7 thg 12, 2013

Chúa Nhật II Mùa Vọng - Năm A


Tin Mừng Mt 3,1-12 

           Hồi ấy, ông Gio-an Tẩy Giả đến rao giảng trong hoang địa miền Giu-đê rằng: “Anh em hãy sám hối,vì Nước Trời đã đến gần.” Ông chính là người đã được ngôn sứ I-sai-a nói tới: Có tiếng người hô trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường cho Đức Chúa, sửa lối cho thẳng để Người đi. Ông Gio-an mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da, lấy châu chấu và mật ong rừng làm thức ăn. Bấy giờ, người ta từ Giê-ru-sa-lem và khắp miền Giu-đê, cùng khắp vùng ven sông Gio-đan, kéo đến với ông. Họ thú tội, và ông làm phép rửa cho họ trong sông Gio-đan. Thấy nhiều người thuộc phái Pha-ri-sêuvà phái Xa-đốc đến chịu phép rửa, ông nói với họ rằng:"Nòi rắn độc kia, ai đã chỉ cho các anh cách trốn cơn thịnh nộ của Thiên Chúa sắp giáng xuống vậy? Các anh hãy sinh hoa quả xứng với lòng sám hối. Và đừng tưởng có thể nghĩ bụng rằng: “Chúng ta đã có tổ phụ Áp-ra-ham.” Vì, tôi nói cho các anh hay, Thiên Chúa có thể làm cho những hòn đá này trở nên con cháu ông Áp-ra-ham. Cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh quả tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa. Tôi, tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để giục lòng các anh sám hối. Còn Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa. Tay Người cầm nia, Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi.”

Sunday II in Advent - Year A

3 thg 12, 2013

CHÂN DUNG NHÀ TRUYỀN GIÁO PHANXICO XAVIER


Thánh Lm Phanxicô Xavie (Francis Xavier), vị Đại Thánh bổn mạng các xứ truyền giáo, trong đó có Việt Nam, được Giáo hội mừng kính ngày 3-12 hàng năm, và cũng là ngày giỗ của ngài, vì ngài mất ngày 3-12-1552.


 
Ngài sinh ngày 7-4-1506 tại Xavier, thuộc Vương quốc Navarre (nay là Tây Ban Nha). Tên khai sinh của ngài là Francisco de Jasso y Azpilicueta. Ngài là con út của ông Juan de Jaso, cố vấn riêng của Vua John III (Jean d’Albret, cai trị Navarre) và bà Doña Maria de Azpilcueta y Aznárez. Ngài có bà con với thần học gia và triết gia Martín de Azpilcueta danh tiếng.

