19 thg 4, 2013

CA ĐOÀN GX THIÊN ÂN: MỘT CHUYẾN ĐI

Nhằm tạo niềm vui thư giãn, bồi dưỡng sức khỏe sau bao năm tháng phục vụ cho tất cả các bạn ca viên gồm 4 Ca đoàn trong Giáo xứ : CĐ. Hài Đồng - CĐ. Cecilia - CĐ. Phero và CĐ. Thánh Linh.

Sáng nay vào dịp nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương (10.03), Cha Chánh xứ Giuse đã tổ chức chuyến đi Hành hương kính viếng "Nhà Mồ các vị Tử Đạo" thuộc GP Bà Rịa , "Nhà thờ Chính tòa GP". và lãnh nhận ơn Toàn Xá trong Năm Đức Tin. Ngoài ra các bạn còn được một buổi sinh hoạt thư giãn đùa vui ở bãi tắm Zenna .

Một chuyến đi ngắn ngủi nhưng đầy ấp yêu thương nói lên sự quan tâm, chia sẻ thật bình dị của một vị chủ chăn: một người thầy, một người anh, và một người bạn trong suốt hành trình...và tâm đắc nhất là được dịp tìm hiểu học hỏi thêm về một chứng tích hào hùng của cha ông nơi "Nhà mồ Tử Đạo", và Nhà thờ Chánh tòa GP Bà Rịa qua các giai đoạn lịch sử trên thế kỷ nay, để hun đúc thêm nữa Niềm Tin trong Năm Đức Tin này...

Xin xem lại một ít hình ảnh của đoàn hành hương:

Nha mo Tu Dao photo Nhamotudao_zpsd7c5d1b2.jpg
Nhà Mồ Tử Đạo
Nh photo B_zps80e45ec6.jpg
Kính viếng "Nhà Mồ Tử Đạo"nơi 288 vị tử đạo trong vụ đốt ngục Phước Lễ đêm 07-01-1862.
Nh photo B1_zps784f2271.jpg
Ảnh lưu niệm bên mộ 288 Vị Tử Đạo.  
Nh photo B2_zps45e68291.jpg
Đôi Dòng Tiểu Sử Nhà Mồ Tử Đạo (Theo GP Bà Rịa)
Sáng ngày 08.01.1862, Cha Croc và Cha Tri, người đang phải lẩn tránh nhưng cũng đã từng cải trang vào gặp các tín hữu đang bị giam cầm, đã có mặt tại nơi nhà ngục Phước Lễ chứng kiến thi thể của 288 tín hữu vừa bị thiêu sinh khi quan quân triều đình phóng hoả đốt ngục trước khi rút lui. Các cha đã cho đào ba ngôi mộ lớn để an táng các tín hữu đã chết vì Đạo Chúa.

Tháng 10 năm 1865, Linh mục Thừa sai Jules Jean-Baptiste Errard đến nhận nhiệm sở Bà Rịa, cha tìm gặp các nhân chứng và thân nhân của các vị tử đạo, ghi lại tên tuổi theo từng họ đạo và nơi bị giam giữ. Cha cũng cho cải táng hài cốt các vị từ ba ngôi mộ trước đây và an táng chung vào một ngôi huyệt đào ngay trên nền ngục thất cũ. Trong dịp sang Hồng Kông chữa bệnh, cha đã đặt làm một ngôi mộ nổi trên mặt đất bằng đá cẩm thạch đưa về thay cho ngôi mộ bằng gạch trước đây. Bốn phiến cẩm thạch mang những dòng chữ được tạc khắc ghi nhớ cuộc khổ nạn và cái chết của các nhân chứng đức tin. Cha cho cất một ngôi nguyện đường ngay trên phần mộ, từ đó đã là nơi các cha thường xuyên đến dâng lễ, và cũng có các nhóm hành hương từ nhiều nơi tìm đến cầu nguyện.

