũng cụ thể:
chấp nhận cả tay và người bị dơ bẩn lấm lem,
chấp nhận gặp rắc rối, xáo trộn và nguy hiểm,
vì Tình Yêu đòi hiến trọn con người.
Chúng ta cần thành thật nhận mình chưa biết yêu,
vì yêu như thế thì vượt quá sức con người.
Cần đón lấy nguồn Tình Yêu Thiên Chúa đổ vào tim ta (Rm 5,5)
để tim ta trở nên mênh mông và quảng đại,
để ta thi hành được điều Chúa nói:
“Ông hãy đi và cũng hãy làm như vậy.”
Cầu Nguyện
Lạy Chúa,
lúc đầu chúng con chỉ muốn cầm tay nhau
để làm thành một vòng tròn khép kín.
Sau đó chúng con hiểu rằng
cần phải buông tay nhau
để nhận những người bạn mới,
để vòng tròn được mở rộng đến vô cùng
và trái tim được lớn lên mãi.
Lạy Chúa, chúng con biết rằng
cần phải nối vòng tay lớn
xuyên qua các đại dương và lục địa.
vòng tay người nối với người,
vòng tay con người nối với Tạo Hoá.
Chúng con thích Chúa đứng chung một vòng tròn
với tất cả loài người chúng con,
nắm lấy tay chúng con và đưa chúng con lên cao.
Ước gì việc Chúa giang tay trên thập giá
giúp chúng con biết cầm lấy tay nhau
và nhận nhau là anh em.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

9 thg 7, 2019

Mười hai tông đồ (10.7.2019 –Thứ tư Tuần 14 Thường niên)


