3 thg 11, 2013

“Yêu là lòng bâng khuâng,”

Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ 31 mùa thuờng niên năm C 03-11-2013

“Yêu là lòng bâng khuâng,”
nhớ hay thương một chiều thu vương,
Gió êm đưa, dạt dào tre đua,
Lá rơi rơi, rơi tả tơi.”
(Văn Phụng - Yêu)

(Mc 10: 11)
            “Bâng khuâng”, “nhớ hay thương, một chiều thu vương” vẫn là tình tự mà nhạc sĩ Văn Phụng coi đó như tâm tình của những người đã và đang “yêu”. Tình tự ấy, kéo dài cả vào khi người-mình-yêu hoặc người-yêu-mình lại có cảm giác, như: “gió êm đưa,” “dạt dào tre đưa”, “lá rơi rơi, rơi tả tơi.”
Yêu, theo ý và kiểu của người nghệ sĩ, còn có nghĩa:

“Yêu, là tình dâng cao, gió lao xao.
Ngả hàng phi lao, phút ái ân đắm say tâm hồn.
Nhớ mãi đêm nào bên nhau.”
(Văn Phụng – bđd)

À thì ra, yêu là như thế. Là, “đắm say tâm hồn”. Là, “nhớ mãi đêm nào bên nhau”. Là, tình tự mà những người đương yêu thường vẫn có, vào mọi lúc. Những lúc và những lần, từng có kinh nghiệm đôi khi cũng khác. Khác đến độ, khiến người trong cuộc cứ cảm thấy dây dưa, day dứt và bứt rứt cả ở ngoài đời lẫn trong Đạo.
Ngoài đời, nhiều vị/nhiều người vẫn bị “cơn yêu” nó day dứt đến tức bực, đã đành. Người đi Đạo lại cũng không tránh được tình huống giống như thế và như thể nhà thơ/nhạc sĩ có kinh-nghiệm nhiều hơn thế. Kinh và nghiệm, như chuyện kể trích dẫn, ngay bên dưới:

“Chuyện kể rằng:
Vào đời Tống ở Trung quốc có đôi bạn thân, cả hai đều học rộng tài cao, rất nổi tiếng. Về phẩm hàm là quan nhất, nhị phẩm. Đó là nhà văn Vương An Thạch và nhà thơ Tô Đông Pha. Văn chương, thơ phú của hai người đều rất nổi, Vương An Thạch giữ chức Tể  tướng, còn Tô Đông Pha thì làm quan cai trị cả một vùng. Hai người là bạn thân chơi với nhau từ lâu lắm, nhưng do bởi mỗi người có năng khiếu và sở trường riêng, người này giỏi văn còn người kia lại giỏi về thơ, nên Tô Đông Pha không  phục Vương An Thạch, coi bạn không giỏi bằng mình. Biết là bạn coi thường mình, nhưng Vương An Thạch chỉ im lặng không nói gì cả. Có một lần, Vương An Thạch mời Tô Đông Pha đến tư-dinh Tể tướng của mình chơi, để đàm đạo chuyện văn chương thi phú. Khi Tô Đông Pha đến, Vương An Thạch cố ý lánh mặt một cách tế nhị nên Tô Đông Pha một mình bước vào thư phòng của bạn quý. Vì không thấy chủ, lại thấy trên bàn có bài thơ đã làm xong và một bài khác đang viết dở. Là người giỏi thơ văn, nên khi thấy thơ là ông liếc mắt đọc ngay tức thì. Bài thơ đầu, có đôi câu như sau:
           
“Minh nguyệt sơn đầu khiếu
           Hoàng khuyển ngọa hoa tâm”.

Tô Đông Pha nhíu mày, nhăn trán suy nghĩ trong phút chốc: Minh nguyệt là trăng sáng, còn khiếu là hót. Vậy thì ánh trăng sáng, sao mà lại hót được ở đầu núi nhỉ? Câu tiếp, Hoàng khuyển là con chó vàng thì làm sao ngọa (nằm) được ở trong tâm (giữa) bông hoa? Ông lắc đầu và tỏ ý coi thường tác giả viết ra bài thơ ấy. Ông suy nghĩ: “Vậy mà người ta cứ đồn là Vương An Thạch giỏi”? Nhân lúc vắng chủ và sẵn có bút mực tại chỗ, ông sửa lại hai câu, thành:

            “Minh nguyệt sơn đầu chiếu
            Hoàng khuyển ngọa hoa âm”

Câu sửa lại có nghĩa là: ánh trăng chiếu nơi đầu núi và con chó vàng nằm dưới bóng của bông hoa. Sửa xong hai câu trên, Tô Đông Pha tỏ ý hài lòng và cho rằng khi đọc lại hai câu này hẳn là Vương An Thạch sẽ phải phục tài của mình lắm, đây. Thơ phải như thế mới đúng!