Nhà thờ Mồ Tử Đạo Bà Rịa nằm cách Nhà thờ Chánh Toà hiện nay khoảng 300m, trên khu đất trước đây là nghĩa trang giáo xứ. Dù chỉ là một ngôi nguyện đường khiêm tốn, không có dáng vẻ gì đặc biệt, nhưng đây chính là nơi cất giữ cả một ký ức hào hùng của cộng đoàn tín hữu Bà Rịa.

Dù các vị tử đạo ở đây chưa được hiển tôn trong toàn Giáo Hội – người ta chỉ biết các Ngài qua những tư liệu ngắn ngủi như bà Maria Liệu, 76 tuổi, chết tại ngục Long Kiên, ông Giuse Vệ, 75 tuổi, ở ngục Phước Lễ hay cặp song sinh Antôn Trước – Antôn Sau  chào đời trong ngục Phước Thọ (Đất Đỏ) và tử đạo khi mới 3 tháng tuổi – nhưng cái chết của các Ngài đã vun trồng sự sống cho bao thế hệ, đang làm cho đức tin nên sống động trong từng cuộc sống của người tín hữu Bà Rịa hôm qua, hôm nay và mãi mãi về sau.

HÀNH HƯƠNG NHÀ THỜ CHÍNH TÒA BÀ RỊA
Nt Ch photo C_zps97399239.jpg
Vào năm 1865, Cha Errard đến nhậm sở Bà Rịa. Cha xây huyệt mộ chôn cất các vị tử đạo ngay trên chính nền ngục thất trước đây và dựng một ngôi nhà nguyện cho đến nay vẫn được gọi là “Nhà Thờ Mồ”.
Ngày 15-08-2007, Đức Giám mục tiên khởi Tôma Nguyễn Văn Trâm đặt viên đá đầu tiên xây dựng Nhà thờ Chánh toà mới.
Nt Ch photo C2_zps9ff9352b.jpg
Nt Ch photo C3_zps65f7d14e.jpg

Sinh hoạt ở Bãi Tắm Zenna
B photo A2_zpsed670010.jpg
B photo A1_zpsafeccb95.jpg
B photo A_zpsf837c374.jpg
B photo A3_zps38a37e93.jpg


17 thg 4, 2013

Thánh Bernadette Soubirous, Trinh nữ (1844-1879)



16/4 – Thánh Bernadette Soubirous.
 Bernadette Soubirous sinh năm 1844, là con cả trong một gia đình người thợ phay rất nghèo ở Lộ đức (Lourdes), thuộc miền Nam Pháp quốc. Gia đình sống ở tầng hầm một khu nhà tồi tàn. Ngày 11/2/1858, Đức Mẹ hiện ra với Bernadette ở một hang động trên bờ sông Gave gần Lộ đức. Bernadette lúc đó 14 tuổi, là một cô bé đạo đức nhưng học hành chậm hiểu nên vẫn chưa được rước lễ lần đầu. Sức khỏe yếu vì Bernadette bị hen suyễn từ nhỏ.

Đức Mẹ hiện ra với Bernadette cả thảy 18 lần. Lần cuối cùng vào chính ngày lễ Đức Mẹ Camêlô (Our Lady of Mt. Carmel), ngày 16/7. Người ta nghi ngờ điều Bernadette kể lại, nhưng thị kiến hàng ngày của Bernadette về một “phụ nữ” đã làm cho rất nhiều người tò mò. Bernadette giải thích rằng Đức Mẹ đã dạy cô bé xin xây một nhà nguyện ở ngay chỗ Đức Mẹ hiện ra. Có nhiều người đến rửa và uống nước ở chính nơi mà Bernadette được hướng dẫn nhờ người đào. Theo Bernadette, Đức Mẹ là một cô gái khoảng 16-17 tuổi, mặc áo dài trắng có dây thắt lưng xanh (blue sash), ở chân có những hoa hồng vàng, tay phải có tràng hạt lớn.

