15 thg 12, 2013

ĐOẢN KHÚC 25

 MÂY TRỜI

Là bụi tro tôi sẽ trở về với tro bụi. Như mây hợp rồi tan. Rất đơn sơ. 
Nhưng mây sẽ làm gì từ khi hợp đến khi tan ? Từ khi đến lúc tan là một hành trình dài của mây. Tôi đền từ bụi tro, ngay nào đó tôi lại thành bụi tro thôi. Ngắn gọn là thế. Nhưng quãng đường từ thứ bụi tro này đến bụi tro khác là đời dài. Cũng như mây, tôi sẽ làm gì trên những hành trình dài đó của cuộc sống ? 
Mây đem mưa cho núi đồi. Những sợi nước ngọt gọi đất thức giấc. Từ mong đợi của lòng, đất nhẹ nhàng thở hơi. Và rừng xuân thay lá. Rừng vắng ngáy ngủ có mây về rải mưa. Rồi rừng thức dậy vào liên khúc bốn mùa. Mây về đem mưa cho đất thành đồi cỏ xuân. Từ ngàn xưa, Cựu Uoc đã chờ mưa, những dòng mưa thiêng liêng cho tâm hồn: "Trời cao hãy đổ sương xuống và ngàn mây hãy mưa Đấng Cứu Chuộc tôi ’’

Là Linh mục, xin Chúa cho đời con làm đám mây hồng. Vẫn biết hợp rồi tan nhưng lời cầu của con là trước thời điểm tan loãng, con biết đem mưa đến cho đời. Có những hanh nắng và thửa vườn cằn khô. Ai đâu đến với họ cho họ một niềm vui. Biết bao mỏi mệt đổ dài trên những cuộc đời vất vả. Mùa đông cứ im, cành cây cứ lặng và họ mong mưa xuân từng ngày rất mệt mỏi. Mây không lười biếng. 
‘ Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít ’’ (Lc 10,2).
Xin cho con được bay theo đường bay của Chúa Thánh Thần. Vào giờ Thánh Thần Chúa ban lệnh, con sẵn sàng lên đường ngay.
Mây bay ngang trong đời và may không chọn vùng trời. Mây đem mưa cho đời và mưa không chọn từng người . Mây không rủ mưa về mảnh vườn thương mến. Mưa không rơi trên những núi đồi nào mến thương mình. Mây vô tư bảo mưa quảng đại. Bởi, mây biết mình hợp rồi tan. Mây biết mình thuộc về trời cao nên không mơ tưởng những gì thuộc về đất thấp.

Mưa cho đi là cho rộng rãi. Cho cỏ cũng như cho hoa. Cho ruộng mạ cũng như cho rừng già. Mây đem mưa là mưa bao dung. ‘ Mưa rơi trên người công chính cũng như trên kẻ ác’’ (Mt5,45). Mưa không tránh lòng tham của sa mạc khô cháy. Mây không ngại hao mòn vì mây biết đời mình là tan theo dòng mưa. “Chẳng có tình nào là cao quý bằng chết cho người mình thương mến ” (Ga 15,13)
Là linh mục, xin Chúa cho con nhìn mây mà cầu nguyện, nhìn mưa mà khấn xin. Xin cho con độ lượng, bao dung. Khi mưa không vô tư, chỉ đem nước cho mảnh vườn mình âu yếm thì đấy không phải là mưa, mà là nước từ ao hồ người làm vườn rẩy lên. 

Khi đời linh mục của con có lối ngả riêng thì đấy không phải là cho nhau ơn sủng từ trời cao, mà là nhặt nhặn những mẫu bánh đã rơi lâu ngày ở mặt đất. Chỉ co mưa từ trời thì hạt nước mới trong, Nước từ hồ ao có thế vấn bùn làm cho cành hoa thật đẹp mất xinh tươi.

Mây đi muôn phương. Không có đồi thu nào giữ được chân mây. Không có rừng hạ nào bảo được mây thôi đi. Mây không có nhà, chẳng mảnh vườn nào quyến rũ được mây lưu lại chọn làm quê hương. Tôi mong đời mình như mây. Tôi mơ đời mình tự do như Đức Kitô : ‘Chồn có hang, chim có tổ, nhưng Ta không có viên đá tựa đầu ’ (Lc 9,58). Chim có tổ nên phải nhờ lối về. Chồn có hang nên không quên được vùng đất mốc. Còn Đức Kitô thì tự do khắp đồi núi. 

