Hiển thị các bài đăng có nhãn Năm Đức Tin. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Năm Đức Tin. Hiển thị tất cả bài đăng

13 thg 4, 2013

Tháng 04 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 4)


TUẦN 4
GẶP GỠ ĐỨC KITÔ PHỤC SINH
Khai triển nội dung 

1. Đức Kitô Phục Sinh đang hiện diện trong Hội Thánh của Người dưới nhiều hình thức : trong Lời của Người, trong kinh nguyện của Hội Thánh, nơi người nghèo và người đau khổ…Nhưng đặc biệt nhất là Người hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Nơi bí tích này, Đức Kitô Phục Sinh hiện diện cách độc nhất vô nhị : Mình và Máu Người cùng với thần tính và linh hồn của Chúa chúng ta hiện diện cách đích thực, thật sự, và theo bản thể. Người hiện diện nhờ sự biến đổi bánh và rượu thành Mình và Máu Người. Truyền thống Hội Thánh khẳng định cách mạnh mẽ niềm tin vào hiệu lực của lời Đức Kitô trong tác động của Chúa Thánh Thần: “Này là Mình Thầy… Này là Máu Thầy”. Thánh Cyrillô nói: “Bạn đừng hồ nghi điều này có thật hay không, nhưng tốt hơn nên đón nhận bằng đức tin các lời của Đấng Cứu độ, bởi vì Người là chân lý, Người không lừa dối bao giờ”.

2. Trong phụng vụ Thánh Lễ, chúng ta bày tỏ đức tin vào sự hiện diện thật sự của Đức Kitô bằng nhiều cách, như bái gối hay cúi mình sâu để tỏ dấu tôn thờ. Hơn nữa, Hội Thánh còn tôn thờ Thánh Thể không những trong mà cả ngoài Thánh Lễ, bằng cách giữ gìn Mình Thánh Chúa hết sức cẩn thận, qua việc chầu Thánh Thể hoặc rước kiệu Thánh Thể.

3. Chúng ta nên xét mình về thái độ của mình khi bước vào nhà thờ, khi tham dự Thánh Lễ. Thái độ ấy có thật sự thể hiện đức tin vào sự hiện diện của Chúa trong bí tích Thánh Thể hay không. Đồng thời hãy siêng năng đến gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh trong bí tích cao trọng này: “Chúa Giêsu đang chờ đợi chúng ta trong bí tích tình yêu này. Đừng từ chối thời gian đến gặp Người để tôn thờ, để chiêm ngắm trong đức tin, và sẵn sàng đền tạ những tội lỗi và tội ác nặng nề của trần gian. Chúng ta hãy không ngừng tôn thờ Thánh Thể” (Chân phước Gioan Phaolô II).

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Chúa Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể thế nào?
Thưa: Chúa Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể cách độc nhất vô nhị và không gì so sánh được, vì Người hiện diện với Mình và Máu, với linh hồn và thần tính của Người (số 282).

Hỏi: Phải tôn thờ bí tích Thánh Thể thế nào?
Thưa: Đó là sự tôn thờ chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa. Chúng ta làm việc tôn thờ này khi tham dự Thánh Lễ, khi chầu Mình Thánh Chúa và khi rước kiệu Thánh Thể (số 286).

Ý cầu nguyện:
Xin Chúa ở lại với chúng con vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn.

Tháng 04 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 3)


TUẦN 3
PHỤC SINH VÀ TÔN VINH

Khai triển nội dung
1. Thân thể Đức Kitô đã được vinh hiển ngay khi Người sống lại. Điều này được thể hiện qua những đặc tính siêu phàm nơi thân thể Đấng Phục Sinh : Người có mặt ở nhiều nơi một lúc, Người vào nhà khi cửa đóng kín (x. Lc24,31;Ga 20,19.26). Tuy nhiên trong 40 ngày sau Phục Sinh, vinh quang của Người vẫn còn bị che giấu dưới những nét của nhân tính thông thường (x. Mc 16,12; Lc 24,15). Trong lần hiện ra cuối cùng, nhân tính của Chúa Giêsu tiến vào vinh quang thần linh cách vĩnh viễn; vinh quang này được tượng trưng bằng đám mây và trời, nơi từ nay Người ngự bên hữu Thiên Chúa (x. Cv 1,9; Lc 24,51).

2. Chỉ có Đấng “từ Chúa Cha mà đến” mới có thể “trở về cùng Chúa Cha”, đó là Đức Kitô: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13). Bằng tự sức mình, nhân loại không thể vào được “Nhà Cha” (x.Ga 14,2), không thể đạt tới sự sống và vinh phúc của Thiên Chúa. Chỉ có Đức Kitô mới có thể mở lối cho con người tiến vào, như chúng ta đọc trong Kinh Tiền Tụng Lễ Thăng Thiên: “Người lên trời không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của chúng con, nhưng để chúng con là những chi thể của Người, tin tưởng được theo Người đến nơi mà chính Người là Đầu và là Thủ Lãnh của chúng con đã đến trước”

3. Được đưa lên trời và được tôn vinh sau khi chu toàn sứ vụ, Đức Kitô vẫn hiện diện nơi trần thế trong Hội Thánh của Người. Công trình cứu chuộc là nguồn mạch của quyền bính mà Đức Kitô thực thi trong Hội Thánh bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần. “Nước của Đức Kitô đã hiện diện cách mầu nhiệm” trong Hội Thánh. Hội Thánh là “hạt giống và điểm khởi đầu của Nước Trời nơi trần thế” (Hiến chế Lumen Gentium, số 3 & 5).

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Những gì đã xảy ra sau khi Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết?
Thưa: Trong vòng bốn mươi ngày, Chúa Giêsu đã hiện ra với các tông đồ dưới hình dạng con người bình thường, che giấu vinh quang của Đấng Phục Sinh, sau đó Người lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa Cha (số 132).

Hỏi: Sự thăng thiên của Chúa Giêsu có ý nghĩa gì?
Thưa: Chúa Giêsu lên trời, ngự trị trong vinh quang vĩnh cửu của Con Thiên Chúa, và không ngừng chuyển cầu cho chúng ta trước tòa Chúa. Người cử Thánh Thần của Người đến với chúng ta, và ban cho chúng ta niềm hi vọng một ngày kia sẽ được theo Người, đến nơi Người đã dọn sẵn cho chúng ta (số 132).

Ý cầu nguyện:
Xin cho người Kitô hữu biết gắn bó với những giá trị Nước Trời và góp phần lành mạnh hóa đời sống xã hội.

Tháng 04 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 2)

TUẦN 2
Ý NGHĨA CỦA MẦU NHIỆM PHỤC SINH

Khai triển nội dung
1. Sự phục sinh của Đức Kitô có tầm mức hết sức quan trọng vì “Nếu Đức Kitô không sống lại, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cr 15,14). Do đó sự phục sinh của Chúa là chân lý trung tâm và nền tảng của đức tin Kitô giáo. Chân lý ấy đã được Thánh Kinh Tân Ước xác lập, được lưu truyền trong Truyền thống các Tông Đồ, và được rao giảng cho muôn thế hệ. Sở dĩ chân lý ấy có tầm quan trọng đặc biệt là vì nhiều lý do.

2. Sự Phục sinh của Đức Kitô hoàn tất những lời hứa của Thiên Chúa trong Cựu Ước, cũng như lời hứa của chính Chúa Giêsu trong cuộc sống trần thế của Người. Sự phục sinh ấy xác nhận thần tính của Chúa Giêsu: Người thật sự là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa “Khi các ông giương cao Con Người lên, các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,28). Do đó, lời giảng dạy và giáo huấn của Người là chân lý của Thiên Chúa, chân lý tuyệt đối, chân lý ban tặng sự sống đích thực và vững bền.

