13 thg 4, 2013

Tháng 03 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 3)


TUẦN 3
HY TẾ CỦA CHÚA GIÊSU

Khai triển nội dung

1. Cả cuộc đời của Chúa Giêsu là của lễ dâng hiến Chúa Cha. Ngay từ phút đầu tiên Người nhập thể, Chúa Con đã gắn bó với kế hoạch cứu độ của Chúa Cha: “Lạy Thiên Chúa, này con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,5); “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy và hoàn tất công trình của Ngài” (Ga 4,34). Sự gắn bó với kế hoạch yêu thương cứu chuộc của Chúa Cha đã truyền cảm hứng cho cả cuộc đời của Chúa Giêsu: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này! Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến” (Ga 12,27); “Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống” (Ga 18,11).

2. Khi gắn bó với tình yêu của Chúa Cha dành cho nhân loại, Chúa Giêsu đã “yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1), vì “không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Nhân tính của Chúa Giêsu đã trở thành dụng cụ tự do và hoàn hảo của tình yêu thần linh nơi Người, một tình yêu mong muốn cứu độ mọi người. Nghĩa là Chúa Giêsu hoàn toàn tự do khi chấp nhận cuộc khổ nạn và cái chết, vì tình yêu đối với Chúa Cha và vì tình yêu đối với nhân loại mà Người muốn cứu độ (x.Ga 10,18).

3. Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã thực hiện trước việc tự nguyện dâng hiến mạng sống của Người: “Đây là Mình Thầy, bị nộp vì anh em” (Lc 22,19); “Đây là Máu Thầy, Máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28). Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu thiết lập lúc đó sẽ là việc tưởng niệm hy tế của Người, đồng thời Người dạy các Tông Đồ phải lưu truyền việc dâng hiến này mãi mãi: “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Đức Kitô đã dâng hiến chính mình cho Chúa Cha như thế nào?

Thưa: Đức Kitô đã tự do dâng hiến tất cả đời sống cho Chúa Cha, để chu toàn ý định cứu độ của Ngài. Đức Kitô đã “hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45) (số 119).

Hỏi: Việc dâng hiến của Chúa Giêsu được diễn tả như thế nào trong Bữa Tiệc Ly?

Thưa: Trong Bữa Tiệc Ly với các Tông đồ vào buổi tối trước cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu vừa thiết lập bí tích Thánh Thể như việc tưởng nhớ hy tế của Chúa, vừa đặt các Tông đồ làm tư tế của Giao Ước mới (số 120).

Ý cầu nguyện:
Xin ơn biết kết hợp những đau khổ và hi sinh trong cuộc sống với hy tế của Chúa Giêsu trên thánh giá.

Tháng 03 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 2)


TUẦN 2
ĐỨC GIÊSU KITÔ,
ĐẤNG XÓA TỘI TRẦN GIAN

Khai triển nội dung

1. “Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Thánh Kinh” (1Cr 15,3). Thánh Phaolô tuyên xưng như thế, và ngài cho biết đó là lời tuyên xưng ngài đã “lãnh nhận” chứ không phải tự mình sáng chế. Thánh nhân còn viết thêm: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2Cr 5,21). Sự chết của Đức Kitô mang lại ơn cứu chuộc cho nhân loại. Sự chết ấy hoàn thành cách đặc biệt lời tiên tri về Người Tôi Tớ đau khổ trong sách Isaia mà chúng ta nghe vào Thứ Sáu Tuần Thánh hằng năm (53,7-8). Người Tôi Tớ ấy chịu đánh đập vì chúng ta, mang thương tích vì chúng ta. Nhờ Người mà chúng ta được chữa lành.

2. Thánh Gioan Tẩy giả đã giới thiệu Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian (Ga 1,29,36). Chúa Giêsu vừa là Người Tôi Tớ đau khổ, mang lấy tội lỗi muôn người, vừa là Chiên Vượt Qua, biểu tượng cho việc cứu chuộc Israel trong cuộc Vượt Qua đầu tiên (Xh 12,3-14). Cả cuộc đời Đức Kitô diễn tả sứ vụ của Người : phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người (Mc 10,45).