Tôi muốn như mây, dù có thương nhớ trên trên thung lũng nào đó, mây vẫn bay. Có tiếng gọi từ dòng suối nào đó nào đó bảo mây nghỉ ngơi, mây vẫn giã từ. Mấy cứ nhẹ nhàng trôi. Mây tự do. Không ai rành được chân mây. Tôi muốn đời tôi là thế. Tôi muốn không bao giờ xây hạnh phúc bằng những bến đỗ. Mây rong ruổi ngàn gió. Mây thuộc về trời cao thanh tịnh. 

Lạy Chúa,đôi lúc con đã phân vân ở những lười biếng mà đáng lẽ con phải dứt khoát. Con đã ngại ngùng ở những bổn phận mà đáng lẽ con phải ấp. Con khác mây vì mây ở trên cao còn con ở đất thấp. Mơ về trời cao từ đất thấp làm sao không gian nan. Để như mây, lạy Chúa, con cũng phải thản nhiên lên đường. Dũng cảm. 

Mây tặng mưa xuống ngàn rồi mây quên. Con ban tặng là muốn họ lệ thuộc. Trong quà tặng cho đi có im lặng của ràng buộc tinh vi. Mây không muốn ai ngủ trong bóng mây của mình. Còn con muốn chở che người như căn nhà quen để họ lại tìm về. Mây cho bóng mát là mây cho nâng đỡ để họ tìm đường đi lên. Con cho bóng mát là muốn họ lưu luyến. Vì thế, bóng mát của mây cần thiết còn bóng mát của con có thể làm chậm lối người đi.

Mây cho mưa, mưa không bao giờ lấy lại. Dù sa mạc chẳng bao giờ có đồi cỏ, mây vẫn đem mưa không chối từ. Còn con, sao mà khó khăn khi muốn độ lượng. Trong cho đi có giằng co. Mây đem mưa vì bản tính của mưu là ban phát. Mưa không đòi điều kiện. Độ lượng của con nhiều khi phải qua những cánh cửa khắt khe của biết bao nhiêu tiêu chuẩn. Con biết như vậy mà hồn mình vẫn chưa thênh thang.

Mây bay hàng ngày qua ngõ nhà thờ. Mây bay hàng chiều qua ngõ hồn con. Ngày ngày có mây nhắc nhở mà sao kinh cầu vẫn quên.

Người nghệ sĩ yêu chiều mây. Không mây buổi chiều sẽ đơn điệu. Không trời chiều sẽ u mặc và lên màu sa mạc buồn tênh. Nhưng nếu mây không bay theo gió, mây chọn một khung trời rồi ngưng đọng, buổi chiều ở đấy rồi cũng thành nhạt nhẽo. Nếu mây hợp rồi không tan, sắc mây sẽ nhàm chán. Nếu mây chỉ có một màu thì buổi chiều cũng là rất vắng. Chiều không quên là chiều mà những áng mây biết hòa hợp với nhau để đem chiều lên muôn màu. Chiều chỉ có một màu mây là chiều mây sẽ không ai nhớ. Đời người cũng thế thôi. “Ai tìm kiếm sự sống mình thì sẽ mất ’’(Mt 10,39)

Ngang đời là một bến chiều. Xin cho tôi biết nhìn mây mà dừng cân nhủ lòng tìm bến đỗ thiêng liêng cho tâm hồn.
Mây đem màu về góp hội. Mây không tranh giành nên mây không tính toán làm sao cho mình nhớ. “ Hoa quả của Thánh Thần là mến yêu,vui mừng, bình an, đại lượng, nhân hậu, trung thực, hiền từ,tiết độ” (Gl5,22)

