4 thg 9, 2019

Từ Thiện hay Từ-Thiện?


Môn học: Triết học Con người
Giáo sư: Phạm Trung Hưng, S.J.
Học viên: Phạm Quang Khanh, S.J.
Từ xưa tới nay, thiện và ác luôn là đề tài thu hút sự chú ý của biết bao người, nhất là những ai khao khát kiếm tìm chân lý. Thiện và ác không chỉ tồn tại trên lý thuyết, nhưng gắn chặt với đời sống của mỗi con người. Chính vì thế, người ta không ngừng đặt vấn đề về bản chất con người. Con người là xấu xa hay con người là tốt lành? Đây là một câu hỏi không dễ để tìm lời đáp. Từ một tình huống xảy ra trong đời sống thường ngày liên quan tới người nhiễm HIV, bài viết này như một nỗ lực tìm hiểu bản chất con người bằng một cái nhìn mang tính cảm thông.
Dẫn nhập
Kết thúc buổi gặp gỡ cuối tuần, nhóm bạn trẻ ngồi lại bàn tính với nhau về chuyện đi làm từ thiện. Mọi người tỏ ra hứng thú và sôi nổi: “Chúng ta sẽ đi đâu? Chúng ta sẽ làm gì?” Một giọng nói vang lên: “Chúng ta sẽ đi thăm trung tâm chăm sóc những người nhiễm HIV!” Chưa kịp dứt lời, gợi ý đó đã bị phản đối dữ dội: “Nghĩ sao mà bảo tụi tôi đi thăm những người nhiễm HIV?” Bầu không khí sôi nổi bỗng trở nên tĩnh lặng khác thường. Phải chăng mỗi người, từ đáy lòng của mình, đang cố gắng đi tìm lý do người ta tương quan với nhau, dựa trên bản chất con người? Phải chăng bản chất con người là ích kỷ hẹp hòi? Phải chăng bệnh nhân HIV không xứng đáng là “con người” để đi thăm viếng?
  1. Phải chăng bản chất con người là ích kỷ hẹp hòi?
Từ xưa tới nay, xã hội không thiếu gì những người sống quy kỷ, nhỏ nhoi. Họ chỉ biết quan tâm tới lợi ích riêng của mình mà không màng tới nhu cầu của người khác. Không ít kẻ sống trong nhung gấm lụa là, nhưng đôi mắt tâm hồn lại bị mù lòa trước những cảnh đời bất hạnh lầm than. Họ quan niệm rằng mình thuộc về một đẳng cấp khác, một thế giới khác; rằng những người nghèo hèn bệnh tật không có trong danh sách bạn bè tương giao của họ. Chẳng thế mà nhiều người ăn xin, nhiều khách lỡ đường luôn bị phũ phàng từ chối khi cầu cứu chủ nhân của những ngôi nhà cổng rộng tường cao.
   Sự ích kỷ hẹp hòi không chỉ dừng lại ở phạm vi cá nhân, nhưng còn lây lan mạnh mẽ ra cả cộng đồng. Từ châu Âu tới Châu Á, từ châu Mỹ tới châu Phi, đâu đâu người ta cũng nghe nói đến chuyện cá lớn nuốt cá bé. Ngoài việc cố gắng vơ vét tài nguyên khoáng sản, một số nước lớn còn muốn thôn tính cả lãnh thổ của các nước nhỏ.
Nham hiểm hơn, nhiều khi sự ích kỷ hẹp hòi của con người lại được ngụy trang tinh vi dưới những vỏ bọc tốt lành. Khối kẻ làm việc từ thiện mà chẳng bao giờ nghĩ tới người mình giúp đỡ. Họ chỉ lo vun vén cho danh tiếng và hoàn thiện khả năng của mình. Khi ấy, tha nhân trở thành phương tiện để họ trục lợi. Nực cười làm sao khi chứng kiến cảnh đoàn khách từ thiện yêu cầu trẻ em tại cô nhi viện đứng chờ hàng giờ giữa trưa hè oi ả để họ quay phim chụp ảnh làm tư liệu cho hoạt động từ thiện của mình.
Còn nữa, con người tham gia các nhóm, các phong trào chưa hẳn vì muốn góp công góp sức xây dựng xã hội, nhưng là để tìm kiếm những điều “ích lợi” cho bản thân. Nhiều sinh viên tham gia chiến dịch mùa hè xanh, chiến dịch sinh viên tình nguyện là để nhắm tới một bảng điểm đẹp khi ra trường. Nhiều cầu thủ bóng đá sẵn sàng phủi áo ra đi, vô ơn bạc nghĩa với câu lạc bộ đã đào tạo mình để đến một bến đỗ mới nhằm tìm kiếm tiền lương cao hơn, danh tiếng lẫy lừng hơn.
Tất cả những gì đề cập trên đây dường như hỗ trợ đắc lực cho quan niệm của Thomas Hobbes, rằng bản chất con người là xấu xa. Trong đời sống thường ngày, con người thậm chí còn gọi nhau như những con vật: “ngu như lợn”, “xấu như khỉ”…Con người nghĩ về mình và nghĩ cho mình. Họ gặp nhau, sống với nhau không phải vì nhau, nhưng là vì những “lợi ích” riêng. Có thể nói, “tự bản tính chúng ta không tìm kiếm xã hội vì xã hội, mà vì chúng ta có thể nhận được danh dự hay lợi lộc của xã hội.”[1] Đồng tình với Thomas Hobbes, Tuân Tử nại vào các bằng chứng như thầy dạy, luật pháp và triết lý để khẳng định rằng: “con người sinh ra đã hư hỏng, xấu xa. Chúng ta đều tham lam và tư lợi, ghanh ghét với người khác.”[2]