Ngài là học trò của Thánh Inhaxiô Loyola (lập Dòng Tên, Society of Jesus -= SJ), đồng sáng lập viên của Dòng Tên, là nhà truyền giáo và là một trong bảy tu sĩ đầu tiên của Dòng Tên tại Montmartre năm 1534. Ngài làm trưởng nhóm truyền giáo tại Á châu. Ngài có công truyền bá và duy trì Công giáo ở Ấn Độ, kể cả Nhật, Borneo, quần đảo Maluku, và những vùng chưa có dấu chân các nhà truyền giáo. Tại những vùng này, ngài tiên phong và cố gắng học tiếng bản xứ, ngài thành công nhất ở Ấn Độ. Thật lòng ngài muốn tới Việt Nam, nhưng Chúa có kế hoạch khác, nên Việt Nam không được đón tiếp ngài.
Năm 1525, ngài học ĐH Sainte-Barbe ở Paris (Pháp). Năm 1530, ngài nhận bằng thạc sĩ văn chương và dạy triết học Aristotes tại ĐH Beauvais, tương lai rộng mở, danh vọng hứa hẹn. Ngài gặp Inhaxiô Loyola và Pierre Favre tại ĐH Sainte-Barbe. Thánh Inhaxiô đặt vấn đề với ngài: “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?” (Mt 16:26). Thế là ngài bỏ tất cả để đi tu và làm linh mục, rồi tình nguyện đi truyền giáo.
Thánh Inhaxiô cùng với Thánh Phanxicô Xavie và năm anh em khác thành lập Dòng Tên ngày 15-8-1534 tại một nhà nguyện ở Montmartre, cùng nhau khấn đức nghèo khó, khiết tịnh và vâng lời, đồng thời khấn hoán cải người Hồi giáo ở Trung Đông. Dòng Tên đã được Đức giáo hoàng phê chuẩn, khi đó tu sĩ Phanxicô Xavie tới Venice (Ý) để thụ phong linh mục vào ngày 24-6-1537. Đến cuối tháng 10, bảy anh em tới Bologna và cùng làm việc trong một bệnh viện địa phương. Sau đó, Thánh Phanxicô Xavie phục vụ một thời gian ngắn tại Rôma với tư cách thư ký của Thánh Inhaxiô. Sau đó, Thánh Phanxicô Xavie dành phần nhiều cuộc đời để truyền giáo tại Á châu, chủ yếu qua lại bốn nơi là Malacca, Amboina, Ternate (Nhật) và Trung Hoa.
Ngài rời Lisbon ngày 7-4-1541 lúc ngài 35 tuổi, đi cùng hai tu sĩ Dòng Tên khác. Từ tháng 8-1541 tới tháng 3-1542, ngài tới Goa, lúc đó là thủ phủ của Ấn Độ (thuộc địa của Bồ Đào Nha), ngày 6-5-1542, 35 tháng sau khi rời Lisbon. Mùa Xuân năm 1545, Lm Phanxicô Xavie đi Malaca (cũng là thuộc địa của Bồ Đào Nha). Khoảng tháng 1-1546, ngài rời Malacca đi quần đảo Maluku, nơi ngài truyền giáo 1 năm rưỡi cho dân đảo Ambon. Ngay sau lễ Phục Sinh năm 1546, ngài trở lại Malacca.

Tháng 12-1547, tại Malaca, Lm Phanxicô Xavie gặp một người Nhật tên là Anjirō. Chính Anjirō cũng đã nghe nói về Lm Phanxicô Xavie từ năm 1545. Sau khi bị kết tội sát nhân, Anjirō trốn khỏi Nhật. Ông hết nói với Lm Phanxicô Xavie về quá khứ của mình, về văn hóa và văn chương Nhật. Anjiro làm thông dịch cho Lm Phanxicô Xavie để giao tiếp với người Nhật. Và rồi Anjirō trở thành Kitô hữu người Nhật đầu tiên và lấy tên là Paulo de Santa Fe.
Sau khi qua đời, thi hài Thánh Phanxicô Xavie được an táng trên đảo Shangchuan. Thàng 1-1553, người ta khai quật mộ ngài và thấy thi hài ngài còn nguyên vẹn. Rồi người ta đưa thi hài ngài tới Nhà thờ Thánh Phaolô tại đảo Malaca vào ngày 22-3-1553. Ngày 11-12-1553, thi hài ngài lại được chuyển tới Goa. Hòm thánh tích của ngài được chuyển tới Nhà thờ Chúa Giêsu Giáng Sinh tại Goa từ ngày 2-12-1637.
Cánh tay phải, đã từng chúc lành và rửa tội cho nhiều người, được Tổng bề trên Claudio Acquaviva tách ra từ năm 1614 để trưng bày cho mọi người kính viếng tại Nhà thờ Il Gesù ở Rôma. Cánh tay trái của ngài được đưa về Macau. Cuối cùng được chuyển tới Nhà thờ Thánh Giuse năm 1978, rồi lại chuyển tới Nnha2 nguyện Thánh Phanxicô Xavie trên đảo Coloane. Mới đây, thánh tích của ngài được chuyển tới Chủng viện Thánh Giuse và Viện bảo tàng Nghệ thuật Thánh (Sacred Art Museum).

Lm Phanxicô Xavie được ĐGH Phaolô V tôn phong chân phước ngày 25-10-1619, và được ĐGH Grêgôriô XV tôn phong hiển thánh ngày 12-3-1622, cùng với Thánh Inhaxiô Loyola. Cuối cùng, ĐGH Piô XI tôn phong Thánh Phanxicô Xavie làm bổn mạng các xứ truyền giáo (Patron of Catholic Missions).