Mây không băn khoăn muốn mình được nhờ vì mấy luôn nhờ mình hợp đó nhưng sẽ tan. Có phải nhờ mình sẽ tan mà mây độ lượng bao dung. Khi muốn được nhờ là bắt đầu rơi vào những ràng buộc. Vũ điệu là tung hướng đi muôn phương. Ràng buộc sẽ làm vũ điệu thành những bến đỗ. Bến đỗ thì chi biết mong người đến chứ không đến được với người. Mây vào đời cũng như chào giã từ cuộc đời, nhẹ nhàng như một bến mơ. 
“ Nếu sống bởi thánh thần thì theo Chúa Thánh Thần mà tiến bước ” (Gl 5,25). Lạy Chúa, lời nguyện ấy của Phaolô từ nghìn xưa năm cũ chớ gì cũng là lời nguyện của con hôm nay. Mây hôm nay cũng vẫn là mây của tháng ngày Phaolô ngồi viết Thông Thư bên đồi Galát thôi. 
Gửi mây trong gió. Và, xin gởi lời nguyện từ mơ ước của tâm hồn cho mây. 
Lm Giuse Nguyễn Tầm Thường

14 thg 12, 2013

Chúa Nhật III Mùa Vọng - Năm A


Tin Mừng Mt 11,2-11
           Đang ngồi tù, ông Gio-an nghe biết những việc Đức Ki-tô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: “Thưa Thầy, Thầy có đúng là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?” Đức Giê-su trả lời: “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gio-an những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng, và phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi.” Họ đi rồi, Đức Giê-su bắt đầu nói với đám đông về ông Gio-an rằng: “Anh em ra xem gì trong hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió chăng? Thế thì anh em ra xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua. Thế thì anh em ra làm gì? Để xem một vị ngôn sứ chăng? Đúng thế đó; mà tôi nói cho anh em biết, đây còn hơn cả ngôn sứ nữa. Chính ông là người Kinh Thánh đã nói tới khi chép rằng: Này Ta sai sứ giả của Ta đi trước mặt Con,người sẽ dọn đường cho Con đến. Tôi nói thật với anh em: trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gio-an Tẩy Giả. Tuy nhiên, kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời còn cao trọng hơn ông.”

Sunday III in Advent - Year A

13 thg 12, 2013

Thánh LUCIA, Đồng trinh Tử đạo (Thế kỷ IV)






Thánh LUCIA, Đồng trinh Tử đạo (Thế kỷ IV)

Theo lịch sử, chắc chắn là đã có một thánh nữ tử đạo tên là Lucia và mộ ngài được tìm thấy trong hang toại đạo của các Kitô hữu Syracusa. Sau đây là câu chuyện về cuộc tử đạo của ngài.

Lucia là một thiếu nữ quí phái người Syracusa tại thủ đô miền Sicily. Mẹ ngài gốc người Hy Lạp tên là Eutychia, có nghĩa là hạnh phúc. Sớm thành goá phụ, bà đã gắng chuẩn bị cho Lucia một địa vị cao bằng cách dưỡng dục thánh nữ theo tinh thần Kitô giáo. Bà thường nói với con gái mình về lòng can đảm của các vị tử đạo đã tưới máu trên đế quốc hai thế kỷ qua. Như ở Sicily, tại hải cảng Catana, nửa thế kỷ trước thánh nữ Agatha thay vì chối bỏ đức tin, đã khước từ tình yêu của quan cầm quyền và trung thành với Chúa Kitô giữa các cực hình.

Mẫu gương đáng phục này đã ám ảnh Lucia và khi Eutychia nhận lời cầu hôn cho con gái mình, Lucia khẩn cầu Chúa cất xa những cuộc cưới hỏi trần thế để dâng hồn xác phụng sự một mình ngài thôi. Bỗng Eutychia ngã bệnh, Lucia lấy cớ này để đình hôn. Dầu vậy, ngài thấy buồn vì mẹ khổ lâu, nên khuyên bà kêu cầu với thánh nữ Agatha, ngài đưa mẹ đi Cathana để dưỡng bệnh. Khi đó, ngài xem thường những sắc lệnh bách hại đạo của Điôclêtianô, khấn hiến mình hoàn tòan cho Thiên Chúa. Ngài đòi phân gia tài để phân phát cho người ghèo. Ngài nói: “Dâng cho Chúa điều người ta không mang theo sau khi chết thì cũng không có gì là nhiều”.