3. Sự Phục sinh của Đức Kitô mở đường cho chúng ta vào đời sống mới, đời sống trong ân sủng của Thiên Chúa, đời sống của những nghĩa tử của Thiên Chúa. Chúng ta được trở thành anh em của Đức Kitô, không phải do bản tính, nhưng do hồng ân của ân sủng Thiên Chúa ban trong Đức Kitô Phục Sinh. Chính vì thế, Hội Thánh cử hành bí tích Rửa Tội cho các dự tòng vào Đêm Vọng Phục Sinh, và nghi thức rửa tội diễn tả ý nghĩa này thật phong phú.
Cuối cùng, sự Phục sinh của Đức Kitô là nguyên lý và nguồn mạch cho sự sống lại của chúng ta : “Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu… Như mọi người đã liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống” (1Cr 15,20-22).

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Sự Phục sinh của Chúa Giêsu có ý nghĩa gì đối với đức tin của chúng ta?
Thưa: Phục Sinh là chóp đỉnh của mầu nhiệm Nhập Thể, xác nhận thần tính của Đức Kitô, cũng như tất cả những gì Người đã làm và đã giảng dạy (số 131).

Hỏi: Sự Phục sinh của Chúa có ảnh hưởng nào đối với ơn cứu độ?
Thưa: Sự Phục sinh của Chúa đã hoàn thành tất cả các lời Thiên Chúa hứa vì lợi ích của chúng ta. Hơn nữa, Đấng Phục Sinh là nguyên lý cho việc công chính hóa và sự phục sinh của chúng ta. Ngay từ bây giờ, Phục Sinh mang lại cho chúng ta ơn được làm nghĩa tử của Thiên Chúa, được tham dự vào sự sống của Người Con Một, Đấng sẽ làm cho thân xác chúng ta được sống lại vào ngày tận thế (số 131).

Ý cầu nguyện:
Cầu cho anh chị em tân tòng được mạnh mẽ và kiên vững trong đời sống mới.

Tháng 04 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 1)

Tháng 4/2013 là tháng mừng kính mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Kitô. Đây là thời gian thuận tiện nhất để tìm hiểu và sống mầu nhiệm Phục Sinh.
Chủ đề của tháng là: ĐỨC KITÔ ĐÃ SỐNG LẠI THẬT, ALLELUIA!
Chúng ta cùng tìm hiểu chủ đề này qua 4 tuần lễ:
Tuần 1: Sự kiện Phục Sinh.
Tuần 2: Ý nghĩa của mầu nhiệm Phục Sinh.
Tuần 3: Phục Sinh và Tôn vinh.
Tuần 4: Gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh
(Bí tích Thánh Thể).
*********************************************
TUẦN 1
SỰ KIỆN PHỤC SINH
Khai triển nội dung
1. Sự phục sinh của Đức Kitô là một biến cố có thật, với những cuộc tỏ hiện đã được kiểm chứng trong lịch sử. Trước hết là sự kiện ngôi mộ trống. Ở tự nó, ngôi mộ trống chưa phải là bằng chứng trực tiếp cho việc Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, vì người ta có thể đưa ra những cách giải thích khác (x. Ga 20,13; Mt 28,11-15). Dù vậy, ngôi mộ trống vẫn là dấu chỉ căn bản đối với mọi người, là bước đầu dẫn các môn đệ Chúa Giêsu đến chỗ nhìn nhận Người đã sống lại: “Ông đã thấy và đã tin” (Ga 20,8).

2. Cùng với ngôi mộ trống là những lần Đấng Phục Sinh hiện đến với các môn đệ. Bà Maria Mađalêna và các phụ nữ thánh thiện là những người đầu tiên được gặp Đấng Phục Sinh (Mt 28,9-10; Ga Ga 20,11-18). Sau đó Chúa Giêsu hiện ra với các Tông Đồ, trước hết là Phêrô, rồi cả Nhóm Mười Hai (x. 1Cr 15,5). Thánh Phaolô còn nói đến hơn năm trăm người đã được Chúa Giêsu hiện ra một lượt, rồi với ông Giacôbê và với tất cả các Tông Đồ (x. 1Cr 15,4-8). Với tư cách là chứng nhân của Đấng Phục Sinh, các Tông Đồ mãi mãi là những tảng đá nền móng của Hội Thánh. Đức tin của cộng đoàn tín hữu tiên khởi cũng như của chúng ta ngày nay được xây dựng trên lời chứng của các Tông Đồ.

3. Đức Kitô phục sinh không có nghĩa là Người trở lại với cuộc sống trần thế, như trường hợp Lazarô, con trai bà góa Naim hay con gái ông Giairô. Sự phục sinh của Đức Kitô hoàn toàn khác. Người chuyển từ trạng thái của con người tự nhiên phải chết sang một sự sống khác vượt trên thời gian và không gian. Thân thể của Đức Kitô Phục Sinh đầy tràn quyền năng của Thánh Thần, thân thể vinh quang, thuộc thiên giới (1Cr 15,35-50). Vì thế, sự phục sinh của Đức Kitô vừa là một biến cố lịch sử vì đã thật sự xảy ra trong thời gian, vừa là một biến cố siêu việt vì vượt lên trên lịch sử.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Sự phục sinh của Chúa Giêsu có vị trí nào trong đức tin của chúng ta?
Thưa: Phục Sinh là chân lý cao cả nhất của đức tin Kitô giáo. Cùng với thập giá, sự phục sinh của Chúa là thành phần thiết yếu của Mầu nhiệm Vượt Qua (số 126).

Hỏi: Những dấu chỉ nào làm chứng cho sự phục sinh của Chúa Giêsu?
Thưa: Ngoài dấu chỉ chính yếu là ngôi mộ trống, sự phục sinh của Chúa còn được làm chứng bởi các Tông Đồ và những người đã được gặp gỡ Đấng Phục Sinh. Các Tông Đồ đã không thể bày đặt ra chuyện Phục Sinh, vì đối với các ngài, Phục Sinh là chuyện không thể xảy ra. Chính Chúa Giêsu đã trách cứ sự cứng lòng tin của các ngài (số 127).

Ý cầu nguyện:
Xin ơn vững tin vào sự phục sinh của Chúa để cảm nghiệm bình an và niềm vui trong mọi hoàn cảnh.

Tháng 03 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 4)


TUẦN 4
 HÃY LÀM HÒA CÙNG THIÊN CHÚA

Khai triển nội dung

1. Chúa Giêsu kêu gọi hối cải: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Lời kêu gọi này trước hết hướng đến những người chưa biết Đức Kitô và Tin Mừng của Người. Cho nên bí tích Rửa Tội chiếm vị trí đầu tiên và căn bản của việc hối cải. Tuy nhiên lời kêu gọi hối cải vẫn tiếp tục vang lên trong đời sống Kitô hữu, gọi là cuộc hối cải thứ hai. Thánh Ambrôsiô diễn tả cách cụ thể như sau: “Hội Thánh có nước và nước mắt, nước của bí tích Rửa Tội, và nước mắt của bí tích Giao Hòa”. Nỗ lực hối cải này không chỉ là việc của con người, nhưng đúng hơn là hành động của một “tâm hồn tan nát” được ân sủng thúc đẩy để đáp lại tình yêu thương xót của Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta trước.