Ngày 25/3, Đức Mẹ nói với Bernadette: “Ta là Mẹ Vô Nhiễm” (I am the Immaculate Conception). Khi đó Bernadette mới nhận ra đó là Đức Mẹ.

Vài lần thị kiến được kiểm tra kỹ lưỡng xem có thật là Đức Mẹ Vô Nhiễm hiện ra hay không. Lộ đức là một trong những nơi nổi tiếng nhất về Đền thờ Mẹ Maria, thu hút hàng triệu khách hành hương mỗi năm. Nhiều phép lạ được ghi nhận tại đền thờ này và dòng nước ở đó. Sau khi điều tra kỹ lưỡng, năm 1862 Giáo hội đã xác nhận việc Đức Mẹ hiện ra.







Khi sinh thời, Bernadette chịu khổ nhiều vì bị người ta khinh bỉ và lùng sục đến nỗi các nữ tu phải bảo vệ trong tu viện. Năm năm sau, Bernadette xin vào Dòng Đức Bà (Notre Dame). Sau một thời gian bị bệnh, Bernadette lại có thể đến Lourdes và vào nhà tập. Nhưng mới được 4 tháng, Bernadette đã được nhận các nghi lễ của Giáo hội và được tuyên khấn. Bernadette trở thành y tá tôn giáo (infirmarian) và người giữ đồ thánh (sacristan). Nhưng sức khỏe yếu vì bệnh mãn tính, Bernadette qua đời ngày 16/4/1879, lúc 35 tuổi, và được phong thánh năm 1933.

13 thg 4, 2013

Tháng 04 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 4)


TUẦN 4
GẶP GỠ ĐỨC KITÔ PHỤC SINH
Khai triển nội dung 

1. Đức Kitô Phục Sinh đang hiện diện trong Hội Thánh của Người dưới nhiều hình thức : trong Lời của Người, trong kinh nguyện của Hội Thánh, nơi người nghèo và người đau khổ…Nhưng đặc biệt nhất là Người hiện diện trong bí tích Thánh Thể. Nơi bí tích này, Đức Kitô Phục Sinh hiện diện cách độc nhất vô nhị : Mình và Máu Người cùng với thần tính và linh hồn của Chúa chúng ta hiện diện cách đích thực, thật sự, và theo bản thể. Người hiện diện nhờ sự biến đổi bánh và rượu thành Mình và Máu Người. Truyền thống Hội Thánh khẳng định cách mạnh mẽ niềm tin vào hiệu lực của lời Đức Kitô trong tác động của Chúa Thánh Thần: “Này là Mình Thầy… Này là Máu Thầy”. Thánh Cyrillô nói: “Bạn đừng hồ nghi điều này có thật hay không, nhưng tốt hơn nên đón nhận bằng đức tin các lời của Đấng Cứu độ, bởi vì Người là chân lý, Người không lừa dối bao giờ”.

2. Trong phụng vụ Thánh Lễ, chúng ta bày tỏ đức tin vào sự hiện diện thật sự của Đức Kitô bằng nhiều cách, như bái gối hay cúi mình sâu để tỏ dấu tôn thờ. Hơn nữa, Hội Thánh còn tôn thờ Thánh Thể không những trong mà cả ngoài Thánh Lễ, bằng cách giữ gìn Mình Thánh Chúa hết sức cẩn thận, qua việc chầu Thánh Thể hoặc rước kiệu Thánh Thể.

3. Chúng ta nên xét mình về thái độ của mình khi bước vào nhà thờ, khi tham dự Thánh Lễ. Thái độ ấy có thật sự thể hiện đức tin vào sự hiện diện của Chúa trong bí tích Thánh Thể hay không. Đồng thời hãy siêng năng đến gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh trong bí tích cao trọng này: “Chúa Giêsu đang chờ đợi chúng ta trong bí tích tình yêu này. Đừng từ chối thời gian đến gặp Người để tôn thờ, để chiêm ngắm trong đức tin, và sẵn sàng đền tạ những tội lỗi và tội ác nặng nề của trần gian. Chúng ta hãy không ngừng tôn thờ Thánh Thể” (Chân phước Gioan Phaolô II).

