5 thg 11, 2019

Từ bỏ hết (6.11.2019 – Thứ tư Tuần 31 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 14, 25-33

Một hôm, có rất đông người cùng đi đường với Ðức Giêsu. Người quay lại bảo họ: “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được. Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được. Quả thế, ai trong anh em muốn xây một cây tháp, mà trước tiên lại không ngồi xuống tính toán phí tổn, xem mình có đủ để hoàn thành không? Kẻo lỡ ra, đặt móng rồi mà không có khả năng làm xong, thì mọi người thấy vậy sẽ lên tiếng chê cười mà bảo: ‘Anh ta đã khởi công xây, mà chẳng có sức làm cho xong việc’. Hoặc có vua nào đi giao chiến với một vua khác, mà trước tiên lại không ngồi xuống bàn tính xem mình có thể đem một vạn quân ra, đương đầu với đối phương dẫn hai vạn quân tiến đánh mình chăng? Nếu không đủ sức, thì khi đối phương còn ở xa, ắt nhà vua đã phải sai sứ đi cầu hoà. Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được.”

Suy nim:

Sống là chấp nhận từ bỏ.
Có những điều xấu phải từ bỏ
như tật nghiện thuốc lá, ma tuý, rượu chè, trụy lạc…
Cũng có điều tốt phải bỏ, để chọn một điều tốt hơn:
chọn nghề, chọn trường, chọn chỗ làm, chọn bậc sống…

Từ bỏ thường làm ta sợ và tiếc.
Bỏ chiếc giường êm để thức dậy đi lễ sáng.
Tắt tivi vì đến giờ đọc kinh tối gia đình.
Dành Chúa Nhật để học giáo lý và làm việc xã hội.

Nếu từ bỏ vì yêu, ta sẽ thấy nhẹ hơn, dễ hơn.
Người mẹ thức trắng đêm để đan nốt chiếc áo cho con.
Người mẹ “là mẹ hơn” qua những hy sinh vất vả.
Từ bỏ vì yêu chẳng bao giờ thiệt thòi, mất mát.

Cuộc sống văn minh cho ta nhiều chọn lựa.
Con người dễ chọn cái tầm thường hơn cái cao cả,
chọn khoái lạc phù du hơn hạnh phúc vững bền,
chọn lợi ích cho cá nhân tôi hơn là cho tập thể.
Xem ra con người thích cái dễ dãi hơn.

Kitô hữu là người đã chọn theo Ðức Giêsu.
Làm môn đệ Ngài là chọn đi vào đường hẹp, cửa hẹp.
Ngài đòi ta đặt tất cả dưới Ngài, yêu Ngài trên mọi sự,
trên những người thân yêu, trên của cải tinh thần, vật chất,
trên mạng sống mình, trên cả hiện tại tương lai.
Những thụ tạo trên thật đáng trân trọng,
nhưng chúng chỉ có giá trị tương đối
khi sánh với Ðức Giêsu, Con Thiên Chúa làm người.

Kitô hữu là người sống từ bỏ như Ðức Giêsu.
Ngài đã bỏ vinh quang thần linh để làm người như ta,
đã sống và đã hiến mạng sống vì yêu Cha và nhân loại.
Từ bỏ là đi vào cửa hẹp cùng với Ðức Giêsu.

Phép Rửa đã cho chúng ta trở thành môn đệ Ðức Kitô.
Nhưng để  môn đệ đích thực của Ngài,
chúng ta cần từ bỏ mãi cho đến khi nhắm mắt.
Từ bỏ phải là thái độ nội tâm cần gìn giữ luôn.
Chúng ta dễ nghiêng như tháp Pisa.
Ðiều hôm nay chưa dính bén, mai đã thấy khó gỡ.
Ðiều đã bỏ từ lâu, nay lại bất ngờ hấp dẫn.
Từ bỏ điều tôi có, và cứ có thêm mỗi ngày
thật là một cuộc chiến lâu dài và gian khổ.

Chúng ta không được nửa vời, lừng khừng, thỏa hiệp.
Tháp đã bắt đầu xây, cuộc chiến đã khai mào.
Không còn là lúc ngồi xuống mà tính toán nữa.
Cần đầu tư để xây tháp, cần dồn sức để tiến quân.
Cần từ bỏ mọi vướng víu để tiếp tục trung tín.
Vẫn có những Kitô hữu chịu dở dang và bại trận,
vì họ không dám sống đến cùng ơn gọi làm môn đệ.