Tuy nhiên, nếu cho rằng bản chất con người là xấu xa, là ích kỷ, thì làm sao ta có thể lý giải cho vô vàn những điều tốt đẹp vẫn đang ngày đêm đua nở trong xã hội loài người?
Nơi trường học, biết bao đôi bạn cùng tiến ngày ngày sát cánh bên nhau, cùng giúp đỡ nhau mà chẳng màng đến lợi danh. Nơi công trường nhà máy, công nhân chia sẻ với nhau những nhọc nhằn vất vả. Nơi trạm xá nhà thương, biết bao người hy sinh một đời nam thanh nữ tú để âm thầm phục vụ và chăm sóc bệnh nhân một cách nhưng không. Họ đâu có quan tâm và để ý tới lợi ích của bản thân. Rồi nữa, từ nông thôn cho tới thành thị, người ta chia vui với nhau, cùng nhau nâng ly trong những tiệc mừng song hỉ; họ cũng giúp nhau lau khô lệ sầu trong lúc tang gia mất mát. Chẳng những vậy, có người còn sẵn sàng lao mình xuống dòng nước xiết cứu người lạ mặt để rồi mãi mãi vĩnh biệt cuộc đời. Và còn bao tấm gương tốt đẹp khác…
Chừng đó dẫn chứng đủ cho thấy bản chất con người là tốt đẹp. Mạnh Tử đã từng tranh luận gay gắt với nhiều triết gia khác để bảo vệ quan điểm của ông, rằng bản chất con người là tốt đẹp: “Trắc ẩn chi tâm, nhân giai hữu chi”[3] (Lòng trắc ẩn, người ta ai ai cũng có.)
Hóa ra, nói rằng bản chất con người là xấu cũng có phần đúng, và bản chất con người là tốt cũng có phần đúng. Tuy nhiên, cả hai cách hiểu này đều chưa đầy đủ. Bởi lẽ trong con người, ta không chỉ thấy tính quy kỷ (tức là xấu xa) và tính hướng tha (tức là tốt đẹp), nhưng còn có hoạt động của một yếu tố khác là lý trí. Với Plato, lý trí giống như người cầm cương điều khiển cỗ xe được kéo bởi hai con ngựa mang tên ham muốn và tinh thần.[4] Theo đó, trong trường hợp nêu lên ở đầu bài viết, phần lý trí của kẻ không muốn đi thăm người nhiễm HIV đã không làm chủ và điều khiển được con ngựa ham muốn là tính ích kỷ của mình. Kết quả là, thay vì quyết định đi thăm viếng bệnh nhân HIV để làm từ thiện, người ấy lại từ-thiện.
  1. Phải chăng bệnh nhân HIV không còn xứng đáng là người?
Xét về mặt thể xác, bệnh nhân HIV đúng là một người bệnh, tức là đang có vấn đề về sức khỏe. Vậy, hễ như một người có vấn đề về sức khỏe mà không còn được coi là người nữa, thì thử hỏi trên thế giới này có bao nhiêu người thực sự là người? Bởi lẽ, ai dám chắc rằng mình không bao giờ gặp vấn đề về sức khỏe. Sinh lão bệnh tử là chuyện của bao đời nay. Chẳng lẽ, hôm nay tôi bị bệnh thì tôi không còn là người; ngày mai khi hết bệnh, tôi sẽ lại là người? Khi tôi trẻ, tôi là người vì tôi không có bệnh; ngược lại khi về già, tôi không còn là người nữa vì tôi có bệnh?
Còn nếu như bệnh nhân HIV không xứng đáng là người bởi vì con vi-rút HIV, thì đâu là sự khác biệt giữa vi-rút HIV và các con vi-rút khác liên quan tới tính người của con người. Đồng ý rằng, vi-rút HIV thực sự nguy hiểm cho sức khỏe của con người; nhưng nó đâu phải là vi-rút nguy hiểm nhất. Có những thứ vi-rút khác làm cho nhiều người suy nhược tinh thần, và sức khỏe cũng vì đó mà suy tàn theo, mặc dù họ không hề bị nhiễm HIV. Vậy thì, ai sẽ là người hơn?