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Chúa Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể thế nào?
Thưa: Chúa Giêsu hiện diện trong bí tích Thánh Thể cách độc nhất vô nhị và không gì so sánh được, vì Người hiện diện với Mình và Máu, với linh hồn và thần tính của Người (số 282).

Hỏi: Phải tôn thờ bí tích Thánh Thể thế nào?
Thưa: Đó là sự tôn thờ chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa. Chúng ta làm việc tôn thờ này khi tham dự Thánh Lễ, khi chầu Mình Thánh Chúa và khi rước kiệu Thánh Thể (số 286).

Ý cầu nguyện:
Xin Chúa ở lại với chúng con vì trời đã về chiều và ngày sắp tàn.

Tháng 04 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 3)


TUẦN 3
PHỤC SINH VÀ TÔN VINH

Khai triển nội dung
1. Thân thể Đức Kitô đã được vinh hiển ngay khi Người sống lại. Điều này được thể hiện qua những đặc tính siêu phàm nơi thân thể Đấng Phục Sinh : Người có mặt ở nhiều nơi một lúc, Người vào nhà khi cửa đóng kín (x. Lc24,31;Ga 20,19.26). Tuy nhiên trong 40 ngày sau Phục Sinh, vinh quang của Người vẫn còn bị che giấu dưới những nét của nhân tính thông thường (x. Mc 16,12; Lc 24,15). Trong lần hiện ra cuối cùng, nhân tính của Chúa Giêsu tiến vào vinh quang thần linh cách vĩnh viễn; vinh quang này được tượng trưng bằng đám mây và trời, nơi từ nay Người ngự bên hữu Thiên Chúa (x. Cv 1,9; Lc 24,51).

2. Chỉ có Đấng “từ Chúa Cha mà đến” mới có thể “trở về cùng Chúa Cha”, đó là Đức Kitô: “Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” (Ga 3,13). Bằng tự sức mình, nhân loại không thể vào được “Nhà Cha” (x.Ga 14,2), không thể đạt tới sự sống và vinh phúc của Thiên Chúa. Chỉ có Đức Kitô mới có thể mở lối cho con người tiến vào, như chúng ta đọc trong Kinh Tiền Tụng Lễ Thăng Thiên: “Người lên trời không phải để lìa xa thân phận yếu hèn của chúng con, nhưng để chúng con là những chi thể của Người, tin tưởng được theo Người đến nơi mà chính Người là Đầu và là Thủ Lãnh của chúng con đã đến trước”

3. Được đưa lên trời và được tôn vinh sau khi chu toàn sứ vụ, Đức Kitô vẫn hiện diện nơi trần thế trong Hội Thánh của Người. Công trình cứu chuộc là nguồn mạch của quyền bính mà Đức Kitô thực thi trong Hội Thánh bằng sức mạnh của Chúa Thánh Thần. “Nước của Đức Kitô đã hiện diện cách mầu nhiệm” trong Hội Thánh. Hội Thánh là “hạt giống và điểm khởi đầu của Nước Trời nơi trần thế” (Hiến chế Lumen Gentium, số 3 & 5).

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Những gì đã xảy ra sau khi Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết?
Thưa: Trong vòng bốn mươi ngày, Chúa Giêsu đã hiện ra với các tông đồ dưới hình dạng con người bình thường, che giấu vinh quang của Đấng Phục Sinh, sau đó Người lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa Cha (số 132).