3.  Sự chết của Chúa Giêsu bày tỏ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa là kế hoạch của tình yêu lân mẫn, đi trước mọi công trạng của chúng ta: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,8); “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,10). Tình yêu ấy không loại trừ một ai như chính Chúa Giêsu khẳng định: “Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,14). Vì thế Hội Thánh dạy rằng: “Trước kia, hiện nay cũng như sau này, không có một ai mà Đức Kitô không chịu khổ nạn cho họ”.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Tại sao cái chết của Chúa Giêsu lại nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa?

Thưa: Để tất cả mọi người, là những kẻ đáng chết vì tội lỗi, được giao hòa với Ngài, Thiên Chúa đã khởi xướng một việc đầy yêu thương là sai Con của Ngài đến phó mình chịu chết vì những kẻ tội lỗi (số 118).

Hỏi: Cái chết của Chúa Giêsu đã được loan báo như thế nào?

Thưa: Cái chết của Chúa Giêsu đã được loan báo trong Cựu Ước, đặc biệt như hy tế của Người Tôi trung đau khổ, và cái chết ấy đã xảy ra “theo như lời Thánh Kinh” (số 118).

Ý cầu nguyện:
Xin ơn nhận biết tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện nơi Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh, để tình yêu ấy biến đổi chúng ta.

Tháng 03 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 1)

Chúng ta đã bước vào Mùa Chay. Vì thế chủ đề giáo lý của tháng 3/2013 là : TIN LÀ THEO CHÚA GIÊSU KITÔ TRONG MẦU NHIỆM KHỔ NẠN CỦA NGƯỜI.
Chúng ta cùng tìm hiểu chủ đề này trong 4 tuần lễ :
Tuần 1: Vụ án Chúa Giêsu.
Tuần 2: Chúa Giêsu Kitô, Đấng xóa tội trần gian.
Tuần 3: Hy tế tình yêu của Chúa.
Tuần 4: Hãy làm hòa cùng Thiên Chúa
                                                                    (Bí tích Giao Hòa).
                                            *****************************

TUẦN 1
VỤ ÁN CHÚA GIÊSU

Khai triển nội dung
1. Các nhà cầm quyền tôn giáo ở Giêrusalem đã không nhất trí với nhau về cách xử sự đối với Chúa Giêsu. Nhóm Pharisêu dọa khai trừ những ai đi theo Chúa. Có những người sợ rằng “mọi người sẽ tin vào ông Giêsu, rồi người Rôma sẽ đến phá hủy cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta” (Ga 11,48). Thượng tế Caipha đưa ra đề nghị: “Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11,50). Thượng Hội Đồng tuyên bố Chúa Giêsu đáng phải chết vì tội nói phạm thượng, nhưng vì đã mất quyền tuyên án tử hình, nên họ đã nộp Chúa Giêsu cho người Rôma và tố cáo Người về tội nổi loạn chính trị. Vì thế Chúa Giêsu bị xếp đồng hàng với Baraba là người bị tống ngục vì một vụ bạo động (Lc 23,19). Các thượng tế cũng đưa ra những lời đe dọa mang tính chính trị để buộc quan Philatô kết án tử hình Chúa Giêsu. 

2. Chúng ta không thể quy trách nhiệm cho mọi người Do Thái ở Giêrusalem lúc đó, càng không được mở rộng trách nhiệm đến những người Do Thái ở những nơi chốn và thời đại khác. Công Đồng Vaticanô II khẳng định rất rõ điều này: “Không thể nói rằng Thiên Chúa đã loại bỏ người Do Thái hoặc đã chúc dữ cho họ, coi đó như là điều được dạy trong Thánh Kinh” (Tuyên ngôn Nostra Aetate, số 4).

3. Khi suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô, Hội Thánh luôn nhắc nhở điều này: Các tội nhân là những tác giả và tác viên của mọi cực hình mà Đức Kitô đã phải chịu. Thánh Phanxicô Assisi kêu lên: “Ma quỷ cũng không đóng đinh Người vào thập giá, nhưng chính bạn cùng với chúng đã đóng đinh Người, và bạn vẫn còn đóng đinh Người bằng cách hưởng lạc thú trong các nết xấu và tội lỗi”.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Chúa Giêsu bị kết án vì những lời tố cáo nào?
Thưa: Một số thủ lãnh Israel đã tố cáo Chúa Giêsu chống lại Lề luật, chống lại Đền thờ Giêrusalem và nhất là chống lại niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất, vì Người tự xưng mình là Con Thiên Chúa. Chính vì thế, họ đã nộp Người cho quan Philatô, để Người bị kết án tử hình (số 113).