2. Có thể chiêm ngắm cuộc hối cải của thánh Phêrô sau khi chối Thầy ba lần, để thấy được ý nghĩa đích thực của cuộc hối cải thứ hai này. Cái nhìn của Chúa Giêsu, cái nhìn tràn ngập lòng thương xót của Chúa đã khiến Phêrô ăn năn khóc lóc. Sau khi Chúa sống lại, thánh nhân đã ba lần tuyên xưng tình yêu của ông đối với Người (Ga 21,15-17). Cuộc hối cải thứ hai cũng mang chiều kích cộng đoàn : toàn thể Hội Thánh được mời gọi “hãy hối cải” (Kh 2,5.16).

3. Đức Kitô đã thiết lập bí tích Giao Hòa (bí tích Giải Tội, Thống Hối) cho tất cả các chi thể trong Hội Thánh của Người. Sau khi chịu Phép Rửa, chúng ta vẫn có thể phạm tội trọng, và như thế, đánh mất ân sủng Phép Rửa và làm tổn thương đến sự hiệp thông của Hội Thánh. Bí tích Giao Hòa ban cho chúng ta cơ hội mới để hối cải và tìm lại được ơn công chính hóa. Bí tích này gồm hai yếu tố chính: một là sự hối cải của con người dưới tác động của Chúa Thánh Thần: thống hối, thú tội, đền tội; hai là hành động tha thứ của Thiên Chúa qua sự can thiệp của Hội Thánh. Nội dung này được trình bày cách đầy đủ trong công thức giải tội.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Những người đã chịu Phép Rửa có cần phải hối cải không?
Thưa: Lời kêu gọi hối cải của Đức Kitô luôn vang vọng trong đời sống những người đã lãnh bí tích Rửa Tội. Việc hối cải này là cuộc chiến đấu liên tục của toàn thể Hội Thánh, vì tuy Hội Thánh có đặc điểm là thánh thiện nhưng lại bao gồm những tội nhân (số 299).

Hỏi: Hối nhân phải có những hành vi nào khi lãnh bí tích Giao Hòa?
Thưa: Những việc hối nhân phải làm là : xét mình cẩn thận, ăn năn tội cùng với quyết tâm không tái phạm nữa, xưng tội và làm việc đền tội (số 303).

Ý cầu nguyện:
Cho mọi Kitô hữu được ơn khiêm tốn nhìn nhận tội lỗi mình và trở về với Chúa.

Tháng 03 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 3)


TUẦN 3
HY TẾ CỦA CHÚA GIÊSU

Khai triển nội dung

1. Cả cuộc đời của Chúa Giêsu là của lễ dâng hiến Chúa Cha. Ngay từ phút đầu tiên Người nhập thể, Chúa Con đã gắn bó với kế hoạch cứu độ của Chúa Cha: “Lạy Thiên Chúa, này con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,5); “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy và hoàn tất công trình của Ngài” (Ga 4,34). Sự gắn bó với kế hoạch yêu thương cứu chuộc của Chúa Cha đã truyền cảm hứng cho cả cuộc đời của Chúa Giêsu: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này! Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến” (Ga 12,27); “Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống” (Ga 18,11).

2. Khi gắn bó với tình yêu của Chúa Cha dành cho nhân loại, Chúa Giêsu đã “yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1), vì “không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Nhân tính của Chúa Giêsu đã trở thành dụng cụ tự do và hoàn hảo của tình yêu thần linh nơi Người, một tình yêu mong muốn cứu độ mọi người. Nghĩa là Chúa Giêsu hoàn toàn tự do khi chấp nhận cuộc khổ nạn và cái chết, vì tình yêu đối với Chúa Cha và vì tình yêu đối với nhân loại mà Người muốn cứu độ (x.Ga 10,18).

3. Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã thực hiện trước việc tự nguyện dâng hiến mạng sống của Người: “Đây là Mình Thầy, bị nộp vì anh em” (Lc 22,19); “Đây là Máu Thầy, Máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28). Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu thiết lập lúc đó sẽ là việc tưởng niệm hy tế của Người, đồng thời Người dạy các Tông Đồ phải lưu truyền việc dâng hiến này mãi mãi: “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Đức Kitô đã dâng hiến chính mình cho Chúa Cha như thế nào?

Thưa: Đức Kitô đã tự do dâng hiến tất cả đời sống cho Chúa Cha, để chu toàn ý định cứu độ của Ngài. Đức Kitô đã “hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45) (số 119).

Hỏi: Việc dâng hiến của Chúa Giêsu được diễn tả như thế nào trong Bữa Tiệc Ly?

Thưa: Trong Bữa Tiệc Ly với các Tông đồ vào buổi tối trước cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu vừa thiết lập bí tích Thánh Thể như việc tưởng nhớ hy tế của Chúa, vừa đặt các Tông đồ làm tư tế của Giao Ước mới (số 120).

Ý cầu nguyện:
Xin ơn biết kết hợp những đau khổ và hi sinh trong cuộc sống với hy tế của Chúa Giêsu trên thánh giá.

Tháng 03 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 2)


TUẦN 2
ĐỨC GIÊSU KITÔ,
ĐẤNG XÓA TỘI TRẦN GIAN

Khai triển nội dung

1. “Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Thánh Kinh” (1Cr 15,3). Thánh Phaolô tuyên xưng như thế, và ngài cho biết đó là lời tuyên xưng ngài đã “lãnh nhận” chứ không phải tự mình sáng chế. Thánh nhân còn viết thêm: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2Cr 5,21). Sự chết của Đức Kitô mang lại ơn cứu chuộc cho nhân loại. Sự chết ấy hoàn thành cách đặc biệt lời tiên tri về Người Tôi Tớ đau khổ trong sách Isaia mà chúng ta nghe vào Thứ Sáu Tuần Thánh hằng năm (53,7-8). Người Tôi Tớ ấy chịu đánh đập vì chúng ta, mang thương tích vì chúng ta. Nhờ Người mà chúng ta được chữa lành.

2. Thánh Gioan Tẩy giả đã giới thiệu Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian (Ga 1,29,36). Chúa Giêsu vừa là Người Tôi Tớ đau khổ, mang lấy tội lỗi muôn người, vừa là Chiên Vượt Qua, biểu tượng cho việc cứu chuộc Israel trong cuộc Vượt Qua đầu tiên (Xh 12,3-14). Cả cuộc đời Đức Kitô diễn tả sứ vụ của Người : phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người (Mc 10,45).

3.  Sự chết của Chúa Giêsu bày tỏ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa là kế hoạch của tình yêu lân mẫn, đi trước mọi công trạng của chúng ta: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,8); “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,10). Tình yêu ấy không loại trừ một ai như chính Chúa Giêsu khẳng định: “Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,14). Vì thế Hội Thánh dạy rằng: “Trước kia, hiện nay cũng như sau này, không có một ai mà Đức Kitô không chịu khổ nạn cho họ”.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Tại sao cái chết của Chúa Giêsu lại nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa?

Thưa: Để tất cả mọi người, là những kẻ đáng chết vì tội lỗi, được giao hòa với Ngài, Thiên Chúa đã khởi xướng một việc đầy yêu thương là sai Con của Ngài đến phó mình chịu chết vì những kẻ tội lỗi (số 118).

Hỏi: Cái chết của Chúa Giêsu đã được loan báo như thế nào?

Thưa: Cái chết của Chúa Giêsu đã được loan báo trong Cựu Ước, đặc biệt như hy tế của Người Tôi trung đau khổ, và cái chết ấy đã xảy ra “theo như lời Thánh Kinh” (số 118).

Ý cầu nguyện:
Xin ơn nhận biết tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện nơi Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh, để tình yêu ấy biến đổi chúng ta.