Xét về nguyên nhân nhiễm HIV, nguồn bệnh có thể là do chủ thể dại dột tiếp xúc với ma túy, sử dụng thuốc phiện. Đó là sai lầm cá nhân của người bệnh. Nhân vô thập toàn, con người yếu đuối nên dễ mắc phải sai lầm. Chẳng ai dám vỗ ngực tự hào rằng mình không bao giờ mắc phạm sai lầm. Vậy, nếu hễ mắc sai lầm mà không còn là người nữa, thì liệu có ai còn là người nữa không? Ngoài ra, bệnh nhân HIV cũng có thể là nạn nhân: chồng lây bệnh cho vợ, mẹ lây bệnh cho con…Trong trường hợp này, họ hoàn toàn bị động và thật đáng cảm thông. Vậy, liệu có hợp lẽ khi coi những nạn nhân như vậy không phải là con người? Ngoài ra, nguyên nhân lây nhiễm HIV của nhiều người có thể đến từ sự hy sinh và phục vụ âm thầm của họ. Họ quảng đại sống chung với người HIV, chia sẻ đời sống và phục vụ bệnh nhân. Họ đồng hóa mình với bệnh nhân và sống cho bệnh nhân đến độ mang lấy chính căn bệnh của đối tượng mà mình phục vụ. Nếu ta coi họ không phải là con người, thì liệu rằng trên thế giới này còn ai dám phục vụ đồng loại nữa không? Còn ai muốn làm bác sĩ? Còn ai muốn làm y tá?
Xét về tinh thần và lý trí, chẳng ai dám chắc rằng tất cả những người nhiễm HIV đều kém hơn người không nhiễm. Bao người sống trong cảnh nhà lầu xe hơi, nhưng lại tìm đến cái chết trong đường cùng tuyệt vọng. Tinh thần của họ thật thảm hại. Ngược lại, dù mang trong mình căn bệnh thế kỷ, nhưng nhiều bệnh nhân HIV lại thể hiện một nghị lực phi thường. Họ vượt lên nghịch cảnh để sống yêu đời và yêu người. Họ làm gương sáng, khích lệ tinh thần của bao người trong xã hội.
Quý giá hơn, có những bệnh nhân HIV thể hiện một niềm tin tuyệt đối vào Đấng Siêu Việt khi cận kề cái chết. Nơi họ, ta thấy một niềm hy vọng, không dừng lại ở đời này, nhưng hướng tới một thế giới mới bên kia cuộc đời. Thật xúc động biết bao khi chứng kiến cảnh những bệnh nhân HIV hoán cải gia nhập đạo Công Giáo với một niềm tin vô cùng mạnh mẽ. Chẳng lẽ, họ không còn là người nữa sao?
Như vậy, cho dù tách rời từng mảng của con người để xem xét, ta cũng không thể nào cho rằng bệnh nhân HIV không xứng đáng là người. Thế nhưng, con người đâu phải là một sự tách biệt như vậy. Thân xác không phải là toàn bộ con người; tinh thần cũng chẳng phải toàn bộ con người. Con người là một “tổng thể đầy đủ”[5], “một sự thống nhất không thể phân chia.”[6] Vì lý do đó, bệnh nhân HIV là con người thực sự, và họ xứng đáng được người khác viếng thăm.
Kết luận
Tựu trung lại, “lúa tốt và cỏ lùng”[7] vẫn luôn tồn tại trong mỗi con người. Lúa tốt sẽ có cơ hội sinh hoa kết trái hay cỏ lùng nổi loạn chen ngang sẽ phụ thuộc rất nhiều vào khả năng kiểm soát của lý trí. Tuy nhiên, nhiều khi trong thực tế, dù lý trí có sáng suốt tới đâu đi chăng nữa, thì con người cũng không dám vỗ ngực tự tin rằng lúa tốt sẽ chắc chắn trổ bông. Bởi lẽ mỗi người, dù ít hay nhiều đều đã kinh nghiệm được điều mà thánh Phao-lô đề cập trong thư Roma: “Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm.”[8] Thực tại này đưa con người ý thức hơn về giới hạn của bản thân. Tự sức mình, con người không thể sống tốt, nhưng con người cần tới một Đấng Siêu Việt. Trong tương quan với Đấng ấy, con người không chỉ biết mình, nhưng còn biết người, biết rằng mỗi người đều có giới hạn. Và con người, dù là bệnh nhân HIV hay bất kỳ một ai trên trần gian này đều là một “huyền nhiệm”[9] cần được “từ thiện”, chứ không phải là một “vấn đề”[10] cần phải “từ-thiện.”          
[1] Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, Đỗ Văn Thuấn and Lưu Văn Hy trans. (Hà Nội: NXB Lao Động, 2004), 583.[2] Diane Morgan, Triết học và tôn giáo phương Đông, Lưu Văn Hy trans. (Hà nội: NXB Tôn Giáo, 2005), 205.[3] Nguyễn Đăng Thục, Lịch sử triết học Phương Đông. (Hồ Chí Minh: XNB Từ điển bách khoa, 2006.), 296.[4] X. Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, Đỗ Văn Thuấn and Lưu Văn Hy trans. (Hà Nội: NXB Lao Động, 2004), 58.[5] M.James C.Crabbe, From Soul to Self. (London & New York: Routledge, 1999), 54.[6] M.James C.Crabbe, From Soul to Self. (London & New York: Routledge, 1999), 54.[7] Mt 13,24-43.[8] Rm 7,19.[9] Từ ngữ của triết gia Gabriel Marcel.[10] Từ ngữ của triết gia Gabriel Marcel.