Nhưng người theo đuổi Lucia thấy ngài bán nữ trang và ruộng đất rồi phát cho người khổ cực, liền nổi giận và tố cáo với Paschse là người cầm quyền ở Syracusa. Lucia bị cầm tù. Trước toà, ngài đã trả lời cách đáng phục:

“Giờ thì tôi chẳng còn gì nữa để dâng, tôi dâng chính mình như bánh thánh lên Thiên Chúa tôi cao. Ông run rẩy trước mặt Thiên Chúa, còn tôi, tôi kính sợ Thiên Chúa. Ông muốn làm đẹp lòng họ, còn tôi, tôi chỉ có một ước vọng là làm đẹp lòng Chúa Kitô thôi. Những người thiêu huỷ thân xác là những người bỏ niềm vui mau qua để đổi lấy những niềm vui đời đời. Thánh Phaolô tông đồ đã nói: Ai sống trong sạch và đạo đức là đền thờ Thiên Chúa và Chúa Thánh Thần ở trong họ. Thân thể chỉ ra nhơ uế nếu linh hồn đồng tình với nó”.

Nhà cầm quyền truyền trao Lucia cho bọn đâm đãng để làm nhục cho đến chết. Nhưng ngài đã thành một sức mạnh khủng khiếp khiến bao sức lực của họ cũng không thể kéo ngài đi được. Người ta kêu các phù thuỷ, đưa bò đến kéo nhưng không nghĩa lý gì đối với sự bất động của Trinh nữ.

Người ta đốt lửa cũng không chạm tới ngài. Sau cùng, người ta dùng giáo đâm cổ ngài, nhưng ngài còn tiên báo một cách lạ lùng: “Tôi báo cho các ngươi biết rằng, Giáo hội Chúa được ơn bình an vì hôm nay Điôclêtiano bị đuổi khỏi đế quốc, Maximianô phải chết. Và như Catana vui sướng được chị tôi là Agatha bảo trợ, thành Syracusa được Chúa ban cho tôi, nếu các ngươi hết lòng thực hiện thánh ý Chúa”.

Và dân Sicily thấy Paschase bị xiềng. César biết được rằng ông ta sẽ chiếm thành. Lucia trước khi chết đã được rước Mình Chúa do các linh mục đem đến.

Lucia là tên do từ ngữ Lux, nghĩa là ánh sáng. Như ánh sáng, gương mẫu đời ngài dẫn các linh hồn lên trời. Tên ngài khiến những ai đau mắt thường kêu cầu ngài.

Trích trong Theo Vết Chân Người (Chân dung các thánh nhân)

11 thg 12, 2013

MƯỢN DAO CẮT MŨI

Ngụy vương tặng cho Sở vương một mỹ nữ, Sở vương rất yêu cô gái.

Phu nhân là Trịnh Tú biết được, cũng hết sức trang điểm làm đẹp cho mỹ nữ càng thêm đẹp mê hồn thêm. Tất cả y phục, đồ chơi mà cô ta thích, bà đều cung cấp cho đầy đủ.

Sở vương nói: "Phu nhân đã biết rõ là ta yêu thương người đẹp mới đến kia, vậy mà phu nhân yêu người đẹp còn hơn cả trẩm, có thể nhìn thấy phu nhân thật giống như một hiếu tử phụng dưỡng song thân, như một trung thần phục vụ tổ quốc".

Trịnh Tú biết Sở vương không hoài nghi về sự ghen ghét của mình, bèn nói với người mỹ nữ đó: "Ðại vương rất yêu thích em, nhưng lại chán cái mũi của em, khi nào em gặp dại vương thì nên che mũi lại, như thế đại vương sẽ sủng ái em suốt đời".

Thế là người đẹp mỗi khi gặp đại vương liền dùng tay áo mà che mũi lại. Sở vương hỏi Trịnh Tú: "Tại sao mỗi khi gặp ta thì mỹ nữ phải che mũi lại".

Trịnh Tú đáp: "Thiếp nói ra ngài có nổi giận không?"

Sở vương càng thêm tò mò hỏi, Trịnh Tú trả lời: "Nó nói rằng, nó ghét nhất là mùi hôi nơi thân thể của Ðại vương".