TRẦM THIÊN THU

ĐOẢN KHÚC 18

 TRANG ĐIỂM

Chẳng ai trang điểm khi sống một mình. Trang điểm là muốn được người nhìn. Muốn đẹp là để thu hút người và để người thu hút mình. Ngày nào còn sự khoắc khoải muốn được thu hút ấy trên mặt đất thì trang điểm sẽ mãi mãi là vấn đề. Trai cần tài, gái cần sắc, từ thế hệ này sang thế hệ khác, từ miền đất này qua miền đất nọ, cứ thế mà con người đi tìm.

Tiêu chuẩn của xã hội mong ước là trời sinh làm con gái thì phải đẹp. Từ đó, người con gái cần vàng bạc, gấm vóc để điểm trang. Đời cũng muốn làm trai phải có tài. Vì thế, trí thức cũng có thể là một thứ trang điểm cho người con trai. Trong những tiêu chuẩn ấy, cũng có tiêu chuẩn cho người tông đồ. Đã là tông đồ thì phải đạo đức.
Bởi thế, thánh thiện có thể cũng là thứ trang sức mà xã hội đẩy người tông đồ đi tìm. Và, khi sự thánh thiện trở thành đồ trang sức thì nhân đức chỉ là một tà áo lụa, một chiếc nhẫn trên ngón tay mà thôi. Có phải người con gái trời đã sinh để làm tươi mát cuộc đời. Họ là bông hoa trên bàn viết cho một người nghệ sĩ, họ đưa sáng tạo tới, họ gọi tác phẩm thành hình.


Thượng Đế muốn họ đẹp để giúp Ngài một tay kiện toàn sự sống trên vũ trụ này, vì thế làm đẹp là “giới luật yêu thương” mà Ngài đã phổ vào tâm hồn mỗi người con gái. Họ được kêu gọi làm đẹp và Thượng Đế chuẩn bị cho họ tằm dâu nhả tơ may áo.
Loài ong cần mật để cho đời ngọt ngào vì đời nhiều đắng cay. Đời cần ngọt ngào để đời tiếp tục sống. Hoa không hương thì làm sao cho ong biết đường tìm đến hoa. Vì thế, hương như nhan sắc gọi ong tới. Hoa lấy hương gọi ong đến mà đưa nhụy phấn bay. Rồi chúng, cả hai, ban cho đời trái thơm dịu dàng.

Hoa cho ong mật ngọt. Ong cho hoa sự sống giao thoa. Sự khôn ngoan của Thượng Đế đã cho hoa có hương chỉ lối cho bầy ong. Cái đẹp của người con gái cũng trong mục đích của Thượng Đế là nuôi dưỡng sự sống của trái đất này. Người con gái cho người con trai tín hiệu mà tìm đường. Bởi đó, người con gái trang điểm cho mình mà không có trái tim kính trọng sự sống và yêu mến sự sống là họ đã ăn cắp ơn sủng của Thượng Đế.

Trái đấy này đẹp là sự sống mà Thượng Đế đã trang hoàng cho nó. Ngài có muôn ngàn cánh ong là sứ giả buông lối bay tìm hoa. Mỗi mùa hoa nở là nghìn vạn tiếng gọi yêu thương. Từng hoa đánh đi những tín hiệu yêu. Rồi ngang dọc bầu trời, hàng triệu cánh ong nhỏ bận rộn vì những tín hiệu ấy. Chúng bay mọi góc biển chân trời để kiếm tìm. Chúng vượt thung lũng, chúng băng rừng già, chúng ngang sa mạc. Tất cả vì Thượng Đế có sáng kiến vô cùng thú vị. Ngài làm cho vũ trụ nôn nao chỗ nào cũng là yêu mến. Rồi êm đềm mà rạo rực, cả mặt đất chuyển mình. Bông hoa im lặng kết nụ thành trái. Hàng triệu triệu sự sống trong trái ngọt sẵn sáng gieo xuống đất mềm cho vũ trụ tiếp tục vũ điệu.