Từ bỏ là cách diễn tả một tình yêu.
Khi yêu người ta vui lòng từ bỏ tất cả.
Ước gì chúng ta vui khi gặp viên ngọc quý là Ðức Giêsu,
dám bán tất cả để thấy mình giàu có.

Cầu nguyn:

Lạy Chúa Giêsu,
sống cho Chúa thật là điều khó.
Thuộc về Chúa thật là một thách đố cho con.
Chúa đòi con cho Chúa tất cả
để chẳng có gì trong con lại không là của Chúa.

Chúa thích lấy đi những gì con cậy dựađể con thực sự tựa nương vào một mình Chúa.
Chúa thích cắt tỉa con khỏi những cái rườm rà
để cây đời con sinh thêm hoa trái.
Chúa cương quyết chinh phục con
cho đến khi con thuộc trọn về Chúa.

Xin cho con dám ra khỏi mình,ra khỏi những bận tâm và tính toán khôn ngoan
để sống theo những đòi hỏi bất ngờ của Chúa,
dù phải chịu mất mát và thua thiệt.

Ước gì con cảm nghiệm được rằngtrước khi con tập sống cho Chúa
và thuộc về Chúa
thì Chúa đã sống cho con
và thuộc về con từ lâu. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

4 thg 11, 2019

Xin kiếu (5.11.2019 – Thứ Ba Tuần 31 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 14, 15-24

Khi ấy, một trong những kẻ đồng bàn với Ðức Giêsu nói với Người: “Phúc thay ai được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa!” Người đáp: “Một người kia làm tiệc lớn và đã mời nhiều người. Ðến giờ tiệc, ông sai đầy tớ đi thưa với quan khách rằng: “Mời quý vị đến, cỗ bàn đã sẵn.” Bấy giờ mọi người nhất loạt bắt đầu xin kiếu. Người thứ nhất nói: “Tôi mới mua một thửa đất, cần phải đi thăm; cho tôi xin kiếu.” Người khác nói: “Tôi mới tậu năm cặp bò, tôi đi thử đây; cho tôi xin kiếu.” Người khác nói: “Tôi mới cưới vợ, nên không thể đến được.” Ðầy tớ ấy trở về, kể lại sự việc cho chủ. Bấy giờ chủ nhà nổi cơn thịnh nộ bảo người đầy tớ rằng: “Mau ra các nơi công cộng và đường phố trong thành, đưa các người nghèo khó, tàn tật, đui mù, què quặt vào đây.” Ðầy tớ nói: “Thưa ông, lệnh ông đã được thi hành mà vẫn còn chỗ.” Ông chủ bảo người đầy tớ: “Ra các nẻo đường, dọc theo bờ rào bờ giậu, ép người ta vào đầy nhà cho ta. Tôi nói cho các anh biết: Những khách đã được mời trước kia, không ai sẽ được dự tiệc của tôi.”

Suy nim:

Bài Tin Mừng hôm nay vẫn nằm trong bối cảnh của bữa tiệc
do một ông Pharisêu chức sắc mời Đức Giêsu vào ngày sabát (Lc 14, 1).
Những lời Ngài nói trong bữa tiệc đã đánh động một người cùng bàn.
Ông chia sẻ với Đức Giêsu về niềm hạnh phúc
của người được dự tiệc trong Nước Thiên Chúa (c. 15),
ở đó có mặt các tổ phụ và thiên hạ từ khắp tứ phương (Lc 13, 28-29).

Chính vì thế Đức Giêsu đã muốn kể một dụ ngôn về Nước Trời.
Nước Trời giống như một đại tiệc do một người khoản đãi.
Ông đã mời nhiều quan khách đến dự.
Khi đến giờ đãi tiệc, ông còn sai đầy tớ đi mời họ lần nữa.
“Mời quý vị đến, vì mọi sự đã sẵn sàng rồi” (c. 17).
Tiếc thay lời mời ấy, đại tiệc ấy, lại bị mọi người coi nhẹ.
Ai cũng có lý do để xin kiếu từ.
Kẻ thì kiếu vì cần phải đi xem miếng đất mới mua (c. 18).
Kẻ thì kiếu vì phải đi kiểm tra năm cặp bò mới tậu (c. 19).
Kẻ khác lại xin kiếu vì phải ở nhà với người vợ mới cưới (c. 20).
Có vẻ các lý do đưa ra đều có lý phần nào.
Nhưng thực sự chúng có phải là những lý do chính đáng
để từ chối đại tiệc mà mình đã được mời cách trân trọng hay không?