Hỏi: Sự thăng thiên của Chúa Giêsu có ý nghĩa gì?
Thưa: Chúa Giêsu lên trời, ngự trị trong vinh quang vĩnh cửu của Con Thiên Chúa, và không ngừng chuyển cầu cho chúng ta trước tòa Chúa. Người cử Thánh Thần của Người đến với chúng ta, và ban cho chúng ta niềm hi vọng một ngày kia sẽ được theo Người, đến nơi Người đã dọn sẵn cho chúng ta (số 132).

Ý cầu nguyện:
Xin cho người Kitô hữu biết gắn bó với những giá trị Nước Trời và góp phần lành mạnh hóa đời sống xã hội.

Tháng 04 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 2)

TUẦN 2
Ý NGHĨA CỦA MẦU NHIỆM PHỤC SINH

Khai triển nội dung
1. Sự phục sinh của Đức Kitô có tầm mức hết sức quan trọng vì “Nếu Đức Kitô không sống lại, thì lời rao giảng của chúng tôi trống rỗng, và cả đức tin của anh em cũng trống rỗng” (1Cr 15,14). Do đó sự phục sinh của Chúa là chân lý trung tâm và nền tảng của đức tin Kitô giáo. Chân lý ấy đã được Thánh Kinh Tân Ước xác lập, được lưu truyền trong Truyền thống các Tông Đồ, và được rao giảng cho muôn thế hệ. Sở dĩ chân lý ấy có tầm quan trọng đặc biệt là vì nhiều lý do.

2. Sự Phục sinh của Đức Kitô hoàn tất những lời hứa của Thiên Chúa trong Cựu Ước, cũng như lời hứa của chính Chúa Giêsu trong cuộc sống trần thế của Người. Sự phục sinh ấy xác nhận thần tính của Chúa Giêsu: Người thật sự là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa “Khi các ông giương cao Con Người lên, các ông sẽ biết là Tôi Hằng Hữu” (Ga 8,28). Do đó, lời giảng dạy và giáo huấn của Người là chân lý của Thiên Chúa, chân lý tuyệt đối, chân lý ban tặng sự sống đích thực và vững bền.

3. Sự Phục sinh của Đức Kitô mở đường cho chúng ta vào đời sống mới, đời sống trong ân sủng của Thiên Chúa, đời sống của những nghĩa tử của Thiên Chúa. Chúng ta được trở thành anh em của Đức Kitô, không phải do bản tính, nhưng do hồng ân của ân sủng Thiên Chúa ban trong Đức Kitô Phục Sinh. Chính vì thế, Hội Thánh cử hành bí tích Rửa Tội cho các dự tòng vào Đêm Vọng Phục Sinh, và nghi thức rửa tội diễn tả ý nghĩa này thật phong phú.
Cuối cùng, sự Phục sinh của Đức Kitô là nguyên lý và nguồn mạch cho sự sống lại của chúng ta : “Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, mở đường cho những ai đã an giấc ngàn thu… Như mọi người đã liên đới với Ađam mà phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Kitô, cũng được Thiên Chúa cho sống” (1Cr 15,20-22).

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Sự Phục sinh của Chúa Giêsu có ý nghĩa gì đối với đức tin của chúng ta?
Thưa: Phục Sinh là chóp đỉnh của mầu nhiệm Nhập Thể, xác nhận thần tính của Đức Kitô, cũng như tất cả những gì Người đã làm và đã giảng dạy (số 131).

Hỏi: Sự Phục sinh của Chúa có ảnh hưởng nào đối với ơn cứu độ?
Thưa: Sự Phục sinh của Chúa đã hoàn thành tất cả các lời Thiên Chúa hứa vì lợi ích của chúng ta. Hơn nữa, Đấng Phục Sinh là nguyên lý cho việc công chính hóa và sự phục sinh của chúng ta. Ngay từ bây giờ, Phục Sinh mang lại cho chúng ta ơn được làm nghĩa tử của Thiên Chúa, được tham dự vào sự sống của Người Con Một, Đấng sẽ làm cho thân xác chúng ta được sống lại vào ngày tận thế (số 131).