3 thg 9, 2019

Phải loan báo Tin Mừng (4.9.2019 – Thứ tư Tuần 22 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 4, 38-44

38 Đức Giê-su rời khỏi hội đường, đi vào nhà ông Si-môn. Lúc ấy, bà mẹ vợ ông Si-môn đang bị sốt nặng. Họ xin Người chữa bà.39 Đức Giê-su cúi xuống gần bà, ra lệnh cho cơn sốt, và cơn sốt biến mất: tức khắc bà trỗi dậy phục vụ các ngài.40 Lúc mặt trời lặn, tất cả những ai có người đau yếu mắc đủ thứ bệnh hoạn, đều đưa tới Người. Người đặt tay trên từng bệnh nhân và chữa họ.41 Quỷ cũng xuất khỏi nhiều người, và la lên rằng: “Ông là Con Thiên Chúa! ” Người quát mắng, không cho phép chúng nói, vì chúng biết Người là Đấng Ki-tô.42 Sáng ngày, Người đi ra một nơi hoang vắng. Đám đông tìm Người, đến tận nơi Người đã đến, và muốn giữ Người lại, kẻo Người bỏ họ mà đi.43 Nhưng Người nói với họ: “Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa cho các thành khác nữa, vì tôi được sai đi cốt để làm việc đó.”44 Và Người rao giảng trong các hội đường miền Giu-đê.

Suy niệm

Sáng ngày sa-bát Đức Giêsu đã giảng dạy ở hội đường Caphácnaum.
Lời của Ngài đầy uy quyền và uy lực. 
Lời ấy đã trục được quỷ khỏi một người đàn ông (Lc 4, 31-37).
Có lẽ đến trưa, Đức Giêsu rời khỏi hội đường để về nhà ông Simôn.
Tiếc thay bà mẹ vợ của ông lại bị sốt nặng, nằm một chỗ.
Người ta yêu cầu Ngài chữa cho người phụ nữ này.
Ngài đã lại gần và cúi xuống trên bà.
Ngài quát mắng cơn sốt như đã quát mắng thần ô uế (c. 39).
Lập tức cơn sốt phải rút lui.
Bà có thể đứng dậy được để phục vụ cơm nước cho Đức Giêsu và môn đệ.
Một lần nữa, chúng ta lại thấy sức mạnh của Lời Ngài.
Ngài chữa bệnh cho người phụ nữ chỉ bằng một lời ra lệnh.
Bệnh tật, dù nhẹ đi nữa, cũng làm phiền con người,
làm cản trở mọi sinh hoạt bình thường, và làm con người mất tự do.
Đức Giêsu đã nâng dậy một người đang nằm, mất sức làm việc.
Khi mặt trời lặn, lúc đã hết ngày sa-bát là ngày lễ nghỉ,
người ta mới đem cho Ngài những người bị đau đủ thứ bệnh.
Ngài chữa cho họ bằng cách đặt tay trên từng người (c. 40).
Đức Giêsu cúi xuống và chạm vào nỗi đau của từng thân xác.
Không rõ khi nào Ngài dừng tay để đi ngủ.
Chỉ biết khi trời hừng sáng, Ngài đã thức dậy ra đi, đến một nơi vắng vẻ.
Hẳn là Ngài cần chút thinh lặng, xa đám đông, để gặp gỡ Cha,
Ngài cần dâng cho Cha một tuần mới đang đến.
ức Giêsu không chỉ mê phục vụ cho đám đông,
Ngài còn mê ở một mình, mê cầu nguyện, mê chỗ vắng.
Nhưng các đám đông hối hả đi tìm Ngài, vì nhiều người cần chữa bệnh.
Khi bắt được Ngài, họ không cho Ngài lìa bỏ họ (c. 42).
Thành công và tiếng tăm, thiện cảm và sự thân quen gần gũi,
là những điều có thể giữ chân người tông đồ.
Trước sự chèo kéo của những người đau yếu đang thực sự cần Ngài,
Đức Giêsu vẫn muốn giữ cho mình sự tự do của người được Cha sai.
Ngài nhìn thấy cánh đồng mênh mông của thế giới.
Ngài hiểu là mình không được phép dừng chân ở một chỗ, để đặt trụ sở.
Ngài biết là mình được mời gọi lên đường mỗi ngày.
Đâu phải chỉ có thành Caphácnaum hay Nadarét hay vùng Galilê.
“Tôi còn phải loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa 
cho các thành khác nữa, vì tôi được sai cốt để làm chuyện đó” (c. 43).
Chữ phải đến như một mệnh lệnh từ Cha, kéo Đức Giêsu đi không nghỉ.
Ngài vượt qua bao biên giới của gia đình, làng quê, tỉnh thành…
Rồi có ngày việc loan báo Tin Mừng sẽ trải dài đến tận cùng thế giới.
Khi chữa lành cho con người, Đức Giêsu cho thấy Nước Thiên Chúa đến.
Con người hôm nay cũng bị đau yếu về nhiều mặt.
Mong mỗi tông đồ hôm nay cũng có khả năng chữa lành như Thầy Giêsu.