Vấn đề chỉ là chọn lựa.
Xem đất mới mua, xem bò mới tậu, ở nhà với vợ mới cưới,
những điều ấy hẳn cần thiết và quan trọng.
Nhưng có quan trọng bằng chuyện đi dự tiệc không?
Nếu đi dự tiệc để diễn tả sự hiệp thông của tình bạn
thì có thể hoãn các chuyện khác không, để chọn điều có giá trị hơn?

Chúng ta hiểu được sự nổi giận của ông chủ,
khi thấy bữa tiệc dành để khoản đãi các khách quý lại bị đổ vỡ.
Ông thấy chính mình bị xúc phạm, tình bạn bị coi thường.
Ông quyết định dành bữa tiệc này cho những ai không phải là khách quý,
những người thuộc giới hạ lưu, nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù (c. 21).
Và khi phòng tiệc vẫn còn chỗ trống, ông đã khẩn khoản lôi kéo vào
cả những người ở ngoài đường hay trong vườn nho (c. 23).
Cuối cùng, người được mời trước thì bị loại, vì họ tự loại chính họ (c. 24).
Còn những người có vẻ không xứng đáng lại được ngồi vào bàn.

Chẳng ai xứng đáng được dự bàn tiệc Nước Thiên Chúa
nếu Thiên Chúa không mời.
Nhưng chẳng ai bị loại trừ khỏi bàn tiệc cánh chung
nếu họ không cố ý từ chối lời mời đó.
Chẳng ai có thể tự cứu mình mà không cần đến Thiên Chúa,
nhưng con người có thể làm mình bị trầm luân mãi mãi
chỉ vì thái độ khép kín của mình trước ơn Chúa ban.

“Tôi xin kiếu”, đó là câu nói của nhiều người Kitô hữu hôm nay.
Chúng ta xin kiếu một cách quá dễ dàng,
chẳng để ý gì đến nỗi thất vọng và đau đớn của người đãi tiệc.
Lời mời của Thiên Chúa bị từ chối chỉ vì những chuyện không đâu.
Chuyện tất bật làm ăn, chuyện vui chơi giải trí, chuyện mời mọc của bạn bè.
Có nhiều chuyện thấy có vẻ quan trọng hơn, khẩn trương hơn,
đến nỗi có người bỏ tham dự thánh lễ Chúa Nhật.
Hãy chọn Thiên Chúa và biết quý những gì Ngài muốn ban cho ta.
Đại tiệc Thiên Chúa đã dọn sẵn rồi,
không chỉ ở đời sau, mà ngay ở đời này.
Ngài mong ta đến để dự tiệc, hay đúng hơn để chia sẻ một tình bạn.

Cầu nguyn:

Lạy Chúa Giêsu,
nhiều bạn trẻ đã không ngần ngại
chọn những cầu thủ bóng đá,
những tài tử điện ảnh
làm thần tượng cho đời mình.

Hôm nayChúa cũng muốn biết chúng con chọn ai,
và chúng con thật sự đắn đo
trước khi chọn Chúa.
Bởi chúng con biết rằngchọn Chúa là lội ngược dòng,
theo Chúa là bước vào con đường hẹp:
con đường nghèo khó và khiêm nhu,
con đường từ bỏ và phục vụ.

Hôm nay, chúng con chọn Chúakhông phải vì Chúa giàu có,
tài năng hay nổi tiếng,
nhưng vì Chúa là Thiên Chúa làm người.
Chẳng ai đáng chúng con yêu mến bằng Chúa.
Chẳng ai hoàn hảo như Chúa.

Ước gì chúng con can đảm chọn Chúanhiều lần trong ngày,
qua những chọn lựa nhỏ bé,
để Chúa chiếm lấy toàn bộ cuộc sống chúng con,
và để chúng con
thông hiệp vào toàn bộ cuộc sống của Chúa. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

3 thg 11, 2019

Đáp lễ (4.11.2019 – Thứ hai Tuần 31 Thường niên)


Lời Chúa: Lc 14, 12-14

Khi ấy Ðức Giêsu nói với kẻ đã mời Người rằng: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối, thì đừng kêu bạn bè, anh em, hay bà con, hoặc láng giềng giàu có, kẻo họ cũng mời lại ông, và như thế ông được đáp lễ rồi. Trái lại, khi ông đãi tiệc, hãy mời những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù. Họ không có gì đáp lễ, và như thế, ông mới thật có phúc: vì ông sẽ được đáp lễ trong ngày các kẻ lành sống lại”.