Hỏi: Ai chịu trách nhiệm về cái chết của Chúa Giêsu?
Thưa: Không thể quy trách nhiệm cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu một cách không phân biệt cho mọi người Do thái thời đó, cũng như con cháu họ sau này. Mỗi tội nhân, nghĩa là mọi người, thực sự là nguyên nhân và công cụ gây nên những đau khổ của Đấng Cứu Chuộc. Chịu trách nhiệm nặng nề hơn nữa là những người, nhất là các Kitô hữu, thường xuyên sa ngã phạm tội và ham thích những thói xấu (số 117).

Ý cầu nguyện:
Cầu cho mọi Kitô hữu biết “mặc lấy Chúa Giêsu Kitô và không chiều theo tính xác thịt” (Rm 13,14).

12 thg 4, 2013

THẮC MẮC VỀ TƯỚC ĐỨC ÔNG

Đức ông ( Monsignor) là một tước vị danh dự do Đức Thánh Cha ban theo đề nghị của các giám mục địa phương cho một số linh mục có công trạng trong việc phục vụ Giáo hội tại các giáo phận trên toàn thế giới, hoặc cho các linh mục nhân viên của Tòa Thánh làm việc trong các cơ quan trung ương tại Giáo triều Rôma hoặc trong các phái bộ ngoại giao của Tòa Thánh ở các quốc gia trên thế giới. Tước vị này thường được viết tắt là Mgr., Msgr.,hay Mons. và không phải là chức thánh trong Giáo hội. Đức Ông vẫn là một linh mục. Theo quyết định của Đức Thánh Cha, tên của các Đức Ông sẽ được ghi vào Niên Giám của Tòa Thánh (Annuario Pontificio). Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh sẽ gửi văn thư và văn bằng chính thức đến các Tòa Giám Mục để ấn định nghi thức trao văn bằng và phẩm phục cho các tân Đức Ông.
Trong một số quốc gia, người ta cũng còn dùng “Monsignor” để xưng hô với các Giám mục.
 Tước hiệu này đã có từ lâu trong Giáo Triều Rôma và theo thời gian cũng thay đổi nhiều với những cấp bậc, quyền lợi và trách vụ khác nhau.
Từ nguyên "Monsignor" của danh hiệu Đức Ông được xem là xuất phát từ danh xưng trong tiếng Pháp "mon seigneur". Danh xưng này xuất hiện đầu tiên vào thế kỷ thứ 14, vào thời kỳ Tòa Thánh đặt ở Avignon, Pháp (1309-1376), được dùng để gọi các vị luật sư trong Tòa án Công giáo. Những vị luật sư này tuy không thuộc hàng giáo phẩm của giáo hội, nhưng trong tòa án họ cũng đeo dây đỏ và mặc áo chùng thâm có nút áo đỏ giống như các giám mục.
Khi Tòa Thánh trở lại Roma vào năm 1377, người Ý bắt đầu dùng biến âm của danh xưng "mon seigneur" thành "monsignore" như một tước vị dùng cho các giáo sĩ phục vụ tại Giáo triều Rôma. Theo thời gian, tước vị này có nhiều thay đổi, với những khác biệt về cấp bậc, quyền lợi và trách vụ.
Trước cuộc cải tổ của Đức Thánh Cha Phaolô VI, có tới 14 cấp bậc khác nhau của tước hiệu Đức Ông.
Mãi đến ngày 28 tháng 3 năm 1968, Đức Giáo hoàng Phaolô VI ra sắc chỉ (Motu proprio) Pontificalis Domus  nhằm đơn giản hóa việc phân loại các tước vị Đức Ông. Theo đó, các tước vị Đức Ông rút xuống chỉ còn 3 bậc từ cao đến thấp như sau:
     1. Đệ Nhất Lục Sự của Tòa Thánh (tiếng Latin: Protonotarii Apostolicii). Cấp bậc này chia làm 2 bậc nhỏ hơn:
•           Chánh Lục Sự (de numero): đây là cấp bậc cao nhất của tước vị, chỉ được phong cho 7 vị giáo sĩ thành Roma.
•           Phó Lục Sự (supranumerarii): đây là cấp bậc cao nhất của tước vị có thể phong cho các giáo sĩ bên ngoài thành Roma.
    2. Giám Chức Danh dự của Đức Giáo hoàng (tiếng Latin Praelatos Honorarios Sanctitatis Suae).
        3. Tuyên úy của Đức Giáo hoàng (tiếng Latin Cappellanis Sanctitatis Suae).
Năm 1969, Phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh đã ra hướng dẫn quy định về phẩm phục dành cho tước vị Đức ông như sau:
•           Bậc Đệ Nhất Lục Sự của Tòa Thánh: Phẩm phục chung là áo chùng ĐEN dành cho giám mục, có nút và viền màu ĐỎ, đai (sash) TÍM, áo choàng tím, và mũ biretta màu ĐEN với búi màu ĐỎ.
•           Bậc Giám chức  Danh dự: Phẩm phục thường là áo chùng ĐEN dành cho giám mục, có nút và viền màu ĐỎ và đai TÍM. Trong các nghi thức phụng vụ trọng thể, phẩm phục là áo chùng TÍM có nút ĐỎ, viền ĐỎ và cổ tay áo ĐỎ.
•           Bậc Tuyên úy của Giáo hoàng: Phẩm phục là áo chùng ĐEN có nút và viền màu TÍM và đai TÍM trong tất cả các dịp. 