Lời Chúa: Mt 10, 1-7
Khi ấy, Ðức Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông được quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền. Sau đây là tên của mười hai Tông Ðồ: đứng đầu là ông Simon, cũng gọi là Phêrô, rồi đến ông Anrê, anh của ông; sau đó là ông Giacôbê con ông Dêbêđê và ông Gioan, em của ông; ông Philipphê và ông Batôlômêô; ông Tôma và ông Matthêu người thu thuế; ông Giacôbê con ông Anphê và ông Tađêô; ông Simon thuộc nhóm Quá Khích, và ông Giuđa Ítcariốt, chính là kẻ nộp Người. Ðức Giêsu sai mười hai ông ấy đi và chỉ thị rằng: “Anh em đừng đi về phía các dân ngoại, cũng đừng vào thành nào của dân Samari. Tốt hơn là hãy đến với các con chiên lạc nhà Ítraen. Dọc đường hãy rao giảng rằng Nước Trời đã đến gần.”
Suy niệm:
Đức Giêsu đã cần mười hai bạn trẻ cộng tác với mình,
để làm mục tử cho đàn chiên, làm thợ gặt cho mùa lúa chín vàng,
làm tông đồ cho một nước Paléttin nhỏ bé.
Ngài chia sẻ cho họ uy quyền mình có và sứ vụ mình làm (c. 1).
Con số mười  hai gợi nhớ mười hai chi tộc Ítraen ngày xưa.
Giáo Hội Ngài thiết lập sẽ là Ítraen mới, đặt nền trên mười hai bạn trẻ.
Chúng ta khó hình dung khuôn mặt riêng của mỗi vị tông đồ,
nhưng ta biết tên của họ qua các sách Tin Mừng, dù có chút dị biệt.
Họ có cá tính và cuộc đời riêng, nhưng đều được gọi bởi Thầy Giêsu,
và được Thầy sai đến với dân tộc mình là Ítraen (c. 6).
Tin Mừng Mátthêu kể tên nhóm Mười Hai theo từng cặp.
Simôn Phêrô đứng đầu danh sách, còn Giuđa Ítcariốt thì đứng cuối.
Chỉ sau này ta mới biết Simôn sẽ chối Thầy và Giuđa sẽ phản bội.
Có những cặp anh em ruột: Simon và Anrê, Gioan và Giacôbê.
Có người làm nghề thu thuế cho quân đô hộ: Mátthêu.
Có người lại muốn dùng vũ trang giải phóng đất nước: Simôn nhiệt thành.
Có ba người được coi là môn đệ thân tín: Phêrô, Gioan và Giacôbê.
Nói chung đa số là những người ít học thức, làm nghề đánh cá.
Được sai đi thật là một thách đố đối với họ.
Họ có làm nổi những việc Thầy giao không?
Vào thời Đức Giêsu, rao giảng “Nước Trời đã đến gần” là điều không dễ.
Để người ta tin chuyện đó, cần phải minh chứng bằng hành động cụ thể,
như chữa lành bệnh hoạn và khử trừ thần ô uế.
Vào thời nay, rao giảng Tin Mừng Nước Trời lại càng không dễ.
Rao giảng vẫn phải đi kèm với các việc phục vụ con người.
Lập một bệnh xá, bắc một cây cầu, đào một giếng nước,
giúp trẻ em nghèo đến trường, đưa người cai nghiện về lại với cộng đoàn,
cho các cô gái lầm lỡ có chỗ sinh con và nuôi con…
Giáo Hội đã làm nhiều việc và vẫn còn bao nhu cầu mới mẻ.
Nhưng có một việc mà xã hội hôm nay không biết là mình đang cần,
đó là được giải phóng khỏi những thần ô uế mới đang ám ảnh con người.
Mười Hai tông đồ ngày xưa đã đi khắp mảnh đất Paléttin,
và đã đặt chân đến những vùng đất mới.
Thế giới hôm nay rộng hơn và phẳng hơn xưa.
Chúng ta được Đấng Phục sinh sai đến mọi dân tộc (Mt 28, 20).
Các phương tiện truyền thông ngày nay giúp ta dễ dàng làm chuyện đó.
Nhưng chúng ta vẫn không được quên, trên quê hương Việt Nam
gần 80 triệu đồng bào chưa đón nhận Tin Mừng.
Cầu nguyện:
Lạy Cha,
Cha muốn cho mọi người được cứu độ
và nhận biết chân lý,
chân lý mà Cha đã bày tỏ nơi Đức Giêsu, Con Cha.
Xin Cha nhìn đến hàng tỉ người
chưa nhận biết Đức Giêsu,
họ cũng là những người đã được cứu chuộc.
Xin Cha thôi thúc nơi chúng con
khát vọng truyền giáo,
khát vọng muốn chia sẻ niềm tin và hạnh phúc,
niềm vui và bình an của mình cho tha nhân,
và khát vọng muốn giới thiệu Đức Giêsu cho thế giới.
Chúng con thấy mình nhỏ bé và bất lực
trước sứ mạng đi đến tận cùng trái đất
để loan báo Tin Mừng.
Chúng con chỉ xin đến
với những người bạn gần bên,
giúp họ quen biết Đức Giêsu và tin vào Ngài,
qua đời sống yêu thương cụ thể của chúng con.
Chúng con cũng cầu nguyện
cho tất cả những ai đang xả thân lo việc truyền giáo.
Xin Cha cho những cố gắng của chúng con
sinh nhiều hoa trái. Amen.
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

8 thg 7, 2019

Sai thợ ra gặt lúa (9.7.2019 – Thứ ba Tuần 14 Thường niên)