Tháng 03 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 1)

Chúng ta đã bước vào Mùa Chay. Vì thế chủ đề giáo lý của tháng 3/2013 là : TIN LÀ THEO CHÚA GIÊSU KITÔ TRONG MẦU NHIỆM KHỔ NẠN CỦA NGƯỜI.
Chúng ta cùng tìm hiểu chủ đề này trong 4 tuần lễ :
Tuần 1: Vụ án Chúa Giêsu.
Tuần 2: Chúa Giêsu Kitô, Đấng xóa tội trần gian.
Tuần 3: Hy tế tình yêu của Chúa.
Tuần 4: Hãy làm hòa cùng Thiên Chúa
                                                                    (Bí tích Giao Hòa).
                                            *****************************

TUẦN 1
VỤ ÁN CHÚA GIÊSU

Khai triển nội dung
1. Các nhà cầm quyền tôn giáo ở Giêrusalem đã không nhất trí với nhau về cách xử sự đối với Chúa Giêsu. Nhóm Pharisêu dọa khai trừ những ai đi theo Chúa. Có những người sợ rằng “mọi người sẽ tin vào ông Giêsu, rồi người Rôma sẽ đến phá hủy cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta” (Ga 11,48). Thượng tế Caipha đưa ra đề nghị: “Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11,50). Thượng Hội Đồng tuyên bố Chúa Giêsu đáng phải chết vì tội nói phạm thượng, nhưng vì đã mất quyền tuyên án tử hình, nên họ đã nộp Chúa Giêsu cho người Rôma và tố cáo Người về tội nổi loạn chính trị. Vì thế Chúa Giêsu bị xếp đồng hàng với Baraba là người bị tống ngục vì một vụ bạo động (Lc 23,19). Các thượng tế cũng đưa ra những lời đe dọa mang tính chính trị để buộc quan Philatô kết án tử hình Chúa Giêsu. 

2. Chúng ta không thể quy trách nhiệm cho mọi người Do Thái ở Giêrusalem lúc đó, càng không được mở rộng trách nhiệm đến những người Do Thái ở những nơi chốn và thời đại khác. Công Đồng Vaticanô II khẳng định rất rõ điều này: “Không thể nói rằng Thiên Chúa đã loại bỏ người Do Thái hoặc đã chúc dữ cho họ, coi đó như là điều được dạy trong Thánh Kinh” (Tuyên ngôn Nostra Aetate, số 4).

3. Khi suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô, Hội Thánh luôn nhắc nhở điều này: Các tội nhân là những tác giả và tác viên của mọi cực hình mà Đức Kitô đã phải chịu. Thánh Phanxicô Assisi kêu lên: “Ma quỷ cũng không đóng đinh Người vào thập giá, nhưng chính bạn cùng với chúng đã đóng đinh Người, và bạn vẫn còn đóng đinh Người bằng cách hưởng lạc thú trong các nết xấu và tội lỗi”.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Chúa Giêsu bị kết án vì những lời tố cáo nào?
Thưa: Một số thủ lãnh Israel đã tố cáo Chúa Giêsu chống lại Lề luật, chống lại Đền thờ Giêrusalem và nhất là chống lại niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất, vì Người tự xưng mình là Con Thiên Chúa. Chính vì thế, họ đã nộp Người cho quan Philatô, để Người bị kết án tử hình (số 113).

Hỏi: Ai chịu trách nhiệm về cái chết của Chúa Giêsu?
Thưa: Không thể quy trách nhiệm cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu một cách không phân biệt cho mọi người Do thái thời đó, cũng như con cháu họ sau này. Mỗi tội nhân, nghĩa là mọi người, thực sự là nguyên nhân và công cụ gây nên những đau khổ của Đấng Cứu Chuộc. Chịu trách nhiệm nặng nề hơn nữa là những người, nhất là các Kitô hữu, thường xuyên sa ngã phạm tội và ham thích những thói xấu (số 117).

Ý cầu nguyện:
Cầu cho mọi Kitô hữu biết “mặc lấy Chúa Giêsu Kitô và không chiều theo tính xác thịt” (Rm 13,14).

22 thg 2, 2013

Tháng 02 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 4)

ĐỨC TIN VÀ TỰ DO
Khai triển nội dung
1. Tự do là khả năng tự mình làm những hành động có ý thức, tự mình chọn lựa hành động hay không hành động, làm việc này hoặc làm việc khác. Tự do là nét đặc trưng cao cả của con người, nhờ đó chúng ta phát triển và trưởng thành trong chân lý và sự thiện. Cũng vì có tự do, nên con người phải chịu trách nhiệm về các hành vi của mình, tùy theo mức độ các hành vi ấy phát xuất từ ý muốn của họ như thế nào. Sự tự do đạt tới mức hoàn hảo khi quy hướng về Thiên Chúa là vinh phúc của chúng ta.
2. Ân sủng của Thiên Chúa ban không hủy diệt tự do nơi chúng ta. Đúng hơn, ân sủng ấy nâng đỡ để chúng ta sử dụng tự do cho phù hợp với ý nghĩa của Sự Thật và Sự Thiện mà Thiên Chúa đã đặt để nơi trái tim con người. Chính Sự Thật và Sự Thiện này giải thoát chúng ta, làm cho chúng ta nên những con người tự do đích thực. Bằng tác động của ân sủng, Chúa Thánh Thần giáo dục chúng ta về sự tự do thiêng liêng, thúc đẩy chúng ta tự nguyện cộng tác vào công trình của Ngài trong Hội Thánh và trong thế giới: “Ở đâu có Thần Khí của Chúa thì ở đó có tự do” (2Cr 3,17). Đức Maria và các thánh là những mẫu gương cụ thể về mối tương quan hài hòa tuyệt hảo giữa ân sủng Thiên Chúa và tự do của con người.
3. Đức tin là một hành vi nhân linh, nghĩa là hành vi của con người có lý trí và tự do. Do đó, đức tin và tự do gắn bó chặt chẽ với nhau: “Không được cưỡng bách bất cứ ai hành động trái với lương tâm, cũng như không được ngăn cấm họ hành động theo tiếng lương tâm, nhất là trong lãnh vực tôn giáo” (Tuyên ngôn về Tự Do, số 3). Chúa Giêsu là mẫu mực điển hình cho mọi người noi theo. Người đến để làm chứng cho chân lý nhưng không bao giờ Người dùng sức mạnh để áp đặt chân lý. Vương quốc của Người tăng trưởng bằng tình yêu, tình yêu của Đấng đã chịu giương cao trên thập giá để lôi kéo người ta đến với mình.
Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)
Hỏi: Tự do là gì?
Thưa: Tự do là khả năng Thiên Chúa ban cho con người để hành động hay không hành động, để làm việc này hay việc khác, và như vậy, tự mình làm những hành động có ý thức (số 363).
Hỏi: Đức tin giúp gì cho sự tự do của con người?
Thưa: Càng làm điều thiện, người ta càng tự do hơn. Tự do hướng đến sự hoàn hảo khi quy hướng về Thiên Chúa, Đấng là Sự Thiện tối thượng và là hạnh phúc của chúng ta (số 363).
Ý cầu nguyện:
Cầu cho những anh chị em thuộc mọi tôn giáo đang chịu bắt bớ và bách hại vì niềm tin tôn giáo của họ.

Tháng 02 - NĂM ĐỨC TIN (Tuần 3)

ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ

Khai triển nội dung

1. Nền tảng của đức tin Kitô giáo là uy quyền của chính Thiên Chúa, Đấng mặc khải, Đấng không thể sai lầm và cũng không thể lừa dối chúng ta. Tuy nhiên, để nâng đỡ đức tin của chúng ta, Thiên Chúa cũng ban cho những bằng chứng bên ngoài về mặc khải của Ngài. Chẳng hạn, các phép lạ của Đức Kitô và các thánh, các lời tiên tri, sự phát triển và thánh thiện cũng như sự phong phú và vững bền của Hội Thánh…tất cả là những dấu chỉ chắc chắn của mặc khải và lý trí con người có thể tiếp nhận.