Tác giả:  Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Bích DCCT

7 thg 4, 2013

ĐỪNG CỨNG LÒNG NHƯNG HÃY TIN

"LẠY CHÚA LÀ THIÊN CHÚA CỦA CON"!
Tin Mừng   Ga 20,19-31
Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em!" Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tô-ma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em!" Rồi Người bảo ông Tô-ma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." Ông Tô-ma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" Đức Giê-su bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!" Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.

6 thg 4, 2013

Thứ Bảy Tuần Bát Nhật Phục Sinh

CHÚA VẪN HIỆN DIỆN
Bài Tin Mừng hôm nay như là một bài tóm kết cả một tuần lễ sau phục sinh, tường thuật nhiều biến cố lạ thường mà Chúa Kitô Phục Sinh đã làm nên:

- Chúa hiện ra với người phụ nữ tên là Maria Mađalêna, để từ nay, bà sẽ làm chứng cho ơn tha thứ mà Chúa dành cho bà thật ngoạn mục.
- Chúa hiện ra với hai môn đệ trên đường đi về làng Emau, để từ nay, họ lên đường dấn thân loan báo Tin Mừng Phục Sinh của Chúa.
- Chúa hiện ra với nhóm Mười Một để củng cố lòng tin của các ông. Từ nay, các ông sẽ là kẻ chinh phục tâm hồn con người và mở mang Nước Chúa, đế Nước Chúa ngày càng trải rộng mọi nơi, mọi chốn.
Ngày nay, Chúa vẫn hiện diện trong đời ta. Người thôi thúc ta lên đường dấn thân và phục vụ anh chị em đồng loại, nhân danh tình yêu của Chúa, hiến dâng lên Chúa, Đấng đã hiến mạng sống vì ta, tất cả sự nỗ lực của chính bản thân ta, để thế giới thắm đầy tình yêu cứu độ của Người.
Lạy Chúa, xin dạy con yêu Chúa để con luôn là chứng nhân cho Tin Mừng Phục Sinh của Chúa. Xin Chúa Phục Sinh tuôn tràn ơn Phục Sinh của Ngưới để chúng con luôn bước đi trong ánh sáng của Thiên Chúa là tình yêu. Amen.
Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG

5 thg 4, 2013


Biến cố chính được Giáo Hội tưởng nhớ và suy niệm cách đặc biệt trong Tuần Thánh là cuộc Thương khó của Chúa Giêsu – trong đó có việc Chúa Giêsu bị quan Philatô xét xử và kết án tử hình mặc dù (chính ông biết rằng) Ngài không có tội gì phải chết. 

Vẫn biết rằng việc Chúa xuống thế làm người và chịu chết cho nhân loại là một mầu nhiệm. Vẫn biết rằng trong ‘vụ án’ độc nhất vô nhị này có nhiều người liên can và bao hàm vô số tình tiết khác nhau, mang nhiều ý nghĩa khác nhau. Nhưng thiết nghĩ cũng nên đọc lại ‘vụ án’  lịch sử này để thấy rằng những phi lý, bất công của 2000 năm trước vẫn còn tiếp tục xảy ra.
Chuyện năm xưa
Trong quyển II của bộ sách ba tập mới nhất về ‘Chúa Giêsu thành Nazareth – Jesus of Nazareth’, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã dành hẳn một chương, Chương VIII, để đọc lại cũng như phân tích các đoạn Tin Mừng trần thuật về vụ án Chúa Giêsu.