Suy nim:

“Bánh ít đi, bánh quy lại” hay “Có đi có lại mới toại lòng nhau”:
đó vẫn được coi là cách cư xử bình thường giữa người với người.
Hơn nữa ai làm như vậy còn được coi là người biết cách xử thế.

Trong bài Tin Mừng hôm nay,
Đức Giêsu mời ta vượt lên trên lối cư xử đó,
không ngừng lại ở chỗ tôi cho anh, để rồi anh cho tôi (do ut des).
Ngài dạy cho ông chủ tiệc biết nên mời ai và không nên mời ai.

Có bốn hạng người không nên mời dự tiệc:
bạn bè, anh em, bà con họ hàng, hay láng giềng giàu có.
Ngài đưa ra lý do: “kẻo họ mời lại ông, và ông được đáp lễ” (c.12).
Hơn nữa, Ngài còn nói đến bốn hạng người nên mời dự tiệc:
những người nghèo khó, tàn tật, què quặt, đui mù (c.13).
Đức Giêsu khuyên nên mời những hạng người này,
vì họ không có khả năng mời lại hay đáp lễ (c.14).

Như thế Đức Giêsu cho ta tiêu chuẩn để mời khách dự tiệc.
Không mời những người quen biết, thân thích, giàu sang,
để mời những người nghèo hèn, những kẻ chẳng được ai mời.
Qua đề nghị khó thực hiện này của Đức Giêsu,
Ngài đụng đến một khuynh hướng tự nhiên mà ít người để ý.

Đó là khi làm điều tốt cho ai
ta cũng mong được hoàn trả cách này cách khác.
Có khi mong được trả lại tương đương hay hậu hỹ hơn.
Có khi mong trả lại bằng một bia đá ghi công hay một lời tri ân đơn giản.
Nói chung để làm một hành vi hoàn toàn vô vị lợi là điều rất khó.
Chỉ ai thành thật đi vào lòng mình mới thấy mình ít khi cho không.

Đức Giêsu muốn hạn chế khuynh hướng này.
Ngài mời chúng ta ra khỏi thế giới của những người quen biết,
không kết thân với những người giàu có và thế lực,
để mong họ đem lại lợi nhuận hay làm ô dù cho ta.
Ngài đưa ta đến với những người nghèo và không có địa vị,
những người không có khả năng mời lại hay đáp lễ.

Có khi những người đó chẳng ở đâu xa.
Họ nằm ngay trong số bạn hữu, bà con, anh em, hay hàng xóm.
Khi mời họ dự tiệc, trân trọng họ như khách quý,
chúng ta làm sống lại những mối tương quan tưởng như không còn.

 Đức Giêsu mời ta thanh luyện ý hướng của mình khi làm điều tốt,
trở nên siêu thoát và từ bỏ những tìm kiếm tự nhiên quy về mình.
Bài Tin Mừng đơn sơ này có thể tạo một bước ngoặt trong đời Kitô hữu.
Chúng ta sẽ được nếm một mối phúc mới:
Phúc cho ai làm một việc tốt mà không được ai biết đến và đáp lễ.
Họ sẽ được Thiên Chúa “đáp lễ” trong ngày phục sinh (c. 14).

Cầu nguyn:

Lạy Ngôi Lời Thiên Chúa rất đáng mến,
xin dạy con biết sống quảng đại,
biết phụng sự Chúa cho xứng với uy linh Ngài,
biết cho đi mà không tính toán,
biết chiến đấu không ngại thương tích,
biết làm việc không tìm an nghỉ,
biết hiến thân mà không mong chờ phần thưởng nào
ngoài việc biết mình đã chu toàn Thánh Ý Chúa. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

“Yêu rồi làm” hay “làm rồi yêu”?


Một Giám mục Việt Nam đã chọn khẩu hiệu “yêu rồi làm”. Tại sao phải yêu rồi mới làm được? Hàng ngày chúng ta buộc phải làm nhiều việc bổn phận mặc dù chẳng có yêu thích gì! Nếu chờ cho tới khi yêu rồi mới làm thì chừng nào mới bắt tay vào việc?