2. Những chân lý mặc khải có thể bị coi là tối tăm đối với lý trí cũng như kinh nghiệm của loài người. Chẳng hạn, làm sao một trinh nữ lại có thể thụ thai và sinh con? Làm sao một con người chịu đóng đinh trên thập giá lại có thể là Đấng Cứu độ? Những câu hỏi tương tự khiến con người cảm thấy nghi nan. Thế nhưng đức tin lại chắc chắn hơn mọi hiểu biết của loài người, vì lý trí con người có nhiều giới hạn, còn đức tin dựa trên chính Lời của Thiên Chúa, Đấng toàn năng và toàn tri: Trời đất này sẽ qua đi nhưng lời Thầy nói với anh em sẽ không qua đi. Cũng vì thế, gắn liền với đức tin là việc các tín hữu muốn biết rõ hơn và sâu hơn về Đấng mình tin và những điều Ngài mặc khải. Một đàng, ơn đức tin mở “con mắt của trái tim” (Eph 1,18) để chúng ta hiểu biết Chúa hơn; đàng khác, sự hiểu biết sâu xa sẽ giúp chúng ta tin tưởng và yêu mến Chúa hơn.

3. Trong tương quan giữa đức tin và khoa học, Hội Thánh nhấn mạnh rằng không thể có sự mâu thuẫn giữa đức tin và lý trí, bởi lẽ cả hai đều chung một cội nguồn là Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa là Đấng mặc khải các mầu nhiệm và tuôn đổ đức tin, cũng chính Ngài là Đấng ban ánh sáng lý trí cho tâm hồn con người. Do đó, không thể có mâu thuẫn giữa đức tin và lý trí, giữa những chân lý mặc khải và nghiên cứu khoa học, nếu những nghiên cứu ấy được tiến hành cách khoa học thật sự và theo đúng các chuẩn mực luân lý.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Đức tin có liên quan gì đến lý trí tự nhiên?

Thưa: Hành vi đức tin là một hành vi nhân linh, nghĩa là một hành động của lý trí con người, được lòng muốn thúc đẩy do tác động của Thiên Chúa, để tự do chấp nhận chân lý Thiên Chúa (số 28).

Hỏi: Tại sao không có mâu thuẫn giữa đức tin và khoa học ?

Thưa: Dù đức tin vượt lên trên lý trí, nhưng không bao giờ có mâu thuẫn giữa đức tin và khoa học, vì cả hai đều có cùng một cội nguồn là chính Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa ban ánh sáng lý trí và ban đức tin cho con người.

Ý cầu nguyện:

Xin cho những ai tìm kiếm Chúa được gặp Chúa. Xin cho những người đã gặp Chúa vẫn tiếp tục tìm kiếm Chúa và yêu mến Chúa hơn.

3 thg 2, 2013

Tháng 02 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 2)

NỘI DUNG ĐỨC TIN

 

Khai triển nội dung

1. Đức tin Kitô giáo bao hàm hai điều chính yếu : một là gắn bó hoàn toàn với Thiên Chúa, hai là chấp nhận tất cả những chân lý được Thiên Chúa mặc khải. Hai điều này liên kết chặt chẽ với nhau. Cũng vì thế, đức tin Kitô giáo khác với sự tin tưởng một người hoặc một hệ ý thức nào đó. Không ai và không tổ chức nào trong cuộc đời này có thể đòi hỏi nơi chúng ta sự tin tưởng tuyệt đối, vì bất cứ con người nào và tổ chức nào cũng chỉ là bất toàn, đầy giới hạn. Chỉ có một mình Thiên Chúa là Đấng thượng trí và Tình yêu mới có thể đòi hỏi nơi chúng ta sự gắn bó và tin tưởng tuyệt đối như thế.

2. Đối với chúng ta, tin vào Thiên Chúa cũng có nghĩa là tin vào Chúa Giêsu Kitô. Người là Con chí ái của Chúa Cha, là Đấng Chúa Cha sai đến. Người chính là Thiên Chúa, Ngôi Lời nhập thể: “Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1,18). Bởi vì Người “đã thấy Chúa Cha” (Ga 6,46) nên chỉ một mình Người biết Chúa Cha và có thẩm quyền mặc khải Chúa Cha cho chúng ta. “Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy” (Ga 14,1). Không có Chúa Giêsu, chúng ta có thể rơi vào nguy cơ thờ phượng một vị Thiên Chúa theo trí tưởng tượng của loài người chứ không phải là Thiên Chúa chân thật và hằng sống.

3. Chúng ta không thể tin vào Chúa Giêsu Kitô mà không thông phần vào Thần Khí của Người. Chính Chúa Thánh Thần mặc khải cho loài người biết Chúa Giêsu là ai: “Không ai có thể nói rằng Đức Giêsu là Chúa, nếu người ấy không ở trong Thần Khí” (1Cr 12,3). Thật vậy, ai có thể biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là Thần Khí của Thiên Chúa? (1Cr 2,10-11). Chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể biết trọn vẹn về Ngài. Chúng ta tin vào Chúa Thánh Thần vì Ngài là Thiên Chúa.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Tin vào Thiên Chúa nghĩa là gì?

Thưa: Là gắn bó với chính Thiên Chúa, tin tưởng phó thác bản thân chúng ta cho Chúa, và chấp nhận tất cả những chân lý Ngài mặc khải, vì Ngài là chính Chân lý (số 27).

Hỏi: Mầu nhiệm trung tâm của đức tin Kitô giáo là gì?

Thưa: Mầu nhiệm trung tâm của đức tin và đời sống Kitô giáo là mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi cực thánh. Người Kitô hữu chúng ta được rửa tội nhân danh Cha và Con và Thánh Thần (số 44).

Ý cầu nguyện:

Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần. Như đã có trước vô cùng và bây giờ và hằng có và đời đời chẳng cùng. Amen.

Tháng 02 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 1)

Tháng 2 là Mùa Thường Niên trước Mùa Chay. Chúng ta tiếp tục tìm hiểu về đức tin Kitô giáo, nhấn mạnh hơn về phía con người. Chủ đề của tháng này là: TIN LÀ THƯA “VÂNG” VỚI LỜI CHÚA.

Chúng ta sẽ tìm hiểu chủ đề này trong 4 tuần lễ:

Tuần 1: Sự vâng phục của đức tin.

Tuần 2: Nội dung đức tin.

Tuần 3: Đức tin và lý trí.

Tuần 4: Đức tin và tự do.

 

SỰ VÂNG PHỤC CỦA ĐỨC TIN

Khai triển nội dung

1. Lịch sử Dân Chúa trong Cựu Ước bắt đầu với việc Thiên Chúa kêu gọi tổ phụ Abraham. Ông đã vâng theo tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ lãnh nhận làm gia nghiệp, và “ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu” (Dt 11,8). Nhờ đức tin, bà Sara vợ ông đã thụ thai người con của lời hứa khi tuổi đã già. Cuối cùng, nhờ đức tin, tổ phụ Abraham đã dâng hiến con mình làm hy lễ. Ông đã trở nên “tổ phụ của tất cả những người tin” (Rm 4,11). Cùng với tổ phụ Abraham, trong Cựu Ước có rất nhiều những chứng từ đức tin: “Nhờ đức tin ấy, các bậc tiền nhân đã được Thiên Chúa chứng giám” (Dt 11,2.39).