Lời nguyện

Lạy Chúa Giêsu thương mến,
xin ban cho chúng con
tỏa lan hương thơm của Chúa
đến mọi nơi chúng con đi.
Xin Chúa hãy tràn ngập tâm hồn chúng con
bằng Thần Khí và sức sống của Chúa.
Xin Chúa hãy xâm chiếm toàn thân chúng con
để chúng con chiếu tỏa sức sống Chúa.
Xin Chúa hãy chiếu sáng qua chúng con,
để những người chúng con tiếp xúc
cảm nhận được Chúa đang hiện diện nơi chúng con.
Xin cho chúng con biết rao giảng về Chúa,
không phải bằng lời nói suông,
nhưng bằng cuộc sống chứng tá,
và bằng trái tim tràn đầy tình yêu của Chúa.
(Mẹ Têrêxa Calcutta)
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

31 thg 8, 2019

Tháo cởi chữ VIP trên người và mặc lấy thân “nô lệ”


Cuộc sống là những bước đi trải dài. Có bước nhẹ nhàng thanh thoát, có bước nặng nề uể oải. Có bước khiêm nhu thanh bần, có bước kiêu hãnh với cái đầu luôn ngẩng cao của những người tự cho mình là rất quan trọng – VIP.

Những bước đi kiêu hãnh đó có làm “cái đầu vươn được tới trời”?
Những cái đầu luôn ngẩng cao kia có làm cho giá trị cuộc sống “cao hơn” được không?
Luôn bước đi với đầu kiêu hãnh ngẩng cao trước cuộc đời. Có nên chăng?
Luôn sống với khát kháo trở thành người rất quan trọng – VIP. Có nên chăng?

VIP. Chữ viết tắt thú vị và hấp dẫn trong cuộc đời hôm nay. Ai ai cũng mong muốn trở thành những người rất quan trọng – Very Important Person, để được bước vào “không gian riêng dành cho VIP”. Khắp mọi nơi từ phi trường đến nhà hàng, từ rạp hát đến chỗ ngồi trên xe bus, chữ VIP và không gian dành cho VIP đều hiện diện. Cả trong Giáo Hội của Chúa Giê-su, chữ VIP và chỗ ngồi cho VIP cũng tồn tại, dù rằng Chúa Giê-su đã tự mình tháo cởi chữ VIP ra khỏi cuộc đời Ngài.

Ngày xưa, chữ VIP chưa có, nhưng thực chất cuộc sống thích thú chỗ nhất đã có trong lòng người. Một ngày nọ, Chúa Giê-su quan sát một bữa tiệc và thấy khách dự tiệc cứ chọn cỗ nhất mà ngồi. Ngài nhận ra được lòng người luôn để tâm đến chỗ VIP,  thích đi tìm nơi nào quan trọng để ngồi. Ngài biết con người luôn muốn nổi danh và luôn muốn được mọi người chú ý tới. Thật vậy, ngày xưa và ngày nay đều vậy cả. Ai cũng muốn mình hơn người khác, ngồi chỗ ngon hơn và cao hơn người khác, được người khác chú ý chào hỏi chứ không muốn trở thành kẻ vô danh không ai màng tới.

Sau khi nhận ra khuynh hướng sống của con người luôn thích đi tìm cỗ nhất, Chúa Giê-su đã kể một dụ ngôn để giáo huấn việc liên quan đến các chỗ ngồi. “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời” (Lc 14,7). Tiệc cưới là khung cảnh của dụ ngôn. Ngược với khuynh hướng của đời người, Chúa Giê-su nhắc nhớ, khi được mời dùng tiệc cưới, đừng tự nhiên đi vào ngồi chỗ hạng nhất. Vì có nguy cơ là, chỗ nhất đó đã được dành cho người khác quan trọng hơn. Sách Châm Ngôn đã dạy tương tự: “Trước long nhan đừng lên mặt kiêu kỳ, chớ đứng vào chỗ của hàng vị vọng. Thà được người ta bảo: ‘Xin mời ông lên trên!’ còn hơn bị hạ xuống trước mặt người quyền cao chức trọng”(Cn 25,6-7).

Ngày hôm nay, đương nhiên chúng ta tránh điều đó. Đi dự tiệc cưới chúng ta cũng sẽ chờ đợi chủ nhà xếp chỗ chúng ta ngồi ở đâu. Đó cũng là điều tế nhị và lịch sự cần thiết. Tuy nhiên, ở đây Chúa Giê-su không chỉ “gói gọn” trong bữa tiệc, mà sứ điệp Chúa muốn nói là hãy tránh đừng đi tìm chỗ nhất, đừng tự động đi tìm danh vọng, vì nếu ngay từ đầu đã “cắm đầu cắm cổ” đi tìm những điều viễn vông đó, thì chúng ta sẽ nhận được một đoạn kết “xấu hổ” và thất bại. ”Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 14,11).

Trong một đoạn khác, Luca kể về dụ ngôn người thu thuế ăn năn và hạ mình đối diện với người Pha-ri-sêu tự cao tự đại. Câu cuối của dụ ngôn Chúa Giê-su nói cũng giống như câu trên: “Tôi nói cho các ông biết: người này (người thu thuế), khi trở xuống mà về nhà, thì đã được nên công chính rồi; còn người kia (người Pha-ri-sêu) thì không. Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18,14).

Tự cho mình là VIP trước Chúa, sẽ “được Chúa” mời xuống hàng chót.
Tự ý thức phận mình và khiêm tốn trước Chúa, sẽ được Chúa quan tâm và khen ngợi. Đó là sự khôn ngoan của con cái Chúa.