Từ nguyên thủy lâu lắm rồi, và sẽ là mãi mãi sau này không ai biết đến bao giờ, hoa cứ có hương và bầy ong cứ náo nức đi tìm. Hoa không bay đi đây đó nhìn vũ trụ được thì Thượng Đế cho hương để mà làm dáng. Để bầy bướm rách cánh trong sương. Để bầy ong vất vả tìm kiếm. Nhưng hoa và ong, chúng chung khúc ngợi ca sự sống. Từ vùng đất này tới vùng đất khác. Hoa tiếp tục trang điểm đời mình bằng hương cho ong. Ở nơi đâu cũng thế, từ bờ tre vắng vẻ đến đồi sim trên ngàn hoa nào cũng có sắc cho bầy bướm khỏi lạc lối. Chúng bận rộn trang điểm cho mình. Và vì thế mà vũ trụ mới tươi xinh. Ngày hoa hết sắc màu và không còn hương bay. Ngày đó sẽ ủ dột cho bấy bướm biết bao bà sầu buồn cho cánh ong như thế nào. Đấy là ý nghĩa của trang điểm.

Sau khi tạo dựng nên những tín hiệu yêu thương ấy. Thượng Đế thấy bầy ong và cánh hoa thu hút nhau, Ngài hài lòng để rồi viết những trang đầu Kinh Thánh như thế này: “Mọi sự đều tốt lành quá dỗi” (St 1,31).
Thấy mọi sự tốt lành. Vũ trụ tưng bừng tìm kiếm tìm những tín hiệu yêu. Rồi Ngài bảo: “Ta hãy làm ra con người” (St 1,26). Thế rồi Ađam-Evà vào đời. Thượng Đế bảo họ: “Hãy sinh sôi nẩy nở và nên đầy dẫy trên mặt đất” (St 1,28). Từ đó, Evà theo hoa gởi những tín hiệu yêu và Ađam bắt chước cánh ong đi tim. Evà có nhan sắc và bầy bướm trong hồn Ađam rung cánh trong sương mai.
Nhưng câu chuyện thần tiên không bao lâu phải chấm dứt. Evà đã muốn trang điểm cho mình một trí tuệ: “Ngày nào ăn trái táo ấy nàng sẽ nên thông minh” (St 3,4). Evà nhìn trái cây đẹp mắt và thèm ăn. Người đàn bà đầu tiên của vũ trụ đã hái trái táo hồng đưa lên môi. Người thiếu nữ trang điểm sai từ dạo đó.

Theo dọc thời gian vào những thế kỷ tiếp nối, trang điểm là đầy đọa lao đao cho mọi người con gái. Khi người con gái trang điểm mà không có thương yêu cho sự sống thì tín hiệu yêu sẽ làm người con trai lầm lạc. Khi người con trai lầm lạc thì con người khổ lụy.
Sau trái táo Evà, cuộc luân vũ tuyệt vời của con người đã chấm dứt. Chỉ còn hoa và bầy ong vẫn tiếp tục. Trái đất hoang vu lỗi cung điệu nên Thượng Đế tiếp tục tạo dựng bầy ong và rừng hoa để lời Kinh Thánh còn nối tiếp âm hưởng tốt đẹp thuở ban đầu. Ngày nào người con gái còn trang điểm sai thì vũ trụ còn lỗi nhịp. Ngày nào người con trai còn lầm lẫn vì trang điểm của người con gái thì lỗi nhịp ấy vẫn nối dài.

Người con gái có nên trang điểm cho người con trai tìm kiếm? Chắc Thượng Đế muốn như vậy. Nhưng thế nào là trang điểm và thế nào là đẹp thì e rằng người con gái chắc khó đủ trí tuệ để trả lời. Vì họ muốn thông minh như các thần “để biết mọi sự” nên trí tuệ họ thành cằn khô. Ađam đã lầm lẫn ngay bởi trí tuệ của Evà thì làm sao người con trai trả lời được câu hỏi ấy. Bởi đó, đi tìm định nghĩa cho trang điểm vẫn là câu hỏi gian nan. Và rồi, người con gái sẽ tiếp tục gian nan vì nhan sắc. Còn người con trai vì nhan sắc cũng sẽ tiếp tục gian nan theo.
Chinh phục làm người ta thỏa mãn hạnh phúc và để người khác chinh phục cũng là thú yêu đương.
Yêu và được yêu là nhu cầu sống. Bởi thế, con người tiếp tục trang điểm để thu hút nhau. Rồi xã hội cũng sẽ tiếp tục trang điểm để thu hút nhau. Rồi xã hội cũng sẽ tiếp tục ban ra những thúc đẩy. Trai phải tài. Gái phải sắc. Tu sĩ phải đạo đức. Những khả năng ấy cần thiết để người đến với mình, để mình đến với người. Vì thế, người tông đồ cũng không dễ tránh khỏi đi tìm sự thánh thiện để đáp ứng quy định xã hội và nhu cầu của mình. Từ đấy, nảy sinh những nhân đức như một thứ trang điểm.