Lời Chúa: Mt 9, 32-38
32 Họ vừa đi ra thì người ta đem đến cho Đức Giê-su một người câm bị quỷ ám.33 Khi quỷ bị trục xuất rồi, thì người câm nói được. Dân chúng kinh ngạc, nói rằng: “Ở Ít-ra-en, chưa hề thấy thế bao giờ! “34 Nhưng người Pha-ri-sêu lại bảo: “Ông ấy dựa thế quỷ vương mà trừ quỷ.”35Đức Giê-su đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền. 36 Đức Giê-su thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt.37 Bấy giờ, Người nói với môn đệ rằng: Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít.38 Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về.”
Suy niệm
Phép lạ Đức Giêsu chữa người câm là phép lạ cuối
của chuỗi mười phép lạ trong hai chương 8 và 9 của Tin Mừng Mátthêu.
Mátthêu đã kể lại phép lạ này với rất ít chi tiết.
Người ta coi bệnh câm của anh này là do quỷ ám.
Khi quỷ bị trục xuất thì người câm nói được.
Không thấy Đức Giêsu đã làm gì hay nói gì để trừ quỷ.
Nhưng quyền năng của Ngài được lộ ra khi người câm cất tiếng nói.
Có hai phản ứng ngược nhau trước phép lạ.
Đám đông thì kinh ngạc và nói : “Ở Israel, chưa hề thấy thế bao giờ.”
Họ đứng trước một điều hết sức mới mẻ khiến họ ngỡ ngàng (c. 33).
Người câm nói được là một dấu chỉ cho thấy Nước Trời đã gần,
thời đại thiên sai đã đến, Đấng Thiên sai đã ở kề bên.
Đức Giêsu đã làm ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia tiên báo:
“miệng lưỡi người câm sẽ reo hò” (35, 6).
Nhưng những người Pharisêu lại nghĩ khác.
Họ không phủ nhận quyền năng trừ quỷ của Đức Giêsu,
nhưng họ lại cho rằng Ngài đã bắt tay với quỷ vương để trừ quỷ (c. 34).
Đây là phản ứng đầu tiên có tính thù nghịch công khai của người Pharisêu.
Phần còn lại của bài Tin Mừng là một bản tóm lược
về các hoạt động của Đức Giêsu: dạy dỗ, rao giảng, và chữa bệnh (c. 35).
Tất cả cuộc sống của Ngài như dành trọn cho đám đông.
Đôi chân Ngài đi khắp các thành thị, làng mạc và hội đường.
Đôi môi Ngài không ngớt đem tin vui đến cho những người mong đợi.
Đôi tay Ngài chạm đến những bệnh tật yếu đau của con người.
Nhưng trên hết vẫn là chuyện Đức Giêsu chạnh lòng thương (c. 36).
Chạnh lòng thương là nhói đau ở chỗ sâu bên trong của ruột gan mình.
Thấy thì thương: đó luôn là cái nhìn của Đức Giêsu trước đám đông.
Ngài thấy họ như chiên không có người chăn dắt, lãnh đạo.
Chính vì thế họ bị rơi vào tình cảnh vất vưởng lầm than.
Đức Giêsu không đau xót về chuyện bệnh tật thân xác của đám đông.
Ngài quan tâm nhiều hơn đến nhu cầu tâm linh của con người.
Con người đánh mất ý nghĩa cuộc sống, thấy bơ vơ, cô độc, tuyệt vọng.
Con người loại trừ Thiên Chúa, để rồi rơi vào sa đọa, chán chường.
Đức Giêsu đến như người mục tử chăm sóc mọi mặt cho đoàn dân.
Cách đây hai ngàn năm, Đức Giêsu đã than về chuyện ơn gọi.
Đồng lúa thì bao la mênh mông, mà thợ gặt thì ít.
Ngài mời các môn đệ của mình cầu nguyện nài xin với Thiên Chúa.
Đồng lúa là của Thiên Chúa, thợ gặt cũng là của Thiên Chúa sai đến.
Nước Việt Nam chúng ta cũng cần bao thợ gặt.
Có bao nhiêu tỉnh thành làng mạc còn thiếu linh mục, thiếu nữ tu.
Số linh mục mới chịu chức không đủ bù cho các vị về hưu và qua đời.
Làm sao để các bạn trẻ thấy con người hôm nay và chạnh lòng thương?
Làm sao để họ muốn dấn bước lo cho đám đông như Giêsu?
Lời nguyện
Lạy Cha là người chủ ruộng tốt lành,
đồng lúa đã chín vàng chờ ngày gặt hái.
Xin Cha sai những người thợ lành nghề và tận tụy
đến làm việc trong cánh đồng bao la của Cha.
Xin Cha gieo vào lòng các bạn trẻ hôm nay
những ước mơ lớn lao, những lý tưởng cao cả.
Xin cho họ
biết quên hạnh phúc và tương lai của mình
để yêu tha nhân bằng trái tim rộng mở.
Ước gì họ nghe được tiếng kêu của người bị áp bức,
cảm được cơn đói khát Lời Chúa và tình thương,
thấy được những mất mát của bao người đau khổ,
và chạm đến sự trống vắng của tâm hồn lạc hướng.
Xin Cha sai Thánh Thần đến với các bạn trẻ
để họ quảng đại đáp lại tiếng gọi của Chúa Giêsu,
sống như Ngài đã sống
và tiếp tục làm những gì
Ngài đã làm trên trần gian.
Cũng xin Cha
gìn giữ gia đình và giáo xứ chúng con,
thanh lọc bầu khí của trường học và xã hội,
để tất cả trở thành những môi trường tốt
giúp các bạn trẻ dễ dàng tìm gặp ý Cha. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

7 thg 7, 2019

Ki-tô hữu giữa một xã hội khủng hoảng đạo đức: Ơn gọi sống chứng nhân cho tiếng lương tâm