Sách Huấn Ca có đoạn nhắc nhớ những người làm lớn, nên khôn ngoan không tự cho mình là VIP và cũng không để người khác đưa mình vào cám dỗ trở nên người luôn kiêu hãnh ngẩng cao đầu, kể cả ngẩng cao đầu trước Chúa:
“Càng làm lớn, con càng phải tự hạ,
như thế, con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa.
Vì quyền năng Đức Chúa thì lớn lao:
Người được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường.
Đừng tìm những điều khó quá đối với con,
những điều vượt sức con, con đừng xét tới” (Hc 3,18.20-21).

“Kẻ kiêu ngạo lâm cảnh khốn cùng thì vô phương cứu chữa,
vì sự xấu xa đã ăn sâu mọc rễ trong nó” (Hc 3,28).

Vì thế, điều nên chú ý khi đi dự tiệc là “khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: Xin mời ông bạn lên trên cho. Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn”. Ở đây, Chúa Giê-su không chỉ nói về cách ứng xử khéo léo, mà Ngài nhắc nhớ bài học cần phải khiêm tốn, nhẹ nhàng, tránh đi tìm hư danh và chỗ nhất. Vinh dự của cuộc sống không hệ tại ở chỗ ngồi hạng nhất, mà ở tại chính tâm hồn của con người.

Nếu tập sống được tinh thần của Chúa dạy, sẽ tránh được cám dỗ đi tìm chỗ nhất, tránh được cám dỗ đi tìm danh vọng và quyền lực, tránh được thói kiêu căng tự mãn. Chúng ta là con người không thể tự đánh bóng cuộc đời mình trước Thiên Chúa, không thể tự làm cho mình được nổi danh trước Đấng Quyền Năng. Lời Chúa Giê-su dạy thật thấm thía biết bao: “Hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29). Mẫu gương sống của Chúa luôn sống động đối với mỗi người chúng ta: “Người đứng dậy, rời bàn ăn, cởi áo ngoài ra, và lấy khăn mà thắt lưng. Rồi Đức Giê-su đổ nước vào chậu, bắt đầu rửa chân cho các môn đệ và lấy khăn thắt lưng mà lau” (Ga 13,4-5). Sau đó Chúa đã nói lời dạy dỗ có giá trị ngàn đời: “Anh em có hiểu việc Thầy mới làm cho anh em không? Anh em gọi Thầy là “Thầy”, là “Chúa”, điều đó phải lắm, vì quả thật, Thầy là Thầy, là Chúa. Vậy, nếu Thầy là Chúa, là Thầy, mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau” (Ga 13,12-14).

Trước tấm gương quá tuyệt vời của Chúa Giê-su, thánh Phao-lô đã bắt chước và ngài cũng khuyên nhủ:
“Giữa anh em với nhau,
anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Ki-tô Giê-su:
Đức Giê-su Ki-tô
vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự”
 (Pl 2,5-8).

Lời của thánh Phao-lô đã cho chúng ta nhận ra một nét thật đặc biệt của Chúa Ki-tô: Ngài đã tự tháo cởi chữ VIP trên người và mặc lấy thân “nô lệ”, để đến với con người trong thân phận của con người, tất cả để phục vụ con người, chứ không phải để con người phục vụ Ngài; để nhận lấy chính cái nghèo nàn, bần cùng của con người và làm cho con người được trở nên giàu có trước mặt Thiên Chúa.

Con đường của Đức Ki-tô là vậy đấy!
Một con đường đi xuống của ĐẤNG QUAN TRỌNG NHẤT.
Con đường của Đức Ki-tô là vậy đấy!
Một con đường xây dựng sự nghiệp đi lên qua hiến dâng bản thân mình, để đi xuống phục vụ anh chị em bất hạnh và nghèo nàn.

Anh em Giê-su hữu chúng tôi thường nói với nhau: “Trách nhiệm của một tu sĩ Dòng Tên là phải ý thức xây dựng sự nghiệp, qua học vấn và tri thức với cả những bằng cấp cần thiết trong cuộc đời, qua việc trau dồi các khả năng Chúa ban được bao nhiêu tốt bấy nhiêu, qua việc không dừng bước nhưng luôn ý thức tiếp tục học hỏi và vươn lên hơn nữa (magis). Nhưng người tu sĩ Dòng Tên xây dựng sự nghiệp không phải để ‘ngẩng cao đầu’ bước lên bục cao với danh vọng và quyền lực, mà họ theo gương Chúa Giê-su, xây dựng sự nghiệp để cùng Chúa Giê-su đi xuống trong khiêm tốn và cùng Chúa phục vụ mọi người, đặc biệt những người nghèo hèn bất hạnh và những người thấp cổ bé miệng”.

Trong Linh Thao, thánh I-nhã chú ý đến ba bậc khiêm nhường. Bậc thứ ba là bước đi “trở nên khiêm nhường” theo gương Chúa Giê-su: “Nên giống Đức Ki-tô Chúa chúng ta cách hiện thực hơn, tôi muốn chọn sự nghèo khó với Đức Ki-tô nghèo khó hơn là sự giầu có, những sự nhục nhã với Đức Ki-tô chịu nhục nhã hơn là danh giá, và tôi ước ao bị coi như vô giá trị và điên dại vì Đức Ki-tô, Đấng đã bị coi như thế trước nhất, hơn được coi là thông thái và khôn ngoan ở trong thế gian này” (Sách Linh Thao số 167).