Thánh thiện là hương nhân đức, nó thắp sáng bóng đêm. Khi người tông đồ lấy sự thánh thiện để trang điểm thì phải tìm ánh sáng để lộ ra người ta mới thấy nhân đức. Thánh thiện ấy không có khả năng đưa nhân đức ngược chiều gió, nên người tông đồ đó phải tìm chiều gió mà thả hương.
Khi chán việc tông đồ vì người khác không thấy nhân đức của mình thì đấy là dấu hiệu nhân đức đó chỉ là một thứ trang điểm.

Bấy giờ, trong đáy sâu linh hồn có bóng dáng của ghen tuông thôi thúc. So sánh mình với người. Xao xuyến về lời khen chê của người chung quanh định giá về tiếng tăm của mình, băn khoăn về địa vị nơi xã hội sẽ làm lệch lạc nhận thức về sự thiêng liêng của công việc tông đồ. Và rồi, cũng việc tông đồ, nhưng nếu tôi mất đi ngôi vị kia, không được người ấy để ý, tôi thấy chán nản rồi thôi không hợp tác nữa.
Người con gái trang điểm sai là đem đời mình đi bên vực thẩm chênh vênh. Nhưng người tông đồ dùng sự thánh thiện để trang điểm sẽ đem đời mình đi dưới hố sâu.

Lm Giuse Nguyễn Tầm Thường

1 thg 12, 2013

ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TỪ TRONG GIA ĐÌNH

Lại một lần nữa, Chính quyền Việt Nam hứa hẹn sự đổi mới trong giáo dục. Trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định rằng giáo dục và đào tạo phải “được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội”. Cũng trong bài phát biểu này, ông trình bày cái nhìn về mục tiêu của giáo dục là “giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, hết lòng phục vụ nhân dân và đất nước…”

Chuyện đổi mới giáo dục ở Việt Nam là chuyện ai cũng nói tới, rồi cuối cùng ai cũng nản vì thấy mọi sự chẳng thay đổi gì, tình hình ngày càng tệ hơn về mọi mặt: trí thức, đạo đức, nhân cách. Tuy nhiên trong phát biểu lần này của ông Tổng bí thư, người ta ghi nhận một biến chuyển tuy nhỏ nhưng quan trọng. Đó là nói đến “yêu gia đình” trước, rồi mới đến “yêu Tổ quốc”. Giải thích về sự thay đổi này, ông Vũ Ngọc Hoàng, ủy viên Ban chỉ đạo đổi mới giáo dục, nói: “Tổ quốc phải bắt đầu từ gia đình. Ngay truyền thuyết về đất nước Việt Nam cũng bắt nguồn từ câu chuyện một gia đình, từ bọc trăm trứng Âu Cơ – Lạc Long Quân mà tỏa ra thành đồng bào cả nước. Nói gần gụi hơn, một đứa trẻ từ môi trường giáo dục mầm non, rồi phổ thông, và kể cả ở cấp học cao hơn nữa, sợi dây liên kết mãnh liệt nhất với các em, chiếc nôi hình thành nhân cách không gì khác hơn là gia đình… Nếu không giáo dục lớp trẻ biết yêu gia đình thì khó có thể hi vọng họ sống chết cho Tổ quốc… Trong ba yếu tố ‘gia đình’, ‘nhà trường’, xã hội’, thì gia đình là yếu tố khởi đầu và vô cùng quan trọng trong việc hình thành nhân cách con người” (Tuổi Trẻ, 11-10-2013).