Ý cầu nguyện:
Cầu cho anh chị em tân tòng được mạnh mẽ và kiên vững trong đời sống mới.

Tháng 04 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 1)

Tháng 4/2013 là tháng mừng kính mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Kitô. Đây là thời gian thuận tiện nhất để tìm hiểu và sống mầu nhiệm Phục Sinh.
Chủ đề của tháng là: ĐỨC KITÔ ĐÃ SỐNG LẠI THẬT, ALLELUIA!
Chúng ta cùng tìm hiểu chủ đề này qua 4 tuần lễ:
Tuần 1: Sự kiện Phục Sinh.
Tuần 2: Ý nghĩa của mầu nhiệm Phục Sinh.
Tuần 3: Phục Sinh và Tôn vinh.
Tuần 4: Gặp gỡ Đức Kitô Phục Sinh
(Bí tích Thánh Thể).
*********************************************
TUẦN 1
SỰ KIỆN PHỤC SINH
Khai triển nội dung
1. Sự phục sinh của Đức Kitô là một biến cố có thật, với những cuộc tỏ hiện đã được kiểm chứng trong lịch sử. Trước hết là sự kiện ngôi mộ trống. Ở tự nó, ngôi mộ trống chưa phải là bằng chứng trực tiếp cho việc Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, vì người ta có thể đưa ra những cách giải thích khác (x. Ga 20,13; Mt 28,11-15). Dù vậy, ngôi mộ trống vẫn là dấu chỉ căn bản đối với mọi người, là bước đầu dẫn các môn đệ Chúa Giêsu đến chỗ nhìn nhận Người đã sống lại: “Ông đã thấy và đã tin” (Ga 20,8).

2. Cùng với ngôi mộ trống là những lần Đấng Phục Sinh hiện đến với các môn đệ. Bà Maria Mađalêna và các phụ nữ thánh thiện là những người đầu tiên được gặp Đấng Phục Sinh (Mt 28,9-10; Ga Ga 20,11-18). Sau đó Chúa Giêsu hiện ra với các Tông Đồ, trước hết là Phêrô, rồi cả Nhóm Mười Hai (x. 1Cr 15,5). Thánh Phaolô còn nói đến hơn năm trăm người đã được Chúa Giêsu hiện ra một lượt, rồi với ông Giacôbê và với tất cả các Tông Đồ (x. 1Cr 15,4-8). Với tư cách là chứng nhân của Đấng Phục Sinh, các Tông Đồ mãi mãi là những tảng đá nền móng của Hội Thánh. Đức tin của cộng đoàn tín hữu tiên khởi cũng như của chúng ta ngày nay được xây dựng trên lời chứng của các Tông Đồ.

3. Đức Kitô phục sinh không có nghĩa là Người trở lại với cuộc sống trần thế, như trường hợp Lazarô, con trai bà góa Naim hay con gái ông Giairô. Sự phục sinh của Đức Kitô hoàn toàn khác. Người chuyển từ trạng thái của con người tự nhiên phải chết sang một sự sống khác vượt trên thời gian và không gian. Thân thể của Đức Kitô Phục Sinh đầy tràn quyền năng của Thánh Thần, thân thể vinh quang, thuộc thiên giới (1Cr 15,35-50). Vì thế, sự phục sinh của Đức Kitô vừa là một biến cố lịch sử vì đã thật sự xảy ra trong thời gian, vừa là một biến cố siêu việt vì vượt lên trên lịch sử.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Sự phục sinh của Chúa Giêsu có vị trí nào trong đức tin của chúng ta?
Thưa: Phục Sinh là chân lý cao cả nhất của đức tin Kitô giáo. Cùng với thập giá, sự phục sinh của Chúa là thành phần thiết yếu của Mầu nhiệm Vượt Qua (số 126).