Khẩu hiệu “yêu rồi làm” là của đức giám mục Phú Cường. Theo luật, thì chính ngài mới có thẩm quyền giải thích chính thức khẩu hiệu mà mình đã chọn. Tuy nhiên, bởi vì đây không phải chỉ là một châm ngôn do ngài sáng chế ra nhưng đã có từ lâu đời trong lịch sử Hội thánh cho nên tôi xin được góp ý dựa theo sự giải thích của truyền thống thần học.

Câu nói “yêu rồi làm” bắt nguồn từ đâu vậy?

Đây không phải là câu nói trích từ Kinh thánh nhưng là trích từ thánh Augustinô giám mục, khi chú giải thư thánh Gioan tông đồ. Thực ra, dịch cho hết ý của thánh Augustinô không phải là chuyện đơn giản. Nếu dịch là “yêu rồi làm” thì có thể gây hiểu lầm, ra như là muốn đối chọi với “làm rồi yêu”, với những hậu quả khá tai hại. Tôi nghĩ tới một phụ nữ Ấn độ đã phát biểu tại Thượng hội đồng giám mục bàn về hôn nhân và gia đình năm 1980. Chị ta nói rằng: “Bên Âu Mỹ người ta yêu nhau rồi mới lấy nhau; và rồi khi hết yêu thì đem nhau ra toà xin ly dị. Còn bên Á châu, thì chúng tôi lấy nhau trước rồi mới yêu nhau sau. Chính vì thế mà chúng tôi đã quen nhịn nhục chịu đựng khi gặp khó khăn trong cuộc sống vợ chồng”. Dĩ nhiên là thánh Augustinô không hề nghĩ đến chuyện này. Câu nói của ngài dài hơn: Dilige, et quod vis fac (Tractatus in epistulam Johannis 7,8), và xin tạm dịch như sau: “Yêu đi, và làm điều bạn muốn”, hoặc “Cứ yêu đi, rồi làm chi cũng được”.

Nhiều cô cậu cũng bênh vực cho thánh Augustinô “cứ yêu đi rồi làm chi cũng được”: họ ăn nằm với nhau bất cần giá thú. Thánh Augustinô có nghĩ đến điều đó không?

Dĩ nhiên, những nhận xét về cuộc sống chỉ có giá trị tương đối khi đặt trong mạch văn của nó, chứ không mang giá trị tuyệt đối như là công thức toán học. Vì thế mà nếu tách ra khỏi mạch văn thì có thể giải thích hoàn toàn trái ngược với chủ ý của người nói. Trên thực tế thì không phải chỉ có các cô cậu choai choai mới thích trưng dẫn câu nói của thánh Augustinô để biện minh cho thuyết tự do luyến ái. Chúng ta còn có thể kể ra nhiều trường hợp khác nữa. Chẳng hạn như có những bác sĩ viện dẫn câu nói đó để thi hành sự phá thai, (giết những trẻ em khuyết tật để cho chúng khỏi khổ và xã hội cũng đỡ gánh nặng). Và nói chung, rất nhiều người cũng nêu cao châm ngôn của thánh Augustinô để quảng cáo cho triết thuyết “sống thoải mái”, cốt sao để chiều theo cái khoái của mình là đủ, chứ không cần đếm xỉa tới luật lệ luân lý!

Thế còn thánh Augustinô muốn nói gì?

Chúng ta có thể hiểu câu nói của thánh Augustinô theo nhiều nghĩa khác nhau, đi từ khía cạnh tâm lý sang đến khía cạnh thần học. Bắt đầu là một nhận xét hợp tâm lý: khi đã yêu thích điều gì, thì ta sẽ thấy thích thú để thi hành cho dù công việc có cam go nặng nhọc mấy đi nữa. Khi bà mẹ yêu con thì bà không ngần ngại hy sinh vì con: không những bà sẵn sàng hy sinh giấc ngủ mà còn dám hy sinh cả mạng sống! Văn chương bình dân của chúng ta cũng đã nói: “Yêu nhau chẳng quản xa gần, mấy sông cũng lội mấy đèo cũng leo”.

Điều này quá rõ rồi, đâu có cần chờ thánh Augustinô nói thì ta mới biết được?