Thật vậy, các bậc thánh hiền luôn coi khiêm nhường là mẹ của các nhân đức. Thánh Tôma Aquino cũng nói: “Là một nhân đức đặc biệt, đức khiêm nhường liên hệ ở sự tuân phục của con người đối với Thiên Chúa, và vì Thiên Chúa, hạ mình vâng phục những người khác”.

Thánh Tê-rê-sa Avila thì khuyên nhủ các chị em trong tập sách Đường Hoàn Thiện: “Không có ‘bà hoàng’ nào có sức thắng vượt cho bằng đức khiêm nhường”. Thú vị hơn, khi thánh nữ nói trong tác phẩm Lâu Đài Nội Tâm: “Vì linh hồn thấy rõ nếu mình có điều chi tốt, thì cũng là một hồng ân Chúa ban, chứ mình chẳng có gì cả”, và “Nền tảng của cả lâu đài này là tâm tình khiêm nhường”.

Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII luôn chú ý đến nhân đức khiêm nhường, ngài đã viết trong Nhật Ký Tâm Hồn: “Tài năng trí nhớ là của Chúa ban. Tại sao lại buồn khi thấy mình kém hơn anh em. Chúa có thể cho ít hơn nữa kia. Thi cử, dĩ nhiên muốn thành công, đỗ cao. Nhưng khi đã làm xong phận vụ theo ý Chúa rồi, sự việc ra sao cũng vẫn được. Trong việc đạo đức, nhiều lúc cố gắng cầm trí để hầu chuyện với Chúa sao cho sốt sáng êm đềm, thế mà không được. Lòng cứng như đá, chia trí liên miên. Chúa như ẩn mặt. Đừng buồn đừng tức, chớ mất bình tĩnh trước cảnh yếu hèn đó. Hãy vui vẻ ôn hòa trong hoàn cảnh kể trên. Hãy tự an ủi rằng Chúa muốn như vậy. Trời mưa, trời nắng, trời lạnh, trời nóng, bề trên lớn, bề trên nhỏ quyết định thế này hay thế kia, tôi vẫn phải vui. Không nói lời chỉ trích kêu ca, công khai hay trong lòng. Trên môi bao giờ cũng nở nụ cười hồn nhiên và chân thành. Thành công không làm tôi mất tự chủ, thất bại không làm suy suyển tinh thần của tôi”. (Nkth. 1939).

Vị cha chung của chúng ta, Đức Thánh Cha Phanxicô, mục tử khiêm nhường và hy sinh cho đàn chiên, trong bài giảng ngày 02.7.2019 ở nhà nguyện Mác-ta đã diễn tả về hình ảnh người tông đồ của Chúa như sau: “Nếu người tông đồ, người sứ giả, hay một ai đó trong số chúng ta – ở đây có rất nhiều người được sai đi – hếch mũi lên, tin rằng mình trổi vượt hơn người hay tìm kiếm những lợi ích mang tính con người, thì sẽ chẳng thể giúp người khác mở lòng, vì lời của người ấy không có thẩm quyền. Người môn đệ sẽ chỉ có thẩm quyền nếu bước theo Chúa Kitô. Vậy nẻo đường của Chúa Kitô là gì? Nghèo khó. Một Thiên Chúa trở nên xác phàm! Bị giết hại! Bị lột áo! Nghèo khó đưa tới sự hiền lành và khiêm nhường. Chúa Giêsu khiêm nhường đi ra những nẻo đường để chữa lành. Và vì vậy, với thái độ nghèo khó, khiêm nhường, hiền lành này, người môn đệ có thể có thẩm quyền để nói: ‘Hãy ăn năn hoán cải’, để mở lòng…
Tất cả chúng ta cần phải được chữa lành, bởi vì tất cả chúng ta đều có những căn bệnh tâm linh. Nhưng tất cả chúng ta cũng có khả năng chữa lành cho người khác.
Xin Thiên Chúa ban cho chúng ta ân sủng chữa lành như Người đã thực hiện: với sự hiền lành, khiêm nhường, với sức mạnh chống lại tội lỗi, chống lại ma quỷ và tiến bước trong “công việc” chữa lành cho người khác: ‘Tôi chữa lành vết thương cho người khác và để chính mình được người khác chữa lành’. Đó chính là cộng đồng Kitô giáo”.

Kết thúc những tâm tình đơn sơ này, xin mời bạn cùng tôi hướng về Chúa Giê-su trên Thánh Giá. Chúng ta nhìn kìa:

Ngài đã tự tháo cởi chữ VIP trên người và mặc lấy thân “nô lệ”.
Đấng tự hủy mình đi trong khiêm nhường thẳm sâu đã đi đến chỗ bần cùng nhất, là đồng ý đón nhận cái chết trên thập tự.
Con đường của Đức Ki-tô là vậy đấy!
Một con đường đi xuống của ĐẤNG QUAN TRỌNG NHẤT.