1. Thực trạng đạo đức xã hội: khủng hoảng tiếng nói lương tri

    Nếu chân thành và thẳng thắn với cảm nhận của mình, có lẽ mỗi người Việt hiện nay đều đồng ý rằng đạo đức xã hội của chúng ta đang bị khủng hoảng. Có lẽ chỉ cần nêu lại vài vụ việc sau đây cũng đủ giúp ta hình dung ra vấn đề: cách đây vài tháng, một người bạn trai dùng dao giết hại bạn gái giữa đường, xung quanh rất nhiều người xem, thậm chí có cả một cảnh sát giao thông, nhưng không ai can ngăn, thậm chí một số người còn thản nhiên cầm điện thoại quay. Hay vụ việc gần nhất: một tài xế taxi tông một cặp đôi nam nữ đi xe máy; người tài xế bỏ chạy sau một lúc quan sát; sau đó, nhiều người qua đường khác cũng thấy vụ tai nạn, nhưng hoặc ngó lơ bỏ đi, hoặc lại gần xem xét một chút rồi cũng quay đi, bỏ mặc nạn nhân hấp hối trong đau đớn cho đến khi qua đời.
Dù là hiện tượng thuộc dạng ‘biết rồi, khổ lắm, nói mãi!’, nhưng sự vô cảm đáng sợ của nhiều người Việt hiện nay qua những sự việc trên hẳn làm chúng ta phải lo âu và trăn trở. Không cần bàn đến những kẻ đã trở thành ‘máu lạnh’ khi thản nhiên cầm điện thoại quay lại cảnh đau lòng, nhưng ta thử suy nghĩ về cách hành xử của những người còn lại, tức những người đứng đó quan sát mà không có hành động cứu giúp nào. Có thể họ cũng thấy đau xót cho người bị nạn, và rất muốn can thiệp để cứu các nạn nhân. Nhưng họ chọn không hành động, đơn giản vì họ không muốn liều lĩnh với sự an toàn của mình, cũng như không muốn gặp những rắc rối có thể có sau đó (về pháp lý, về công việc, …). Nghĩa là người ta đã để cho sự suy xét và phản tỉnh theo chiều hướng vị kỷ của lý trí lấn át mệnh lệnh trực khởi của lương tri khi đối diện với một sự kiện.
Dù được diễn đạt khác nhau, nhưng từ Phương Đông tới Phương Tây, từ tôn giáo tới vô thần, nhân loại hầu như đều đồng ý với nhau rằng, căn cốt của đạo đức con người nằm ở tiếng nói của lương tri hay lương tâm. Đó là nền tảng rất công bằng của mọi người và mọi xã hội. Vì vậy, có thể nói, cách người dân của một xã hội hành xử khi đứng trước một biến cố nguy cấp là thước đo cho thấy mức độ đạo đức của xã hội ấy. Nếu người dân của một xã hội nhạy cảm với nhu cầu của tha nhân và không chần chừ trong hành động cứu giúp người hoạn nạn, theo đúng chỉ bảo của tiếng lương tâm, thì xã hội ấy thực sự có một nền tảng đạo đức vững vàng, theo nghĩa là tính lương thiện của người dân đủ lớn để mệnh lệnh của lương tâm có tác dụng mạnh mẽ trên họ. Còn nếu người dân chần chừ, dành thời gian suy nghĩ, suy xét được mất cho mình khi đối diện với sự nguy cấp của tha nhân, thì rõ ràng nền đạo đức của xã hội đó đã xuống cấp trầm trọng. Xã hội đó đã khiến cho tính vị kỷ thắng thế tiếng nói trực khởi của lòng trắc ẩn từ lương tâm.
Thiết tưởng chúng ta không cần bàn quá nhiều về nguyên nhân nữa, vì dù vấn đề khá phức tạp và chịu ảnh hưởng từ nhiều khía cạnh, nhưng hầu như ai cũng nhận ra thứ nguyên nhân mang tính ‘lỗi hệ thống’ là gì rồi. Vấn đề hiện tại là đa số chúng ta đều cảm thấy chán nản vì bất lực trước cái lỗi hệ thống đó. Nó khiến ta bi quan và thất vọng. Có lẽ nhóm người chú tâm nhiều nhất đến vấn đề này là các nhà làm giáo dục. Nhưng trong nhiều năm qua, họ đều bối rối trước thực trạng này; và dù có nhiều tâm huyết, nhưng một khi không dám đối diện với ‘lỗi hệ thống’, họ cũng không biết phải bắt đầu lại từ đâu.
Nếu nhìn tổng quan của thực trạng, tức ở bình diện cả nước, bản thân người viết bài này cũng bối rối và cảm thấy bất lực y như vậy. Vì vậy, tôi đặt lại vấn đề trong phạm vi của cộng đoàn Ki-tô hữu. Thông thường, chúng ta sẽ đặt câu hỏi: làm thế nào để Ki-tô hữu không bị nhiễm tinh thần vị kỷ của nền đạo đức xã hội bị khủng hoảng như vậy? Tuy nhiên, với niềm tin vào triết lý ‘vết dầu loang’, ở đây tôi mạnh dạn đặt câu hỏi xa hơn: Ki-tô hữu chúng ta cần làm gì để sống sứ mạng chứng nhân cho tiếng nói của lương tâm, với hy vọng phần nào vực lại nền đạo đức cho xã hội? Dù điều này nghe có vẻ to tát và xa vời, nhưng chính bản chất đức tin đòi buộc chúng ta phải cố gắng hết mình, nhất là với những vấn đề thế này.