Sở vương đùng đùng giận dữ, hạ lệnh cho thị vệ cắt mất cái mũi của mỹ nữ./,


(Hàn Phi tử)

Suy tư

Ðàn bà cũng như đàn ông, ai cũng có máu ghen, nhưng ghen một cách "khoa học" thì chỉ có Trịnh Tú. Nói "khoa học" bởi vì bà ta ghen "có thứ tự lớp lang", có kế hoạch lâu dài mà không bị ai nghi ngờ, kể cả Sở vương.

Trên thế giới có rất nhiều người tan gia bại sản cũng vì đàn bà; có rất nhiều ông vua mất nước cũng chỉ vì đàn bà, đó là vì mê sắc đẹp của đàn bà mà sinh ra lú lẫn, chứ vì ghen mà mất nước thì hầu như hiếm thấy.

Ðàn bà càng đẹp thì càng ghen, đó là chuyện thường tình, nhưng đàn bà càng xấu thì càng ghen hơn và thâm độc hơn. Trịnh Tú chắc chắn không đẹp hơn mỹ nữ, nhưng thâm độc hơn và giàu kinh nghiệm tình trường và hiểu rõ Sở vương hơn mỹ nữ, cho nên cả Sở vương cũng như mỹ nữ đều mắc mưu bà mà không biết.

Trong tất cả các linh mục, tu sĩ nam nữ đã từ bỏ ơn thiên triệu của mình, phần lớn là vì Tình Yêu, mà tình yêu thì bắt đầu từ nét đẹp đẽ và duyên dáng của phụ nữ, đó không phải là tội, nhưng tội chính là trái tim của chúng ta "nhúc nhích" lệch lạc mà không điều chỉnh lại cho ngay. Ðiều chỉnh lại cho ngay, chính là thánh hóa sắc đẹp và nét duyên dáng ấy cho phù hợp với thân phận của mình mà cảm tạ Thiên Chúa./.

Nguyễn Tầm Thường

10 thg 12, 2013

LỜI CHÚA TRÀN LAN ...

Công giáo không có lửa truyền giáo?

Nếu quả là như vậy thì đây là một thực tế đáng buồn.

“Thầy đã đến ném lửa vào mặt đất, và Thầy những ước mong phải chi lửa ấy đã bùng lên” (Lc 12,49)

Lửa hồng Thầy Giêsu ném vào trong thế gian đang bừng cháy trong lòng người môn đệ hôm nay, hay chỉ leo lét hoặc thậm chí đã tắt lịm từ lâu.

Không quen nghe Chúa nói, thì cũng không biết phải nói gì với Chúa, và càng không biết phải nói sao về Chúa.

Không quen nhận Lời Chúa, và cũng không quen giữ Lời Chúa, thì cũng không quen nói Lời Chúa.

“Nếu anh em ở lại trong Thầy, và lời Thầy ở lại trong anh em…(Ga 15,7),

Khi Hội Thánh ở Giêrusalem trải qua một cơn bắt bớ dữ dội, ngoài các tông đồ ra, mọi người đều phải tản mác về các vùng quê miền Giuđê và Samari (Cv 8,1),

Những người phải tản mác này đi khắp nơi loan báo lời Chúa (Cv 8,4);

Cộng đoàn các tín hữu đầu tiên, sau khi đã chuyên cần nghe các tông đồ giảng Lời Chúa, thì theo một phản ứng dây chuyền, họ không thể không nói điều mình đã nghe, và lời Chúa cứ thế lan tràn.

Người giáo dân Việt Nam trong những đợt di dân, gồng gánh cả ảnh tượng, đến vùng đất mới là lo dựng nhà thờ để có nơi tập trung thờ phượng, đời sống đạo chủ yếu dựa vào kinh bổn, nhà thờ, làm thành chuẩn mực cho cuộc sống thường hằng. Đấy là những năm trước công đồng Vatican II, thánh lễ còn đọc bằng tiếng Latinh, linh mục giảng sao biết vậy, chứ còn nay, nhà nhà có thể có được cuốn Thámh Kinh, người người có Tân Ước… Tuy nhiên, nhà nhà đọc Thánh Kinh, người người đọc Tân Ước, ngày ngày nghe Lời Chúa thì không nhiều lắm..

Những người phải tản mác vì cuộc bách hại xảy ra nhân vụ ông Têphanô, đi đến tận miền Phênixi, đảo Syp và thành Antiokia…có mấy người gốc Syp và Kyrênê khi đến Antiôkia đã giảng cho cả người Hy-Lạp nữa (Cv 11,19-20).