2. Trong Tân Ước, Đức Maria là gương mẫu tuyệt vời. Nhờ đức tin, Mẹ đã đón nhận lời sứ thần Gabriel loan báo và đoan hứa, vì ngài tin rằng “Đối với Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37). Bà Elisabeth đã chào Đức Mẹ bằng những lời này: “Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Ngài đã nói với em” (Lc 1,45). Trong suốt cuộc đời của Đức Mẹ, kể cả trong những thử thách lơn lao nhất, đức tin của Mẹ không hề lay chuyển. Mẹ luôn vững tin rằng lời Chúa phán sẽ được thực hiện. Chính vì đức tin ấy mà Đức Mẹ được mọi đời ca ngợi là diễm phúc, và Hội Thánh tôn kính Mẹ là người thể hiện đức tin cách tinh tuyền nhất.

3. Chiêm ngắm tổ phụ Abraham và Mẹ Maria, chúng ta hiểu được thế nào là sự vâng phục của đức tin. Đó là sự tự nguyện quy thuận lời Chúa phán, vì chân lý của lời đó được Thiên Chúa là chính Chân lý, bảo đảm: “Đức tin là bảo đảm cho những điều hi vọng, là bằng chứng của những điều ta không thấy” (Dt 11,1).

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Trong Thánh Kinh, ai là những chứng nhân chính yếu cho việc vâng phục đức tin?

Thưa: Có nhiều chứng nhân, nhưng đặc biệt là hai vị:

  • Ông Abraham, dù bị thử thách, vẫn vững tin vào Thiên Chúa và vâng theo lời Ngài. Vì thế ông trở thành tổ phụ của tất cả những người tin (Rm 4,11).
  • Đức Trinh Nữ Maria, trong suốt cuộc đời đã thể hiện cách tuyệt vời sự vâng phục đức tin : “Xin Chúa thực hiện cho tôi như lời sứ thần truyền” (Lc 1,38) (Số 26).

Hỏi : Vâng phục đức tin là gì?

Thưa: Vâng phục đức tin là tin tưởng trọn vẹn vào Thiên Chúa và đón nhận chân lý của Ngài, chân lý được Thiên Chúa bảo đảm vì Ngài là chính Chân lý (số 25).

                                                      Ý cầu nguyện:

Xin Mẹ Maria dạy chúng con hai tiếng “Xin Vâng” trước thánh ý Chúa và trong mọi hoàn cảnh

16 thg 1, 2013

Tháng 01 - NĂM ĐỨC TIN (Tuần 4)

HỒNG ÂN VÀ TRÁCH NHIỆM

 

Khai triển nội dung

1. Nếu đức tin là một hồng ân thì chúng ta phải cầu xin. Nếu đức tin là một nhân đức thì người tín hữu phải tập luyện. Và nếu đức tin là một di sản thì chúng ta phải trân trọng giữ gìn. Hồng ân luôn hàm nghĩa trách nhiệm. Chúa đã trao cho những nén bạc thì chúng ta có bổn phận làm cho những nén bạc ấy sinh lời chứ không thể chôn vùi xuống đất (x. Mt 25,14-30). Trách nhiệm này được gồm tóm trong hai việc: vun trồng và thông truyền.

2. Phải vun trồng đức tin bằng cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa, học hỏi giáo lý và sống đức ái. Cầu nguyện là sự thể hiện đức tin rõ nét nhất vì cầu nguyện là gặp gỡ Thiên Chúa, Đấng chúng ta tin. Lắng nghe Lời Chúa để tìm biết và thực thi thánh ý Chúa, nhờ đó sống xứng đáng là con cái Chúa. Học hỏi giáo lý để hiểu rõ hơn tôi tin vào ai và tại sao tôi tin, nhờ đó có thể trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hi vọng của chúng ta (x. 1Pr 3,15). Sống đức ái vì đức tin không có hành động là đức tin chết (Gc 2,26) và giống như đèn mà không có dầu.

3. Cùng với việc khai mở Năm Đức Tin, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới về đề tài Tân Phúc Âm hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo. Như thế, đức tin không chỉ cần được vun trồng mà còn cần phải thông truyền. Trong Thư Mục Vụ Năm Đức Tin, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhấn mạnh đến vai trò của gia đình trong việc thông truyền đức tin. Trong lịch sử Giáo Hội Việt Nam, các gia đình chính là cái nôi nuôi dưỡng đức tin, là trường dạy giáo lý đầu tiên cho con cái. Ngày nay, do tác động của đời sống, nhiều gia đình trẻ không còn ý thức đủ về điều này nữa. Chúng ta cần nhắc nhở nhau để xây dựng gia đình của mình thành nhà thờ (thờ phượng Chúa), nhà trường (dạy giáo lý), và nhà thương (mái ấm của tình thương); nhờ đó con cái được hít thở và lớn lên trong bầu khí đức tin trong lành.

 

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Cha mẹ có bổn phận nào đối với con cái?

Thưa: Vì được thông phần tư cách làm cha của Thiên Chúa, cha mẹ là những người đầu tiên có trách nhiệm giáo dục con cái, và cũng là những người đầu tiên loan báo đức tin cho chúng (số 460).

Hỏi: Làm thế nào cha mẹ giáo dục đức tin Kitô giáo cho con cái?

Thưa: Cha mẹ giáo dục đức tin Kitô giáo cho con cái chủ yếu bằng gương sáng, kinh nguyện, dạy giáo lý trong gia đình và tham gia vào đời sống Giáo Hội (số 461).

 

Ý cầu nguyện:

Xin cho các gia đình công giáo ý thức trách nhiệm thông truyền đức tin cho con cái.

 

 

Tháng 01 - NĂM ĐỨC TIN (Tuần 3)

 

ĐỨC TIN LÀ MỘT DI SẢN

Khai triển nội dung

1. Trong Tự sắc “Cửa Đức Tin”, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI kêu gọi mọi tín hữu nhìn lại lịch sử của đức tin Kitô giáo cách mới mẻ, để thấy mầu nhiệm khôn dò của cuộc chiến giữa thánh thiện và tội lỗi. Việc nhìn lại đó giúp chúng ta thấy rõ trong lịch sử, đã có biết bao người góp phần vào việc phát triển cộng đoàn Hội Thánh qua việc làm chứng cho đức tin (số 13).

2. Nhờ đức tin, Đức Maria đã đón nhận lời của sứ thần; Mẹ đã tin vào lời loan báo và trở thành Mẹ Thiên Chúa trong sự vâng phục và tận hiến (x. Lc 1,38). Nhờ đức tin, các Tông đồ đã bỏ tất cả để theo Thầy (x. Mc 10,28), và theo lệnh của Thầy, đã đi khắp thế gian để đem Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo (x. Mc 16,15). Nhờ đức tin, các Kitô hữu đầu tiên tạo thành cộng đoàn tiên khởi, hiệp nhất với nhau trong cầu nguyện, trong cử hành bí tích Thánh Thể và trong việc chia sẻ đời sống chung (x. Cv 2,42-47). Nhờ đức tin, các vị tử đạo đã hiến dâng cuộc sống của mình để làm chứng cho chân lý Tin Mừng. Nhờ đức tin, biết bao người nam cũng như nữ đã dâng hiến cuộc sống mình cho Đức Kitô, từ bỏ tất cả để sống theo ba lời khuyên Phúc Âm.

Nhờ đức tin, rất nhiều tín hữu làm chứng cho đức tin Kitô giáo của họ qua đời sống trong gia đình cũng như ngoài xã hội. Tại Việt Nam, làm sao chúng ta quên được Các Thánh Tử Đạo và những chứng nhân đã đổ máu đào trên giải đất này để làm chứng cho Chúa, và máu của các ngài là hạt giống làm nảy sinh các Kitô hữu ngày nay.