2. Ơn gọi chứng nhân cho tiếng nói lương tâm và vài đề nghị về giáo dục trẻ em

Bản chất của đức tin Công giáo là một lối sống, một con đường, chứ không chỉ là một hiểu biết mang tính thông tin về Thiên Chúa. Căn bản của lối sống đó chính là trở về tương quan thân mật và tình yêu với Thiên Chúa và với tha nhân. Vì vậy, Ki-tô hữu luôn mang ơn gọi chứng nhân bằng chính lối sống của mình. Và trong hoàn cảnh Việt Nam hiện nay, thiết tưởng một lối sống thể hiện rõ lòng yêu mến và tuân thủ tiếng nói của lương tâm chính là cách làm chứng tá hết sức sống động, vì nó đụng đến điểm chung nhất nơi cõi sâu thẳm của mọi con người, bất kể Lương hay Giáo (x. Gaudium et Spes, 16).
Vậy, chúng ta cần phải làm gì để sống ơn gọi làm chứng nhân cho tiếng nói lương tâm? Điều kiện trước hết là chúng ta phải làm sao để trả lại ‘môi trường thiện lành’ của tâm hồn, hầu có khả năng trở nên nhạy bén với tiếng nói lương tâm. Quả vậy, dù Thiên Chúa luôn luôn nhắc nhở và hướng dẫn chúng ta qua tiếng nói lương tâm, nhưng nếu tâm hồn chúng ta bị chai sạn, thì tiếng nói đó cũng bị che mờ hoặc bị lấn át bởi những tiếng cám dỗ của ma quỷ, của sự vị kỷ và dục vọng. Tất nhiên, đây là một bài toán nan giải, mang tầm mức rất lớn, và liên quan đến mọi tầng lớp. Tuy nhiên, nếu chúng ta trăn trở với tha nhân, với xã hội, và yêu mến ơn gọi của mình, chúng ta sẽ tìm ra nhiều sáng kiến để chung tay giải quyết nó. Ở đây, tôi xin góp phần nhỏ bé của mình với một gợi nhắc về hướng giáo dục trẻ em đối với việc sống lương tâm ngay chính:
Giáo dục đạo đức trong gia đình
Mặc dù chẳng phải là ý tưởng mới mẻ gì, nhưng thiết nghĩ cần nhắc lại rằng: như gia đình là nền tảng của xã hội, giáo dục gia đình cũng chính là gốc rễ của mọi nền giáo dục. Trong hoàn cảnh hiện tại của Việt Nam, nơi mọi người đang cảm thấy bối rối với nền giáo dục quốc gia, thì vai trò của giáo dục trong gia đình cần phải nêu cao hơn bao giờ hết. Vì vậy, các bậc phụ huynh cần chú trọng hơn việc giáo dục lương tâm con cái, không chỉ như một nhiệm vụ của người làm cha làm mẹ, mà như một sứ mạng đức tin của mình. Nền tảng căn bản của sứ mạng này chính là đời sống gương mẫu của cha mẹ.
Kinh nghiệm nhân sinh đã chỉ rõ rằng trẻ con như tờ giấy trắng, và những gì được ghi vào ‘tờ giấy’ đó phần lớn phản ánh chính đời sống cha mẹ của các em. Sai lầm dễ mắc của người lớn chúng ta là nghĩ rằng có nhiều thứ trẻ con không chú ý hoặc không hiểu. Thật ra, trẻ con rất nhạy bén trước các hành vi của người lớn, vì đây là độ tuổi của sự tò mò, khám phá và học hỏi. Trong một gia đình, nếu bố mẹ làm ăn chân chính, cư xử tốt đẹp với người khác, vv., thì tâm hồn con trẻ cũng mang đầy dấu ấn của sự thiện lành. Ngược lại, nếu bố mẹ làm ăn mưu mô gian dối, hay nói hành nói xấu tha nhân, thì thật khó hy vọng rằng nhân cách con trẻ được phát triển tốt đẹp! Vì vậy, ước gì các bậc cha mẹ chú trọng đến đời sống đạo đức của chính mình trong từng hành vi hàng ngày, để tâm hồn trong trắng của con cái có thể được hoạ nên bởi những đoá hoa đẹp đẽ, thay vì những hình ảnh đen tối.