Không biết các tín hữu tha hương đã làm gì khi đặt chân tới những vùng đất mới? Một điều chắc chắn là người Việt Nam cũng đã đóng góp cho các giáo hội địa phương kia nhiều ơn gọi linh mục tu sĩ.

Kinh bổn và nhà thờ, tổ chức các hội đoàn, như bức tường thành gìn giữ và nuôi sống đời sống đạo một thời, nhưng nay, tình thế đã đổi khác, cuộc sống tất bật và hối hả, mái ấm gia đình bị phân tán vì sinh kế, việc học hành gần như chiếm trọn thời gian của con cái, nhiều chuẩn mực đạo đức bị phá vỡ, mất dần cảm thức linh thánh nơi tâm trí con người.

Đã đến lúc phải dựng lại nhà, Tân Tin Mừng hoá gia đình,

Nơi đâu các tín hữu chuyên cần nghe Lời Chúa, thì cũng phải có người miệt mài rao giảng:

“chúng tôi mà bỏ việc rao giảng Lời Thiên Chúa để lo việc ăn uống là điều không phải” (Cv 6,2).

Thế nhưng tiêu chuẩn của người được sai đi rao giảng buổi ban đầu là “những anh em đã cùng chúng tôi đi theo Chúa Giêsu…(Cv 1,21), những người có khả năng tường thuật, kể lại câu chuyện Giêsu, “tường thuật tất cả những việc Đức Giêsu làm, và những điều người dạy, kể từ đầu cho tới ngày người được rước lên trời (Cv 1,1-2), không bỏ sót một chi tiết nào.

Ngay khi thành lập NHÓM BẢY, bước đầu là để lo phân chia đồ ăn cho cộng đoàn, thì các tông đồ cũng đề ra 3 tiều chuẩn: được tiếng tốt, đầy Thần Khí và khôn ngoan (Cv 6,3), nghĩa là những người đã thấm nhuần Lời Chúa, nói năng và hành động theo hướng dẫn của Thánh Thần.



Ông Têphanô, người đứng đầu danh sách nhóm Bảy, được đầy ân sủng và quyền năng, đã làm những điềm thiêng dấu lạ lớn lao trong dân…người ta không địch nổi những lời lẽ khôn ngoan mà Thần Khí đã ban cho ông…toàn thể cử toạ trong Hội đồng nhìn thẳng vào ông Têphanô, và họ thấy mặt ông giống như mặt thiên sứ .

Người được sai đi rao giảng mang khuôn mặt của một thiên sứ, nói nhân danh Giêsu:

Một Giêsu đã đi rao giảng, đã được các môn đệ làm chứng và rao giảng. Tuy nhiên, để người môn đệ có thể tường thuật lại những lời từ miệng Giêsu, thì trước đó đã lắng nghe và đã nghe được Lời sự sống.

Giáo lý viên mọi thời (trong các giáo xứ) cũng được kể là những sứ giả Tin Mừng, cũng phải mang khuôn mặt thiên sứ, và cũng phải hội đủ 3 tiêu chuẩn của nhóm Bảy là những người có lòng tốt, đầy khôn ngoan và Thánh Thần, để có thể trao Lời sự sống cho mọi người.

Người giáo lý viên hôm nay có thể ngạc nhiên khi thấy các tín hữu chuyên cần lắng nghe trong các lớp giáo lý của các tông đồ! (x.Cv 2,42) Cũng với Lời hằng sống được loan báo như đã được ghi lại trong Tin Mừng, nhưng trong bầu khí cầu nguyện, để cả người nói và nghe đều nói và nghe trong ân huệ Thiên Chúa là Thánh Thần.

Trong những năm gần đây, các giáo lý viên được đào tạo bài bản, đầy đủ về mọi mặt, nhưng học để trở thành con người cầu nguyện, hầu có thể dẫn dắt lớp giáo lý với một con tim biết lắng nghe thì hình như đây là điểm yếu, mà điều chính yếu lại là điểm yếu thì phải làm sao đây.

Thử cùng nhau tham dự một giờ lắng nghe Lời Chúa của các thiếu nhi dân tộc một giáo xứ.