3. Như thế, đức tin là cả một di sản vĩ đại được trao lại cho chúng ta ngày nay. Di sản ấy cần được trân trọng giữ gìn và truyền lại cho thế hệ mai sau. Vì thế, trong Năm Đức Tin, chúng ta phải tự vấn xem mình đã trân trọng di sản ấy ra sao, và đã thi hành trách nhiệm thông truyền đức tin cho thế hệ sau như thế nào.

 

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: “Đức tin là một di sản” nghĩa là gì?

Thưa: Đức tin là một hành vi cá nhân của mỗi người đối với Thiên Chúa. Nhưng đức tin cũng là hành vi mang tính giáo hội, vì chính Hội Thánh đã đi trước, sinh ra và nuôi dưỡng đức tin của chúng ta. Vì thế Hội Thánh là Mẹ và là Thầy (x. số 30).

Hỏi: Người Kitô hữu có trách nhiệm truyền giáo như thế nào?

Thưa: Các Kitô hữu phải loan báo cho mọi người Tin Mừng đã được Đức Kitô mang đến, và khi bước theo cùng một con đường như Người, họ phải sẵn sàng hi sinh bản thân, thậm chí đến chỗ tử đạo (x. số 173).

 

Ý cầu nguyện:

Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít; xin Chúa sai thợ gặt đến cánh đồng của Chúa.

 

8 thg 1, 2013

Tháng 01 - NĂM ĐỨC TIN (Tuần 2)


ĐỨC TIN LÀ MỘT NHÂN ĐỨC

Khai triển nội dung

1. Giáo lý công giáo phân biệt các nhân đức nhân bản và các nhân đức đối thần. Nhân đức đối thần là nhân đức trực tiếp quy chiếu về Thiên Chúa, giúp các Kitô hữu sống tương quan với Ba Ngôi Chí Thánh là nguồn gốc, động lực và đối tượng của nhân đức. Đức tin là một trong ba nhân đức đối thần: Tin, Cậy, Mến.

2. Đức tin là nhân đức đối thần, nhờ đó chúng ta tin vào Thiên Chúa và tất cả những gì Ngài đã nói và mặc khải, cũng như những gì Hội Thánh dạy chúng ta tin, bởi vì Thiên Chúa chính là chân lý. Nhờ đức tin, người tín hữu tự nguyện phó thác toàn thân cho Chúa. Nhờ đức tin, chúng ta cố gắng nhận biết và thi hành thánh ý Thiên Chúa. Nhờ đức tin, chúng ta như được nếm trước niềm hoan lạc và ánh sáng của ơn hưởng kiến hồng phúc. Vì thế đức tin là khởi đầu của sự sống muôn đời: “Người công chính nhờ đức tin sẽ được sống” (Rm 1,17); “Không có đức tin thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa” (Dt 11,6).

3. Người môn đệ Đức Kitô không những phải gìn giữ đức tin và sống đức tin, mà còn phải can đảm tuyên xưng, làm chứng và truyền bá đức tin: “Mọi tín hữu phải sẵn sàng tuyên xưng Đức Kitô trước mặt người ta, và bước theo Người trên đường thập giá, giữa những cuộc bách hại mà Hội Thánh luôn gặp phải” (Hiến chế Lumen Gentium, số 42). Việc phục vụ và làm chứng cho đức tin là những điều phải có để được cứu độ: “Phàm ai tuyên xưng Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10,32-33).

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Đức tin là gì?
Thưa: Đức tin là nhân đức đối thần, nhờ đó chúng ta tin vào Thiên Chúa và tất cả những gì Ngài đã mặc khải cho chúng ta, cũng như những gì Hội Thánh dạy chúng ta tin, bởi vì Thiên Chúa là chính Chân Lý. Nhờ đức tin, con người phó thác bản thân mình cách tự do cho Thiên Chúa. Vì thế người tin tìm biết và tìm thi hành ý muốn của Ngài, vì đức tin hoạt động nhờ đức ái (số 386).

Hỏi: Phải làm gì để vun trồng đức tin?
Thưa: Đức tin hành động nhờ đức ái và đức tin có thể tăng trưởng hoặc lụi tàn. Vì thế, phải lắng nghe Lời Chúa, cầu nguyện không ngừng và sống đời bác ái yêu thương. Nhờ đó, đức tin sẽ tăng trưởng mạnh mẽ và trổ sinh hoa trái dồi dào (x. số 28).

 Ý cầu nguyện: 
Cầu cho những anh chị em đang gặp thử thách và khủng hoảng trong đời sống đức tin.

Tháng 01 - NĂM ĐỨC TIN (Tuần 1)


Sau lễ Giáng Sinh, Hội Thánh có Mùa Giáng Sinh, mời gọi các tín hữu tiếp tục học hỏi, cử hành và sống đức tin vào Đấng Thiên Chúa làm người. Vì thế, chủ đề của tháng này là : ĐỨC TIN LÀ MỘT HỒNG ÂN.
Chúng ta sẽ tìm hiểu chủ đề này trong 4 tuần lễ :

Tuần 1: Đức tin là một hồng ân.
Tuần 2: Đức tin là một nhân đức.
Tuần 3: Đức tin là một di sản.
Tuần 4: Hồng ân và trách nhiệm.

ĐỨC TIN LÀ MỘT HỒNG ÂN
Khai triển nội dung

1. Khi thánh Phêrô tuyên xưng Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, Người nói với ông rằng không phải huyết nhục mặc khải cho ông điều ấy, nhưng là Cha của Người, Đấng ngự trên trời (Mt 16,17). Khi chứng kiến những người đã thấy các phép lạ Người làm mà vẫn không tin, Chúa Giêsu thưa với Chúa Cha: Con ngợi khen Cha vì Cha đã giấu không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn” (Mt 11,25). Tất cả đều nói lên đức tin trước hết là một hồng ân chứ không phải là kết quả của nỗ lực nhân loại.

2. Đức tin là một hồng ân vì chính Thiên Chúa đi bước trước. Như thai nhi Giêsu trong lòng Đức Trinh Nữ Maria tìm đến Gioan Tẩy giả trong lòng bà Elisabeth, chính Thiên Chúa đến tìm con người trước khi con người tìm kiếm Ngài. Thiên Chúa đi bước trước bằng nhiều cách: Để có được đức tin, cần có ân sủng Thiên Chúa đến trước giúp đỡ và sự trợ giúp bên trong của Chúa Thánh Thần. Ngài đánh động và quy hướng con tim về cùng Thiên Chúa, Ngài mở mắt lý trí và cho mọi người cảm thấy dịu ngọt khi ưng thuận và tin vào chân lý” (Hiến chế Dei Verbum, số 5).

3. Đức tin là một hồng ân nhưng không Thiên Chúa ban cho con người. Tuy nhiên chúng ta có thể đánh mất hồng ân vô giá đó như thánh Phaolô nói: “Một số người đã vứt bỏ lương tâm ngay thẳng, nên đức tin của họ đã bị chết chìm” (1Tm 1,19). Vì thế người tín hữu phải gìn giữ và vun trồng đức tin bằng cầu nguyện, lắng nghe Lời Chúa và thực thi Lời Chúa trong đời sống.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Chỉ với ánh sáng tự nhiên của lý trí, con người có đủ khả năng để nhận biết mầu nhiệm Thiên Chúa hay không?
Thưa: Chỉ với ánh sáng của lý trí, con người sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc nhận biết Thiên Chúa. Hơn nữa, tự mình, con người không thể nào đi vào mầu nhiệm sâu thẳm của Thiên Chúa. Vì thế Thiên Chúa đã muốn soi dẫn con người bằng cách mặc khải cho họ, không những về những gì vượt quá sự hiểu biết nhân loại, mà cả về những chân lý tôn giáo và luân lý, tự chúng vốn không vượt quá khả năng của lý trí, như vậy mọi người có thể biết được những chân lý đó cách dễ dàng, chắc chắn và không sợ sai lầm (số 4).