Giáo dục về lòng yêu mến thiên nhiên
Tôi vẫn luôn tin rằng, thiên nhiên là món quà vô giá mà Thiên Chúa ban cho ta, để không chỉ cung cấp môi trường và các sản vật nuôi sống cơ thể, mà còn giúp ta khám phá và đụng chạm vào sự thiện hảo nơi chính Mẹ Thiên Nhiên, nhờ đó tâm hồn ta được nuôi dưỡng và thiện tính được mở rộng. Vì vậy, một trong những điều cần thiết nhất để phát triển thiện tâm trẻ nhỏ chính là giúp các em tiếp xúc và chăm sóc môi trường thiên nhiên. Điều này cần thực hiện theo một cách căn cơ, chứ không chỉ theo những dạng phong trào và mang tính hình thức.
Theo quan sát của tôi, nhiều quốc gia đã làm rất tốt điều nói trên. Nền giáo dục của họ hướng trẻ con hoà mình vào thiên nhiên, để không chỉ vui chơi, mà còn biết tiếp xúc, trân quý, và chăm sóc sự sống của từng sinh mệnh bé nhỏ. Ví dụ, trẻ em mẫu giáo được cho gieo một hạt giống nào đó, rồi sau đó từng em sẽ quan sát và chăm sóc cây đó cho đến trưởng thành. Các em cũng được tạo điều kiện để tiếp chúc, chơi đùa với các con vật (trong công viên, nơi nông trại, vv.), và chăm sóc chúng. Đó không chỉ là những bài học mang tính khoa học để mở mang trí tuệ, mà còn là bài học giúp các em mở rộng tâm hồn, và biết kinh ngạc trước sự kỳ diệu của sự sống. Đó có lẽ cũng là cách hiệu quả nhất để các em thật sự có lòng quý trọng từng sinh mệnh, lẫn lòng tôn kính Đấng Tạo Hoá. Một tâm hồn đầy thiện tính như thế chính là điều kiện lý tưởng cho tiếng nói lương tâm được lắng nghe và thực hành.
Hướng giáo dục này đòi hỏi sự cộng tác của nhiều người, nhiều phía. Vì vậy, bên cạnh môi trường gia đình, thiết tưởng các lớp học Giáo lý cũng cần quan tâm đến hình thức giáo dục này một cách thiết thực. Ví dụ, thay vì chỉ chú trọng nội dung Giáo lý, các lớp Giáo lý cũng có thể thường xuyên tổ chức những chương trình ngoại khoá giúp các em tiếp xúc và chăm sóc môi trường.
Trước sự gian nan của sứ mạng này, chúng ta cần cùng nhau thêm lời cầu nguyện, để không chỉ được Thiên Chúa chúc lành và hướng dẫn, mà còn để Ngài ban cho ta ơn can đảm, kiên trì và cả niềm vui. Chúng ta cũng cầu nguyện cho mọi người dân của đất nước này biết trăn trở và thao thức trước những thực trạng xuống cấp của đạo đức xã hội, để cùng nhau chân thành tìm cách xây dựng lại nền tảng đạo đức, hầu cho tiếng nói Chân-Thiện-Mỹ từ lương tâm có thể vang vọng nơi cõi lòng mỗi người và được thể hiện hoá nơi toàn xã hội.
Khắc Bá, sj.