Mở đầu giờ chia sẻ, các em vào nhà thờ, cùng với cha xứ, cầu nguyện nài xin Chúa Thánh Thần dẫn dắt, đọc lại đoạn Tin Mừng Chúa Nhật, cha xứ hướng dẫn chừng 5 phút, sau đó chia ra từng nhóm nhỏ, vừa hát, vừa lập đi lập lại từng câu, hoặc ai thích câu nào thì đọc lên câu đó, lặng lẽ giây lát để Lời Chúa thấm vào lòng, rồi lại hát, lại đọc, và cuối cùng, họp lại với cha xứ, dâng lời nguyện tạ ơn. Cách lắng nghe Lời Chúa thật đơn giản, nhưng khi các em bước ra khỏi nhà thờ, tôi thấy khuôn mặt các em sáng ngời. Cha xứ nói: các thiên thần của Chúa đấy.

Thế là từ nhà thờ ra tới lớp giáo lý và về nhà, Lời Chúa ở ngay bên, Lời Chúa ngay trong lòng, lời Chúa ngay trên miệng, Lời Chúa lan tràn

Ở nhà thờ có cha xứ và các giáo lý viên, các sứ giả Tin Mừng

Ngoài nhà thờ cũng như ở nhà, mọi tín hữu là sứ giả, giống như thời giáo hội sơ khai, các tín hữu phải tản mác đi khắp nơi loan báo Lời Chúa.

Tiến trình TIN MỪNG HOÁ cứ phải bắt đầu từ kinh nghiệm của các tông đồ:

Điều vẫn có ngay từ lúc khởi đầu,

Điều chúng tôi đã nghe

Điều chúng tôi đã thấy tận mắt

Điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến,

Đó là LỜI sự sống (1Ga 1,1)

Và đến lượt các thế hệ môn đệ tiếp theo, từ lớp giáo lý ở nhà thờ cho tới giờ kinh tối trong gia đình,

Chuyên cần lắng nghe Lời Chúa,

Nghe để thấu hiểu điều Chúa muốn nói, chứ không chỉ nghe những gì mình muốn nghe

nghe Chúa nói trong Tin Mừng, mắt chiêm ngưỡng,

chiêm ngắm và lắng nghe cho tới khi tay chạm vào LỜI SỰ SỐNG…

Cuối cùng, điều gia đình chúng tôi đã thấy và đã nghe…

chúng tôi loan báo cho nhau và cho mọi người.

8 thg 12, 2013

KHÔNG BIẾT CÁI ÁCH XE

Nước Trịnh có người tình cờ nhặt được cái ách xe.

Anh ta bèn hỏi người khác: "Ðây là cái gì?"

Người kia trả lời: "Cái ách xe".

Không lâu sau, anh ta lại nhặt được cái ách xe khác, lại cũng như lần trước hỏi người nọ. Người ấy trả lời cho anh ta: "Cái ách xe".

Nghe xong, anh ta la lớn: "Anh vừa mới nói là cái ách xe, bây giờ cũng lại nói là cái ách xe. Làm sao anh lại biết có nhiều cái ách xe kia chứ? Rõ ràng là anh có ý bịp tôi!"

Thế là cùng đánh nhau với người ấy.
(Hàn Phi tử)

Suy tư

Không biết thì hỏi, đó là việc làm của người khiêm tốn, nhưng khiêm tốn không phải là ngu đần như anh chàng nhặt được cái ách xe.

Ở đời cũng có rất nhiều người làm bộ hỏi người khác cái việc mà mình đã biết để thử tài, để hạch sách anh em; nhưng cũng có nhiều người không có một chút kiến thức gì mà cũng lên mặt hạch sách và "lấy khẩu cung" của anh em, để làm ra vẻ ta đây là người hiểu biết.

Bác ái chính là cùng nhau học hỏi và chỉ vẻ lẫn nhau, để cùng nhau thăng tiến. Trong học hỏi thì cần phải có khiêm tốn, bởi vì nếu không có kiêm tốn thì khó mà lãnh hội được những ưu điểm nơi người khác.

Mỗi ngày tôi cần phải học hỏi trong khiêm tốn, đó chính là chìa khóa của sự thành công.