Hỏi: “Đức tin là một hồng ân” nghĩa là gì?
Thưa: Đức tin là hồng ân Thiên Chúa ban không, và tất cả những ai khiêm tốn cầu xin đều có thể đạt tới (x. số 28).

Ý cầu nguyện:
Lạy Chúa, con tin, nhưng xin Chúa nâng đỡ lòng tin yếu kém của con (x. Mc 9,24).

23 thg 12, 2012

Tháng 12 - Năm Đức Tin (Tuần 4)

 

ƠN GỌI VÀ PHẨM GIÁ CON NGƯỜI

Khai triển nội dung

1. “Mầu nhiệm con người chỉ được sáng tỏ trong ánh sáng của mầu nhiệm Ngôi Lời nhập thể”. Tại sao? Vì khi mặc khải cho chúng ta về mầu nhiệm của Chúa Cha và tình yêu của Ngài, Chúa Giêsu cũng chỉ cho chúng ta thấy ơn gọi cao cả và phẩm giá cao quý của con người (Hiến chế Gaudium et Spes, số 22). Trong mầu nhiệm Nhập Thể, cách nào đó, Con Thiên Chúa đã kết hợp với tất cả mọi người. Người đã làm việc với bàn tay con người, đã suy nghĩ bằng trí óc con người, đã hành động với ý chí con người, đã yêu mến bằng quả tim con người. Người đã thực sự nên giống chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi.

2. Bằng cuộc sống làm người cũng như bằng cái chết và sự phục sinh của Người, Chúa Giêsu Kitô chỉ cho chúng ta thấy phẩm giá và ơn gọi đích thực của con người. Con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa, được ban cho một linh hồn thiêng liêng bất tử, có lý trí và ý chí tự do. Ngay từ lúc tượng thai, con người đã được quy hướng về Thiên Chúa và hạnh phúc vĩnh cửu: “Lạy Chúa, Chúa dựng nên con cho Chúa, và tâm hồn con còn mãi băn khoăn khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa” (Thánh Augustinô). Vì thế, mỗi một con người, dù nhỏ bé và yếu đuối đến đâu (vd. thai nhi), vẫn phải được tôn trọng vì họ là hình ảnh của Thiên Chúa.

3. Vì không ý thức đủ về phẩm giá và ơn gọi cao quý Chúa ban, nên nhiều khi chúng ta sống không xứng hợp với phẩm giá ấy; ngoài ra còn xúc phạm đến phẩm giá của người khác. Mừng kính mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa phải là cơ hội thúc đẩy người Kitô hữu tái khám phá và sống đúng với ơn gọi, phẩm giá của mình cũng như tôn trọng phẩm giá người khác.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Nền tảng phẩm giá con người là gì?

Thưa: Phẩm giá của con người bắt nguồn từ việc con người được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa. Được phú bẩm một linh hồn thiêng liêng và bất tử, có lý trí và ý chí tự do, con người được quy hướng về Thiên Chúa và được mời gọi hưởng hạnh phúc vĩnh cửu cả hồn lẫn xác (số 358).

Hỏi: Tại sao phải tôn trọng sự sống con người?

Thưa: Vì sự sống con người có giá trị linh thánh. Không ai được phép trực tiếp hủy hoại một con người vô tội, vì điều này đối nghịch cách nghiêm trọng với phẩm giá con người và với sự thánh thiện của Đấng Tạo Hóa (số 466).

Ý cầu nguyện:

Cầu cho mọi người biết nhìn nhận phẩm giá cao quý của chính bản thân và của anh chị em chung quanh.

 

18 thg 12, 2012

Tháng 12 - Năm Đức Tin (Tuần 3)

VAI TRÒ CỦA ĐỨC TRINH NỮ MARIA
Khai triển nội dung
1. Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa.
Khi được loan báo rằng Mẹ sẽ hạ sinh “Con Đấng Tối Cao” bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, Đức Maria đã tin chắc chắn rằng Thiên Chúa làm được mọi sự (Lc 1,37-38). Mẹ đã sẵn sàng “xin vâng” với Lời Chúa. Khi bày tỏ sự vâng phục của đức tin như thế, Đức Maria trở thành Mẹ Chúa Giêsu và với trọn tâm hồn. Trong các Sách Tin Mừng, Đức Maria được gọi là Thân Mẫu của Chúa Giêsu (Ga 2,1; 19,25; Lc 1,43). Quả thật, Đấng mà Mẹ đã cưu mang làm người bởi phép Chúa Thánh Thần, Đấng thật sự là con của Mẹ theo xác phàm, Đấng ấy chính là Con vĩnh cửu của Chúa Cha, là Ngôi Hai trong Ba Ngôi Chí Thánh. Vì vậy, Hội Thánh tuyên xưng Đức Maria thật sự là Mẹ Thiên Chúa.
2. Đức Maria trọn đời đồng trinh.
Ngay trong các công thức đức tin đầu tiên, Hội Thánh đã tuyên xưng rằng Chúa Giêsu được thụ thai trong lòng Trinh Nữ Maria hoàn toàn là do quyền năng của Chúa Thánh Thần. Các trình thuật Tin Mừng hiểu việc thụ thai đồng trinh như một công trình của Thiên Chúa, vượt quá mọi hiểu biết và khả năng của nhân loại (Mt 1,20). Việc suy niệm sâu xa hơn đã đưa Hội Thánh đến chỗ tuyên xưng Đức Maria thật sự và trọn đời đồng trinh.
3. Đức Maria vô nhiễm nguyên tội.
Để làm Mẹ Đấng Cứu độ, Đức Maria đã được Chúa ban cho các hồng ân xứng với nhiệm vụ cao cả ấy. Trong ngày Truyền Tin, sứ thần Gabriel đã chào Mẹ là “người đầy ơn phúc”. Qua các thế kỷ, Hội Thánh ý thức rằng vì Đức Maria được Thiên Chúa ban cho “đầy ơn phúc”, nên ngài đã được cứu chuộc ngay từ lúc tượng thai. Tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội được Đức Piô IX công bố năm 1854.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)
Hỏi: Tại sao Đức Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa?
Thưa: Đức Maria thực sự là Mẹ Thiên Chúa vì là Mẹ của Chúa Giêsu. Thật vậy, Đấng mà Mẹ đã thụ thai bởi tác động của Chúa Thánh Thần và đã thực sự trở nên con của Mẹ, Đấng ấy chính là Con hằng hữu của Thiên Chúa Cha. Đấng ấy là Thiên Chúa (số 95).
Hỏi: Câu “Đức Maria trọn đời đồng trinh” có nghĩa gì?
Thưa: Đức Maria trọn đời đồng trinh có nghĩa là Mẹ vẫn đồng trinh khi thụ thai Con mình, đồng trinh khi sinh con, vĩnh viễn đồng trinh. Khi các Sách Tin Mừng nói về “anh chị em của Chúa Giêsu” thì đó là những người bà con họ hàng gần của Chúa Giêsu, theo như cách nói quen dùng trong Kinh Thánh (số 99).
Ý cầu nguyện:
Cùng với Đức Maria, dâng lời chúc tụng ngợi khen Chúa (Kinh Ngợi Khen – Magnificat).