Việc thay đổi “điểm nhấn” này đã gặp được những phản hồi tích cực. Ông chủ tịch hội Tâm lý giáo dục ở Hà Nội chia sẻ: “Dạy trẻ biết yêu những gì gần với các em nhất, coi đó là khơi nguồn để gây dựng sự hiểu biết, tình yêu lớn hơn với dân tộc, đất nước, (điều đó) nằm trong hành trình hợp lý với nhận thức của các em”. Một nhà quản lý giáo dục khác phát biểu: “Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình hòa thuận, hạnh phúc, văn minh thì tất yếu đất nước sẽ phát triển vững bền. Tôi rất tâm đắc với mục tiêu giáo dục này”.

Trên đây chỉ là một vài ý kiến của những vị có trách nhiệm cao trong xã hội. Nếu được hỏi ý kiến, chắc chắn phần lớn người dân đều đồng tình với sự đề cao vai trò của gia đình trong tiến trình giáo dục. Bởi lẽ đó là một điều gì rất tự nhiên và phù hợp với kinh nghiệm sống của bản thân cũng như kinh nghiệm xã hội. Người công giáo chắc chắn còn vui mừng hơn nữa vì từ xưa đến nay, Hội Thánh công giáo vốn trân trọng và đề cao vai trò của gia đình đến nỗi coi việc giáo dục con cái là “quyền và bổn phận hàng đầu, bất khả nhượng của cha mẹ”. Chỉ tiếc là phải mất quá nhiều năm nhà cầm quyền mới nhận ra được giá trị đích thực của những gì vốn rất giản đơn và minh bạch.

Không hẹn mà hò, cũng vào thời điểm này, trong Thư Chung 2013, Hội đồng Giám mục Việt Nam kêu gọi Cộng đồng Dân Chúa thực hiện kế hoạch Phúc-Âm-hóa kéo dài 3 năm, và năm đầu tiên, 2014, được dành cho nỗ lực Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình. Ngoài ra, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng quyết định triệu tập Thượng Hội Đồng Giám Mục khóa ngoại lệ vào tháng 10/2014 về chủ đề Chăm sóc mục vụ cho Gia đình. Ước mong đây sẽ là tín hiệu tốt cho nỗ lực củng cố đời sống gia đình và góp phần tích cực vào việc chấn hưng giáo dục trong lòng xã hội.