Đức Thánh Cha chỉ ra rằng Chúa Giêsu bị đưa ra trước hai tòa án. Một là tòa án của Thượng Hội đồng Sanhedrin. Tại đây, sau cuộc tra hỏi, giới lãnh đạo Do thái, đứng đầu là thượng tế Caipha, quy kết Ngài mắc tội phạm thượng và vì thế phải chịu án tử hình.

Nhưng chỉ có người La Mã – lực lượng chiếm đóng lúc bấy giờ –  mới có quyền tuyên án tử. Như vậy, bây giờ họ phải đưa Chúa Giêsu ra trước tòa Philatô. Và để đưa Philatô vào cuộc, họ ‘phải nhấn mạnh chiều kích chính trị của bản án’. Đức Thánh Cha phân tích rằng khi tuyên bố mình là Đấng Mêsia, Chúa Giêsu đã để cập đến vương quyền. Và theo những người Do thái, khi đưa ra ‘yêu sách về vương quyền Mêsia là đã phạm vào tội chính trị, tội này phải bị Tòa án La Mã trừng trị’.

Như vậy, giới lãnh đạo Do thái đã đóng vai trò cáo buộc trong vụ án và đã dàn dựng một án tử hình đối với Chúa Giêsu với hai tội. Một là tội phạm thượng và phải bị xử tử. Hai là tội chính trị, có âm mưu chiếm đoạt vương quyền và tội này cũng phải chịu án tử vì đe dọa đến nền hòa bình của đế chế La Mã (Pax Romana).

Liên quan đến vai trò của Philatô – tổng trấn La Mã và người xét xử vụ án – Đức Thánh Cha phân tích, ‘dựa trên những thông tin ông có, Philatô thấy ông không thể buộc tội Chúa Giêsu được vì theo những gì giới chức trách La Mã biết Chúa Giêsu không gây một mối đe dọa nào đối với luật pháp và trật tự’.

Hơn nữa, theo Đức Thánh Cha, sau khi thẩm vấn Chúa Giêsu, Philatô càng hiểu rõ hơn rằng Chúa Giêsu không phải là nhà hoạt động chính trị gây phiến loạn và sứ điệp và những hoạt động của Ngài cũng không gây ra bất kì mối đe dọa nào đối với các nhà cai trị hay đế chế La Mã.

Một điều nữa về Philatô được ĐTC Bênêđictô chỉ ra là ông ta là người mê tín, có điều gì đó thực sự thiêng liêng nơi ông và vì vậy ông sợ sẽ phải đối đầu với quyền lực thần thánh nếu kết án Giêsu.

Đức Thánh Cha phân tích thêm rằng những người cáo buộc Chúa Giêsu cũng thấy được những mê tín, hoang mang, lo sợ ấy của Philatô. Vì vậy họ tím cách nhắc ‘Philatô đừng làm mất lòng hoàng đế nếu không muốn mất địa vị. Và nhờ đó họ đã lôi kéo được Philatô. Lời tuyên bố: ‘Nếu ông thả người này, ông không phải là bạn của Caesar’ (Ga 19, 12) quả là một mối đe dọa. Cuối cùng, mối lo lắng cho sự nghiệp mạnh hơn sự sợ hãi quyền năng của Thiên Chúa’.

Liên quan đến Chúa Giêsu, người bị xét xử, Đức Thánh Cha chỉ ra rằng chủ đề chính trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Philatô là vương quyền của Ngài, cũng là vương quyền và Nước của Thiên Chúa. ‘Vương quyền này được tập trung vào sự Thật’ và việc ‘khai mào cho vương quyền ấy sẽ đem lại cho con người sự tự do đích thực’.

Đức Thánh Cha cũng nêu bật rằng trong cuộc chất vấn đó, Chúa Giêu đã nói với Philatô nếu quyền lực, nhất là quyền lực quân sự, là đặc trưng của các vương quốc trần gian, thì vương quyền của Ngài không phải như vậy. Vương quyền của Ngài ‘không có thuộc hạ’, ‘không có ai chiến đấu’ và cũng ‘không gây bất kì đe dọa nào đối với sự ổn định của đế chế La Mã’.