Hỏi: Những dấu chỉ nào làm chứng cho sự phục sinh của Chúa Giêsu?
Thưa: Ngoài dấu chỉ chính yếu là ngôi mộ trống, sự phục sinh của Chúa còn được làm chứng bởi các Tông Đồ và những người đã được gặp gỡ Đấng Phục Sinh. Các Tông Đồ đã không thể bày đặt ra chuyện Phục Sinh, vì đối với các ngài, Phục Sinh là chuyện không thể xảy ra. Chính Chúa Giêsu đã trách cứ sự cứng lòng tin của các ngài (số 127).

Ý cầu nguyện:
Xin ơn vững tin vào sự phục sinh của Chúa để cảm nghiệm bình an và niềm vui trong mọi hoàn cảnh.

DẤU LẠ NƠI BIỂN HỒ TIBERIA

"Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá."

Tin Mừng  Ga 21,1-19

Bấy giờ, Đức Giê-su lại tỏ mình ra cho các môn đệ ở Biển Hồ Ti-bê-ri-a. Người tỏ mình ra như thế này. Ông Si-môn Phê-rô, ông Tô-ma gọi là Đi-đy-mô, ông Na-tha-na-en người Ca-na miền Ga-li-lê, các người con ông Dê-bê-đê và hai môn đệ khác nữa, tất cả đang ở với nhau. Ông Si-môn Phê-rô nói với các ông: "Tôi đi đánh cá đây." Các ông đáp: "Chúng tôi cùng đi với anh." Rồi mọi người ra đi, lên thuyền, nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả. Khi trời đã sáng, Đức Giê-su đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Đức Giê-su. Người nói với các ông: "Này các chú, không có gì ăn ư?" Các ông trả lời: "Thưa không." Người bảo các ông: "Cứ thả lưới xuống bên phải mạn thuyền đi, thì sẽ bắt được cá." Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá. Người môn đệ được Đức Giê-su thương mến nói với ông Phê-rô: "Chúa đó!" Vừa nghe nói "Chúa đó!", ông Si-môn Phê-rô vội khoác áo vào vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển. Các môn đệ khác chèo thuyền vào bờ kéo theo lưới đầy cá, vì các ông không xa bờ lắm, chỉ cách vào khoảng gần một trăm thước. Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá đặt ở trên, và có cả bánh nữa. Đức Giê-su bảo các ông: "Đem ít cá mới bắt được tới đây!" Ông Si-môn Phê-rô lên thuyền, rồi kéo lưới vào bờ. Lưới đầy những cá lớn, đếm được một trăm năm mươi ba con. Cá nhiều như vậy mà lưới không bị rách. Đức Giê-su nói: "Anh em đến mà ăn!" Không ai trong các môn đệ dám hỏi "Ông là ai?", vì các ông biết rằng đó là Chúa. Đức Giê-su đến, cầm lấy bánh trao cho các ông; rồi cá, Người cũng làm như vậy. Đó là lần thứ ba Đức Giê-su tỏ mình ra cho các môn đệ, sau khi chỗi dậy từ cõi chết. Khi các môn đệ ăn xong, Đức Giê-su hỏi ông Si-môn Phê-rô: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy hơn các anh em này không?" Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su nói với ông: "Hãy chăm sóc chiên con của Thầy." Người lại hỏi: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không?" Ông đáp: "Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." Người nói: "Hãy chăn dắt chiên của Thầy." Người hỏi lần thứ ba: "Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có yêu mến Thầy không?" Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần: "Anh có yêu mến Thầy không?" Ông đáp: "Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy." Đức Giê-su bảo: "Hãy chăm sóc chiên của Thầy. Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: lúc còn trẻ, anh tự mình thắt lưng lấy, và đi đâu tuỳ ý. Nhưng khi đã về già, anh sẽ phải dang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn anh đến nơi anh chẳng muốn." Người nói vậy, có ý ám chỉ ông sẽ phải chết cách nào để tôn vinh
Thiên Chúa. Thế rồi, Người bảo ông: "Hãy theo Thầy."