THIÊN TRIỆU

NIỀM VUI CHÚA ĐẾN TRONG GIA ĐÌNH

Bước vào Mùa Vọng là bắt đầu một Năm Phụng Vụ mới. Với Giáo Hội Công giáo Việt Nam, năm Phụng Vụ 2014 được ghi dấu bằng hai sự kiện đặc biệt.
Một là Hội đồng Giám mục Việt Nam đã đề ra kế hoạch mục vụ kéo dài 3 năm (2014–2016) với mục tiêu Tân Phúc-Âm-hóa để thông truyền đức tin Kitô giáo,đồng thời chọn năm 2014 là năm Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình.
Hai là cùng với Giáo Hội toàn cầu, chúng ta hân hoan đón nhận tông huấn mới của Đức Thánh Cha Phanxicô: Evangelii Gaudium, Niềm Vui Phúc Âm“Niềm vui của Phúc Âm tràn ngập tâm hồn và đời sống của tất cả những ai gặp gỡ Chúa Giêsu. Những ai đón nhận quà tặng cứu độ của Người thì được giải thoát khỏi tội lỗi, ưu phiền, sự trống rỗng và cô đơn trong tâm hồn. Với Đức Kitô, niềm vui không ngừng được sinh ra”.
Nối kết hai sự kiện trên, Mùa Vọng năm nay trở thành lời mời gọi đặc biệt đến các gia đình Công giáo: Hãy sống niềm vui Chúa đến trong gia đình. Niềm vui Chúa đến sẽ tràn ngập đời sống gia đình khi mỗi thành viên trong gia đình mở lòng ra đón nhận Hài nhi Giêsu, khi mọi người trong nhà cùng nhau xây dựng gia đình thành tổ ấm chan chứa yêu thương, và làm cho niềm vui yêu thương ấy lan tỏa ra chung quanh.
Để đón nhận và sống niềm vui Chúa đến trong gia đình, không có khuôn mẫu nào lý tưởng và đẹp đẽ cho bằng Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse.
Cả hai đấng đều đặt thánh ý Chúa lên trên hết: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền” (Lc 1,38); “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón bà Maria về nhà” (Mt 1,24).
Thánh ý Chúa không phải lúc nào cũng rõ ràng tỏ hiện, các ngài phải tìm kiếm trong cầu nguyện và suy nghĩ, nhiều khi trong tăm tối. Trước sự kiện Đức Maria thụ thai, thánh Giuse không hiểu được đâu là nguồn cơn và phải ứng xử thế nào cho phải: “Ông Giuse là người công chính và không muốn tố giác bà (Maria), nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19). Đức Maria cũng hết sức ngỡ ngàng trước tiếng gọi của Chúa: “Việc ấy làm sao xảy ra được vì tôi không biết đến việc vợ chồng” (Lc 1,34). Cả hai đấng lấy làm ngỡ ngàng khi nghe trẻ Giêsu trả lời: “Sao cha mẹ lại tìm con? Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà của Cha con sao? Nhưng hai ông bà không hiểu lời Người nói” (Lc 2,49-50). Và thánh Luca nhiều lần ghi nhận về Đức Mẹ: “Bà Maria hằng ghi nhớ mọi sự và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2,19,51).
Một khi đã khám phá ra thánh ý Chúa, các ngài sẵn lòng đón nhận, dù phải hi sinh và chịu nhiều đau khổ như lời cụ Simêon nói với Đức Maria: “Về phần bà, một lưỡi gươm sẽ đâm thâu tâm hồn bà” (Lc 2,35).
Tấm gương ấy mời gọi các gia đình Công giáo đặt Chúa làm trung tâm của đời sống chung trong gia đình, thường xuyên tìm kiếm thánh ý Chúa qua cầu nguyện và lắng nghe Lời Chúa, dù khi được bình an hay khi phải đối diện với những khó khăn, thử thách. Sống theo thánh ý Chúa không hề là chuyện dễ dãi, nhất là trong một thời đại mà những giá trị Phúc Âm bị coi như lỗi thời và phản tiến bộ. Thế nhưng cuộc đời của Mẹ Maria và Thánh Cả Giuse làm chứng rằng đó chính là nẻo đường dẫn đến niềm vui đích thực, thay cho những lời phỉnh gạt của ma quỷ, chỉ dẫn đến những niềm vui giả trá.
Lời nhắc nhở của Đức Thánh Cha Phanxicô trong tông huấn Niềm Vui Phúc Âm đáng cho chúng ta ghi nhớ và suy nghĩ: “Mối nguy hiểm lớn trong thế giới hôm nay do tác động của chủ nghĩa tiêu thụ là sự thất vọng và chán chường, phát xuất từ con tim tham lam điên cuồng chạy theo những khoái lạc chóng qua, và một lương tâm lu mờ. Bất cứ khi nào đời sống tâm hồn chúng ta bị bó chặt vào những quan tâm và lợi ích riêng của mình thôi, thì tâm hồn không còn chỗ cho tha nhân, cho người nghèo nữa. Tiếng nói của Thiên Chúa không còn được lắng nghe, không còn cảm nhận được niềm vui tĩnh lặng của tình yêu Chúa, và ước muốn làm điều lành cũng nhạt nhòa” (Evangelii Gaudium, số 2).
Lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến và xin cho niềm vui của Chúa tràn ngập gia đình chúng con.
Thiên Triệu

CHỐNG LẠI THÓI QUEN

Chúa Nhật I mùa vọng  - Năm A
“Anh em hãy tỉnh thức!”
Giấc ngủ là thói quen của chúng ta. Nó làm chúng ta không ý thức được ngày giờ trôi qua.

Chúa Giêsu mô tả thói quen này như sau: “Vào thời Noe, người ta ăn uống, người ta dựng vợ gả chồng …”. Có một người thoát ra khỏi thói quen này đúng lúc, đó là Noe. “Noe bước lên tàu”. Còn những người khác vẫn sống “mà không nghi ngờ gì cả, cho đến khi trận lụt nhận chìm họ”.
Thói quen nhận chìm chúng ta. Bạn hãy nghĩ đến những câu: “Tôi phải phản ứng lại… Tôi phải bắt đầu… Không thể tin được là thời gian trôi qua nhanh thế… Nếu có thể làm lại điều đó… Nếu lúc trẻ mà biết thì …”.