Trái lại, Chúa Giêsu đến để sống kiếp người, tình nguyện sống với con người, chết cho con người, mang niềm vui đến cho người bất hạnh, nghèo đói và vương quốc mà Ngài loan báo và thiết lập là một vương quốc của tình yêu.

Đọc lại một vài chi tiết của vụ án ấy để thấy rằng thay vì làm sáng tỏ và bảo vệ sự thật, Thượng Hội đồng Sanhedrin lại xuyên tạc sự thật, vu cáo người vô tội. Họ làm vậy chỉ vì ghen tức Chúa Giêsu, chỉ vì họ muốn độc quyền nắm chân lý, chỉ vì không muốn nghe những lời chỉ trích của Ngài về lề luật hà khắc và thái độ, hành động giả dối của họ.

Riêng với Philatô, thay vì đón nhận sự thật, mạnh dạn bảo vệ công lý và biết tin vào quyền năng của Thiên Chúa, ông lại bị tham vọng quyền lực che khuất. Vì sợ mất quyền, mất địa vị ông đã kết án người vô tội, cho tử hình Đấng Mêsia.

Chuyện ngày hôm nay
Và trong suốt gần 2000 năm qua, ở những mức độ khác nhau, dưới nhiều hình thức, hoàn cảnh khác nhau, những vụ án, phiên tòa xét xử những người vô tội, nghèo khổ, cô thế, cô thân, những người dám mạnh dạn nói làm chứng cho sự thật, cho công lý vẫn luôn diễn ra.

Nhiều người phải rơi vào cảnh tù đày, thậm chí bị tử hình chỉ vì tiếng nói trung thực của họ làm những người đương thời, những người có chức, có quyền khó chịu. Họ bị xét xử, kết tội, hay chịu án tử chỉ vì những công tố viên, quan tòa thay vì làm chứng cho sự thật, bảo vệ công lý lại đi dàn dựng, vu cáo những người vô tội hay đứng về phía kẻ có quyền hoặc sợ mất quyền, địa vị của mình.

Trong lịch sử Giáo hội Việt Nam, có bao nhiêu người – trong đó có 117 Thánh Tử đạo Việt Nam – đã bị giết hại chỉ vì dám sống và làm chứng cho sự thật, cho Tin Mừng.

Trong thời gian gần đây ở Việt Nam cũng có nhiều vụ án ‘liên quan đến chính trị’ không chỉ được dư luận trong nước mà nhiều tổ chức quốc tế và lãnh đạo các quốc gia quan tâm. Trong đó có vụ án liên quan đến các thanh niên Công giáo và Tin lành.

Những thanh niên này phải chịu những bán án nặng về tội ‘tuyên truyền chống Nhà nước’ và tội ‘hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân’.
Với ‘tội lật đổ’ ấy, những thanh niên đó cũng bị quy kết một tội gần giống như ‘tội có âm mưu chiếm đoạt vương quyền’ mà Thượng Hội đồng Sanhedrin dàn dựng, tố cáo Chúa Giêsu năm xưa trước tòa Philatô.

Có thể nói, cũng giống như Chúa Giêsu, các bạn trẻ này không có quân đội, không có binh quyền làm sao có thể lật đổ được ai. Hơn nữa, họ cũng không gây một mối đe dọa nào đối với xã hội.
Trái lại, với những ai quen biết, tiếp xúc với các bạn trẻ này, họ là những người tích cực tham gia vào các hoạt động từ thiện, bác ái, như hiến máu nhân đạo, giúp trẻ mồ côi, nạn nhân thiên tai hay tìm kiếm và chôn cất chu đáo các thai nhi bỏ rơi.

Chẳng hạn, bài viết Khi các chàng trai làm mẹ, được đăng vào năm 2010 và vẫn còn lưu lại trên một vài trang mạng thuộc báo chính thống của Việt Nam như Thanh Niên, đã mô tả Trần Hữu Đức – một bạn trẻ bốn người bị kết án trong phiên tòa vào tháng 5 năm 2012 – và một số bạn bè của anh là ‘những sứ giả của tình yêu’. Vì ‘mới độ tuổi mười tám, đôi mươi, nhưng các chàng trai ấy đã làm bố, làm mẹ bất đắc dĩ của hàng chục cháu bé và hàng nghìn sinh linh xấu số không được sinh ra trên đời’.