Như đã nói trên, cần đặt các câu nói trong mạch văn của nó thì mới hiểu đúng nghĩa. Câu nói “Yêu đi rồi làm chi cũng được” được trích từ những bài giảng số 8, chú giải chương 4 của thư thứ nhất thánh Gioan tông đồ, với những đoạn viết về tình yêu của Thiên Chúa: “Thiên Chúa là tình yêu. Ai ở trong tình yêu là ở trong Thiên Chúa”. Như vậy, đây là một tác phẩm thần học chứ không phải là thiên khảo luận tâm lý. Thực ra mạch văn gần của nó không phải là nhằm khảo luận về bản chất của tình yêu cho bằng giải thích động lực tình yêu thúc đẩy các hành động của chúng ta. Nói cách khác, thánh Augustinô lấy tình yêu để làm tiêu chuẩn đo lường giá trị luân lý của các hành vi. Tuy cùng làm một hành vi như nhau, nhưng nếu hành vi do động lực tình yêu thúc đẩy thì trở thành nhân đức, còn nếu không do tình yêu thúc đẩy thì trở thành xấu. Thánh Augustinô đưa ra một thí dụ trong công trình cứu độ, đó là việc trao nộp Đức Giêsu. Chúa Cha trao phó đức Giêsu và đức Giêsu trao hiến mình: cả hai đều do tình yêu thúc đẩy, vì thế mà mang lại giá trị cứu độ. Còn ông Giuđa cũng trao nộp đức Giêsu, nhưng do động lực bất chính vì thế mà bị coi là tội phản bội. Như vậy tuy cùng là một hành vi nhưng có hai giá trị khác nhau bởi vì do những động lực khác nhau thúc đẩy. Thánh Augustinô còn thêm một thí dụ khác nữa để làm sáng tỏ vấn đề, qua việc so sánh hành động của một người cha đánh đập con mình vì yêu thương muốn sửa dạy nó; và một người dưng thì lại vuốt ve thằng bé để dụ dỗ nó vào đường xấu. Thoạt tiên, chúng ta muốn trách người cha vì đã gây ra đau đớn cho đứa con, nhưng suy ra thì chúng ta cảm phục ông ta bởi vì ông nghiêm khắc với đứa con do lòng yêu thương nó. Ngược lại, kẻ dụ dỗ đứa nhỏ bằng đường mật vì muốn làm hại nó chứ không phải vì thương nó, thì là một hành vi xấu. Từ hai thí dụ kể trên thánh Augustinô đi tới kết luận như sau: “Bạn hãy yêu đi và rồi làm điều mà bạn muốn. Nếu bạn có thinh lặng thì hãy thinh lặng vì yêu; nếu bạn nói thì hãy nói vì yêu; nếu phải sửa sai thì hãy sửa vì yêu; nếu tha thì tha vì yêu. Tình yêu phải là gốc rễ trong lòng bạn, bởi vì từ gốc rễ này chỉ có thể có điều tốt mà thôi”.

Như vậy tình yêu mang lại giá trị luân lý cho các việc làm của chúng ta. Nhưng mà lúc nãy, cha có kể thí dụ một bác sĩ giết một bào thai khuyết tật vì yêu, không muốn cho nó phải khổ. Thế thì đâu có thể trách cứ ông được?

Như đã nói trên đây, các câu nhận xét về cuộc sống không có giá trị tuyệt đối như chân lý toán học. Cần phải lồng trong mạch văn của nó thì mới nhận thấy ý nghĩa và giá trị của nó. Trước đây tôi đã trưng dẫn vài tục ngữ bình dân cho thấy tình yêu mang lại sức mạnh giúp ta vượt thắng trở ngại. Nhưng đồng thời, tục ngữ bình dân cũng không thiếu những nhận xét về sự mù quáng của tình yêu, chẳng hạn như là “Yêu nhau chín bỏ làm mười”, hoặc là “Yêu nhau mọi việc chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”. Tạm coi đó như là điểm tích cực của tình yêu; nhưng rồi tình yêu có thể biến chuyển và vì thế sinh ra thái độ trái ngược, chẳng hạn như: “Yêu nên tốt ghét nên xấu”, hoặc “Thương nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau quả bồ hòn cũng méo”, “Yêu cho nhau ăn cháy, ghét nói nhau cạy nồi”.