Chúng ta biết chứ. Chỉ cần lắng nghe Chúa Giêsu thì đủ rõ: “Hai người cùng ở trong ruộng, thì một sẽ bị đem đi, và một sẽ được để lại; hai bà cùng xay bột nơi cối, thì một sẽ bị đem đi và một sẽ được để lại. Vậy các ngươi hãy tỉnh thức”. Khi làm cùng những công việc, có người thì chết, có người thì sống. Có người không chuẩn bị gì cả, có người đã chuẩn bị sẵn sàng.

Sẵn sàng cho cái gì? Phải lặp đi lặp lại lời kêu gọi cảnh giác này vì Chúa Giêsu cũng lặp đi lặp lại lời kêu gọi cảnh giác đó, một sự cảnh giác thật sự. Sự cảnh giác có thể có vẻ như một sự lo âu làm cho tê liệt, hoặc đi đến chỗ đặt câu hỏi “ích lợi gì cơ chứ?” làm cho quay sang khinh dể thế gian và những công việc trần thế.
 Không, trái lại, sự cảnh giác trong Phúc Âm là một sức sống mạnh mẽ hiện tại, bởi vì người ta luôn luôn xác minh được ở đó ích lợi và sự biểu hiện thực sự của điều mà người ta đang làm.

Những thói quen của chúng ta (công việc, truyền hình, xe cộ), những lo toan của chúng ta (kiếm tiền nhiều hơn, hoàn thành nhiệm vụ nào đó), những dự định nghỉ ngơi (mong ngày cuối tuần mau đến, mong kỳ nghỉ hè mau đến), có phải những điều đó làm cho mỗi người chúng ta sử dụng cuộc sống đến nơi đến chốn rồi chăng? Đâu là tình yêu, nghĩa là cuộc sống 100%? Sự phục vụ huynh đệ, nỗi ám ảnh truyền giáo, kinh nguyện, ở đâu?

“Tôi không có thời giờ” đôi khi là tiếng than phiền của cuộc sống mãnh liệt. Nhưng thường thì đây là bài ca của thói quen. Thói quen ca bài này rất hay.

Sự tỉnh thức của người Kitô hữu không gì khác hơn là cuộc sống trước mặt Thiên Chúa, cuộc sống với Thiên Chúa. Người ta làm đúng y cũng những điều đó, nhưng chúng có thêm một ích lợi, một chiều dày. “Một sẽ bị đem đi, và một sẽ được để lại”. Những người tỉnh thức đã bám rễ trong vĩnh cửu, những người thủ cựu thì ở trên bề mặt, lúc nào họ cũng có nguy cơ bị quét đi.

Khác xa việc lấy mất sở thích những gì thuộc về cuộc sống, sự tỉnh thức thật sự mang lại thú vị cho những bước khai tâm, những bước đầu học tập lý thú. Tuyệt vời làm sao, qua những gì người ta sống, khi trở thành một người được xây dựng cho sự vĩnh cửu và xây dựng một phần của nhân loại vĩnh cửu!

Chống lại thói quen là sao? Là suy nghĩ, lại tiếp tục, không buộc mình chỉ sống theo đồng hồ, lịch hoặc sự đều đặn máy móc và bảo “tôi luôn luôn làm điều đó”.

Người tín hữu Kitô “sẵn sàng” là người sống cái bình thường một cách hết sức tự do, ý thức, đến độ điều này giữ cho họ tỉnh thức đối với điều bất ngờ, trong đó có giờ phút cuối đời, giờ kẻ trộm đến: “Hãy sẵn sàng, vì vào chính giờ các ngươi không ngờ, thì Con Người sẽ đến".

André Sève

CHÚA NHẬT THỨ I - MÙA VỌNG



Tin Mừng Mt 24,37-44         
Hôm ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Thời ông Nô-ê thế nào, thì cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thuỷ, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Nô-ê vào tàu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ ập tới cuốn đi hết thảy. Cuộc quang lâm của Con Người cũng sẽ như vậy. Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại. Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này: nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến.”

Sunday I of Advent - Year A