Trong một bản nhận định hôm 28/08/2012, Ban Công lý và Hòa bình Giáo phận Vinh cũng nhấn mạnh rằng ‘tất cả các thanh niên bị bắt và xét xử đều là những sinh viên tốt’ và luôn ‘hăng say tham gia các hoạt động tích cực vì lợi ích của cộng đồng và xã hội’. Và cùng lúc nêu rõ rằng việc bắt giam, điều tra, kết tội, xét xử vụ án không chỉ vi phạm Hiến pháp Việt Nam mà còn đi ngược với các Công ước Quốc tế về nhân quyền mà Việt Nam đã ký kết.

Và sau bản án nặng dành cho những bạn trẻ ấy trong phiên tòa tại Vinh hôm 08/01/2013, Ban Công lý và Hòa bình Giáo phận Vinh đã chính thức ‘phản đối bản án phi pháp và bất công’ đối với những thanh niên đó.
Nhiều cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, một số quốc gia khác cũng lên tiếng chỉ trích những bản án bất công, phi lý ấy.
Việc những người vô tội phải đối diện với những bản án bất công, phi lý, phi pháp đó cho thấy ‘chuyện’ của 2000 năm trước vẫn còn diễn ra trong thế giới, xã hội ngày hôm này. Và chừng nào vẫn còn những phiên tòa, bản án như vậy, chừng đó trong xã hội vẫn còn có bi kịch.

Hoa trái của hy sinh
Nhưng những án tù nặng hay án tử đó cũng không thể dập tắt hay tiêu diệt được ý chí, niềm tin của những ai đã xác quyết và dám can đảm sống cho sự thật, cho tình yêu tha nhân, đồng loại. Hơn nữa, chính những cực hình, nhục nhã họ phải chịu lại mang lại nhiều hoa trái thiêng liêng, niềm hy vọng cho người khác.

Khi phân tích về vụ án Chúa Giêsu, Đức Thánh Cha Bênêđictô nhấn mạnh rằng chính ‘trong nỗi thống khổ tột cùng của cuộc Thương khó, Chúa Giêsu trở thành hình ảnh của niềm hi vọng: Thiên Chúa ở bên những người đang chịu đau khổ’.

Nhờ Đức tin sắt đá, nhờ những chứng nhân anh dũng của bao bậc tiền nhân – trong đó có 117 vị Thánh Tử đạo – Tin Mừng mới được được bén rễ, loan tỏa và ăn sâu tại Việt Nam.

‘Vì’ 13 năm tù giam và đặc biệt những gì Đức cố Hồng y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận cảm nhận và sống trong những ngày lao tù biệt lập, khổ cực ấy, Đức Hồng y đã được cả thế giới cảm phục và được Giáo hội kính trọng, tôn vinh. Không chỉ thế, Đức Hồng y đã trở thành một gương sáng, một Chứng nhân hy vọng cho các tín hữu trên khắp thế giới, cho những ai yêu mến công lý, hòa bình.

Về phương diện xã hội, một cách nào đó, có thể nói những hy sinh của các thanh niên Công giáo và Tin lành cũng đang góp phần xây dựng một Việt Nam dân chủ, công bằng, bác ái, tốt đẹp hơn. Xã hội Việt Nam sẽ không có những thay đổi tích cực nếu không có những người dám mạnh dạn lên tiếng cho công lý, cho sự thật.

Nam Phi không thể loại bỏ chế độ phân biệt chủng tộc nếu không có một Nelson Mandela – người đã bị tù đày suốt 27 năm. Người dân Miến Điện chắc cũng không được tự do nếu không có một Aung San Suu Kyi biết hy sinh, thậm chí bỏ gạt bỏ những quyền lợi và tình cảm riêng tư để tranh đấu tự do cho dân tộc của mình.

Phải chăng khi tưởng nhớ, suy niệm về cuộc Thương khó của Chúa Giêsu, Giáo hội và con cái mình cũng được mời gọi nhớ đến những người vô tội đang bị bắt bớ, giam cầm, tù đày và cầu nguyện để công lý được thực thi, tôn trọng?

Phải chăng bằng chính cuộc Khổ nạn và Phục sinh của mình, Chúa Giêsu muốn những ai đang bị bách hại vì sự thật, vì lẽ công chính thấy rằng ngay trong những lúc cùng cực nhất, cô độc nhất Ngài vẫn ở với họ, nâng đỡ họ cũng như mời gọi họ biết ‘chết’ để cùng được ‘sống lại’ với Ngài?

Đoàn Xuân Lộc