Đứng trước Ngài chúng ta cùng tâm tình với Ngài:

“Ôi Đấng khôn ngoan, tự huỷ và khiêm nhường,
Đấng đã nói với chúng con lời thật đặc biệt:
‘Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống;
còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên’.
Xin cho chúng con luôn ý thức theo gương Chúa,
Luôn ý thức tập sống bắt chước Chúa và tinh thần của Chúa:
‘cúi xuống rửa chân cho anh em’
‘mặc lấy thân nô lệ’ và
‘mặc lấy chiếc áo hiền lành và khiêm nhường’ của Chúa,
chứ không đui mù đi tìm ‘chữ VIP’ của cuộc đời và
‘không gian VIP cho bản thân’. Amen”.

Chỗ cuối (01.9.2019 – Chúa nhật 22 Thường niên C)


Lời Chúa: (Lc 14,1.7-14)

1 Một ngày sabát kia, Ðức Giêsu đến nhà một ông thủ lãnh nhóm Pharisêu để dùng bữa: họ cố dò xét Người. 7 Người nhận thấy khách dự tiệc cứ chọn chỗ nhất mà ngồi, nên nói với họ dụ ngôn này: 8 “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào chỗ nhất, kẻo lỡ có nhân vật nào quan trọng hơn anh cũng được mời, 9 và rồi người đã mời cả anh lẫn nhân vật kia phải đến nói với anh rằng: “Xin ông nhường chỗ cho vị này”. Bấy giờ anh sẽ phải xấu hổ mà xuống ngồi chỗ cuối. 10 Trái lại, khi anh được mời, thì hãy vào ngồi chỗ cuối, để cho người đã mời anh phải đến nói: “Xin mời ông bạn lên trên cho”. Thế là anh sẽ được vinh dự trước mặt mọi người đồng bàn”. 11 Vì phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”.
12 Rồi Ðức Giêsu nói với kẻ đã mời Người rằng: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. 13 Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. 14 Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại”.

Suy Niệm

Phần lớn những cuộc tranh chấp ở đời
thường xoay quanh những chiếc ghế.
Lúc đầu, ghế tượng trưng cho chức vụ, chức năng.
Dần dần, nó tượng trưng cho chức quyền, chức tước.
Ai cũng thích ghế cao và bảo vệ ghế của mình.
Người Pharisêu thích ngồi ghế danh dự trong hội đường.
Giacôbê và Gioan thích ngồi hai bên tả hữu Thầy Giêsu.
Philatô cho đóng đinh Ðức Giêsu vô tội, vì ông sợ mất ghế.


Bài Tin Mừng hôm nay cho thấy các khách dự tiệc
cứ chọn ghế nhất mà ngồi.
Con người vẫn bị ám ảnh bởi những chiếc ghế.
Chiếu trên, chiếu dưới chẳng phải là chuyện xưa ở đình làng.
Ngày nay vẫn có những bạn trẻ
cố kiếm được mảnh bằng và chỗ làm lương cao
để ung dung hưởng thụ một chỗ đứng trong xã hội.


Người khiêm tốn không sợ chức vụ cao hay ghế nhất.
Chiếc ghế không phải là mục đích họ cần chiếm được,
nhưng là phương tiện để phục vụ mọi người.
Chức vụ cho họ cơ hội cúi xuống thật gần
với nỗi đau của nhân loại đang chờ họ giúp đỡ.
Người khiêm tốn không tự tìm vinh quang cho mình,
họ hồn nhiên vô tư để Thiên Chúa tự do định liệu.
Chúng ta dễ đánh giá người khác dựa trên ghế của họ.
Nhưng một người quét đường có lương tâm
còn giá trị hơn một giám đốc tham ô lãng phí.

Ðức Giêsu nói đến việc chọn khách để mời ăn.
Ngài khuyên nên mời những kẻ nghèo khó, tật nguyền,
hơn là mời những người ruột thịt, thân quen, giàu có.
Ngài đưa chúng ta vượt qua óc tính toán vụ lợi,
để đi vào thế giới của những người bất hạnh.
Chúng ta thường thích giao du với người có thế giá,
có học thức, có của cải, để dễ nhờ vả khi cần.
Chính vì thế xã hội vẫn còn nhiều người bị bỏ rơi,
vì nghèo túng, kém cỏi về mọi mặt.

Hãy ra khỏi thế giới quen thuộc của mình,
để đến với những người cần chúng ta hơn.
Bao trẻ em ở vùng xa cần giáo viên.
Bao bệnh viện ở các huyện cần bác sĩ.
Ước gì chúng ta hạnh phúc khi cho không tính toán
vì thấy mình đã nhận được gấp trăm điều mình cho.

Cầu Nguyện

Giữa một thế giới
chạy theo tiện nghi, hưởng thụ,
xin cho con biết bằng lòng với cuộc sống đơn sơ.

Giữa một thế giới còn nhiều người đói nghèo,
xin cho con đừng thu tích của cải.


Giữa một thế giới mà sự sống bị chà đạp,
xin cho con biết quý trọng phẩm giá từng người.

Giữa một thế giới không tìm thấy hướng sống,
xin cho con biết xây lại niềm tin.


Lạy Chúa Giêsu,
xin cho con cảm được
cơn đói đang giày vò bao người,
xin cho con nghe được lời mời của Chúa:
“Các con hãy cho họ ăn đi.”


Ước gì chúng con dám trao
tất cả những gì chúng con có cho Chúa,
để Chúa trao tất cả những gì Chúa có
cho chúng con và cho cả nhân loại.


Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.