Như vậy câu nói của thánh Augustinô chỉ có giá trị tương đối thôi phải không?

Tương đối hay tuyệt đối còn tùy theo ý nghĩa của tình yêu. Cần phải nghiên cứu những chiều kích khác nhau của tình yêu theo thần học của thánh Augustinô thì mới có thể khẳng định giá trị của câu nói: “Yêu đi rồi làm chi cũng được”. Thực ra, thánh Augustinô không thêm gì mới lạ vào giáo huấn của Tân ước. Trong Tân ước chúng ta gặp thấy nhiều đoạn văn trong đó tình yêu được đặt làm tiêu chuẩn phán đoán giá trị luân lý cho các hành vi của chúng ta. Chẳng hạn như khi Chúa Giêsu thâu gom tất cả các giới răn Thiên Chúa vào hai mối là: mến Chúa yêu người. Hoặc trong dụ ngôn về cảnh phán xét chung thẩm, ngài đã tính công phạt tội tùy theo mức độ mà chúng ta thi hành hay khước từ sự thương yêu dành cho tha nhân. Còn thánh Phaolô, trong chương 13 của thư thứ nhất gửi Côrintô đã nhấn mạnh rằng nếu ai thực hiện được tất cả mọi chuyện kinh thiên động địa mà không có thương yêu thì cũng chỉ là số không; trái lại, ai có tình yêu là có được tất cả. Thánh Augustinô thì sử dụng kiến thức tâm lý để phân biệt các loại tình yêu khác nhau. Triết học Hy-lạp đã nói tới hai thứ tình yêu rồi (eros và philia): một thứ tình yêu theo đam mê và một thứ tình yêu khách quan vô vị lợi. Tân ước thì thêm một cấp thứ ba nữa, đó là agape, tình yêu của chính Thiên Chúa trao ban. Thiên Chúa là agape, ai ở lại trong agape là ở lại trong Chúa; và khi đã ở trong Chúa thì không thể nào phạm tội được. Trái lại, tội chính là chống lại agape (1Ga 3,14).

Dựa theo các dữ kiện đó, mà thánh Augustinô đã trình bày nhiều loại tình yêu và nhiều cấp tình yêu. Không phải bất cứ tình yêu nào cũng đưa chúng ta lại gần Thiên Chúa, bởi vì có lắm thứ tình giả trá, những thứ tình chỉ nhằm thỏa mãn dục vọng ích kỷ chứ không đưa chúng ta đến kết hợp với Thiên Chúa. Tình yêu dẫn tới Thiên Chúa là tình yêu agape, tình yêu trao hiến, tình yêu ôm ấp cả kẻ thù địch bởi vì muốn hoạ lại tình yêu của chính Thiên Chúa. Để cho tình yêu không rơi vào cảnh mù quáng (yêu nên tốt, ghét nên xấu), thánh Augustinô và truyền thống thần học đã liên kết tình yêu với chân lý (nghĩa là sự thực), tình yêu chân chính, ngõ hầu không những loại trừ những thứ yêu thương giả dối mà còn hướng yêu thương đến chân lý khách quan. Chính trong viễn tượng đó mà “thương con cho roi cho vọt”: việc sử dụng roi vọt gây ra đau khổ cho con cái, nhưng đôi khi cha mẹ buộc lòng phải sử dụng vì muốn cho nó nên thân nên người; đang khi mà “cho ngọt cho bùi” thì lại có thể làm cho nó hư, chứ không phải là yêu thương thật tình.

Tóm lại: yêu rồi làm, hay làm rồi yêu?

Theo thói thường, có yêu thì mới làm. Tình yêu giúp cho việc làm trở nên dễ dàng thích thú. Tuy vậy, gặp những việc khó khăn ngại ngùng, thì chúng ta phải có can đảm đương đầu, và khi đã quen rồi thì sẽ thấy yêu. Nói đúng hơn, khi gặp những công tác khó khăn, chúng ta cần có một động lực tình yêu mạnh mẽ hơn; chứ sự hứng thú thường tình thì không đủ. Tình yêu mạnh mẽ ấy gọi là đức ái.

Lm. Giuse Phan Tấn Thành, O.P.

2 thg 11, 2019

Thánh Martin de Porres (1579-1639)


Thánh Martin de Porres
(1579-1639)

Thánh Martin sinh ngày 09 tháng 12 năm 1579 tại Peru, Lima. Ngài là đứa con bất hợp pháp của một nhà quý tộc Tây Ban Nha ở Lima, Peru và một phụ nữ Panama. Martin giống mẹ nên có nước da ngăm ngăm, và điều này làm cha ngài khó chịu, do đó mãi tám năm sau ông mới chịu nhận Martin là con. Sau khi sinh đứa thứ hai, ông bỏ rơi gia đình. Martin lớn lên trong cảnh nghèo nàn, thuộc giai cấp bần cùng của xã hội Lima.

Lúc 12 tuổi, mẹ ngài cho theo học nghề cắt tóc và giải phẫu, nên ngoài việc cắt tóc, ngài còn biết cách lấy máu (sự chữa trị rất phổ thông thời ấy), biết chăm sóc vết thương và biết chích thuốc.
Sau vài năm hành nghề, Martin xin vào dòng Ða Minh làm “người giúp việc,” vì ngài cảm thấy không xứng đáng để làm thầy dòng. Sau chín năm, gương mẫu đời sống cầu nguyện và hãm mình, bác ái và khiêm nhường của ngài khiến cộng đoàn phải yêu cầu ngài khấn trọn. Ngài cầu nguyện hằng đêm và sống khắc khổ; công việc hàng ngày của ngài là chăm sóc bệnh nhân và người nghèo. Ngài coi mọi người như nhau, bất kể mầu da, sắc tộc hay địa vị xã hội. Ngài là cột trụ trong việc thành lập cô nhi viện, chăm sóc người nô lệ từ Phi Châu và trông coi việc bố thí của nhà dòng. Ngài trở nên nổi tiếng trong nhà dòng cũng như ngoài thành phố, dù đó là vấn đề “chăn màn, quần áo, đèn nến, bánh kẹo, phép lạ hay lời cầu nguyện!” Khi nhà dòng bị nợ quá nhiều, ngài nói với cha bề trên, “Con chỉ là một đứa con lai nghèo hèn. Cha hãy bán con đi. Con là sở hữu của nhà dòng. Hãy bán con đi để trả nợ.”

Ngoài những công việc hàng ngày như nấu ăn, giặt giũ và chăm sóc bệnh nhân, Thiên Chúa còn ban cho ngài những ơn sủng đặc biệt: được xuất thần bay bổng trên không, căn phòng rực sáng khi ngài cầu nguyện, ơn lưỡng tại (ở hai nơi cùng một lúc), ơn hiểu biết cách lạ lùng, ơn chữa bệnh và chế ngự các thú vật cách tài tình. Lòng bác ái của ngài còn nới rộng đến các thú vật ở ngoài đồng hay chó mèo trong phố và ngay cả chuột bọ trong bếp.

Nhiều tu sĩ thời ấy coi ngài như vị linh hướng, nhưng ngài vẫn tự coi mình là “người nô lệ nghèo hèn.” Ngài còn là bạn của Thánh Rosa ở Lima. Ngài qua đời ngày 3 tháng 11 năm 1639. Tất cả dân chúng thành phố Lima, từ vị Phó vương đến những người ăn xin đều sững sốt và buồn bã khi nghe tin ngài từ trần.

Ngài được Đức Giáo Hoàng Pius IX tôn phong Chân Phúc năm 1873. Thủ tục phong thánh rất chậm chạp, mãi cho đến ngày 19 tháng 5 năm 1962 Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII mới tuyên phong thầy Martin lên hàng hiển thánh và là vị thánh da đen đầu tiên của Châu Mỹ, quan thầy của những người tranh đấu cho công bình xã hội.

Trong buổi lễ phong thánh (19/5/1962), Ðức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã có lời nhận xét về Thánh Martin như sau: “Ngài đã tha thứ lỗi lầm của người khác. Ngài đã quên đi những xúc phạm thật cay đắng, vì cho rằng ngài đáng phải phạt vì những tội lỗi của chính mình. Ngài cố gắng hết sức để đền bù các lỗi lầm ấy; ngài an ủi bệnh nhân một cách trìu mến; ngài cung cấp thực phẩm, quần áo và thuốc men cho người nghèo; ngài giúp đỡ các nông dân và người da đen, cũng như những người mang hai dòng máu mà thời ấy thường coi là nô lệ: do đó ngài xứng đáng với cái tên mà người ta thường gọi: ‘Martin Nhân Hậu.'”