Đọc bài thứ hai, thấy Vương An Thạch  tả cảnh mùa đông lạnh lẽo, có tuyết rơi, có hoa cúc rụng tơi tả, ông cảm thấy bực bội vì, thực tế làm gì có chuyện hoa cúc lại rụng như thế? Hoa cúc, khi tàn héo, nó vẫn bám vào đài và thân hoa cho đến khi cây cúc chết. (Hoa cúc, vì như vậy nên các đôi trai gái khi yêu thường lấy hoa làm biểu tượng để tặng cho nhau hầu thể hiện sự chung thủy của mình) Ông cầm bút viết cạnh bài thơ để nói thẳng với tác giả rằng “ Hoa cúc không bao giờ rụng”. Biết mình có chức tước phẩm hàm còn dưới Vương An Thạch nên lúc ra về suy nghĩ lại, ông biết rằng mình đã phạm thượng, vì Vương An Thạch là quan đầu triều, chỉ dưới có mình vua, thế nào mình cũng bị trị tội, hoặc trả thù là điều chắc chắn. Quả nhiên, sau một thời gian không lâu Tô Đông Pha nhận được “trát” điều đi nhậm chức tận vùng phương Bắc xa xôi như đi “đầy”. Tô Đông Pha hối hận và nhận ra hậu quả của việc làm bồng bột của mình!

Còn với tể tướng Vương An Thạch, sau khi ban “trát” điều Tô Đông Pha đi, ông hạ lệnh cho các quan địa phương nơi Tô Đông Pha đến làm việc, là: phải tạo điều kiện  thuận lợi cho ông tìm hiểu đất đai, thổ nhưỡng cũng như thiên nhiên vùng đó và đối xử với Tô Đông Pha như  bậc đại khách. Là người yêu thiên nhiên và biết cảm thông với nỗi thống khổ của người dân ở vùng đất khô cằn, khắc nghiệt, Tô Đông Pha thường xuyên tiếp xúc với dân, ông thỏa sức đi du ngoạn để tìm hiểu con người và đất đai trong khắp vùng. Vì sống hòa đồng và hết sức thân thiện với mọi người, nên ông đi đến đâu cũng được quan, dân đón tiếp chân thành và nồng thắm.

Có lần đến thăm làng quê nọ, Tô Đông Pha bỗng nghe thấy tiếng chim lạ hót véo von, tiếng hót rất trong lại vang vọng vào núi đá. Nhà thơ hỏi người đi cùng đấy là loại chim gì mà hót hay thế? Dân địa phương trả lời: Đấy là tiếng hót của laòi chim Minh Nguyệt.  Một lần khác, khi đi thăm một vườn trồng đầy hoa, thấy mọi người đang bắt sâu lạ cứ nằm giữa hoa để cắn nhụy.

Ông hỏi: đó là sâu gì thế? Nông dân trả lời: Đó là sâu Hoàng Khuyển. Thì ra trên thực tế có cả loại chim Minh Nguyệt và sâu Hoàng Khuyển thật sự. Vì tự cao tự đại không hiểu hết ý tứ nên đã sửa bài thơ của Vương An Thạch, làm sai nội dung và tứ thơ hay của bài thơ! Thời gian trôi qua, cái lạnh của mùa đông ở phương Bắc tràn về, Tô Đông Pha ngồi trong nhà nhìn ra ngoài thấy tuyết trắng bay đầy trời và, ở dưới vườn, mấy cánh hoa cúc bị tuyết bám rụng lã chã. Nhà thơ giật mình bèn thở dài: thì ra có hoa cúc rụng thật. Chỉ có điều là nó rụng trong hoàn cảnh và môi trường nào, thôi.

Ông suy nghĩ hồi tưởng lại các sự việc diễn ra trong thời gian vừa qua, thấy rõ là vốn hiểu biết của mình quá nông cạn, lại cứ nghĩ việc mình được bổ làm quan nơi xa, có dịp được tiếp xúc mọi người, lại được du ngoạn, đón tiếp thịnh tình nên có thêm nhiều hiểu biết và được sống cách phong phú ở vùng thiên nhiên kỳ thú, nhưng vô cùng khắc nghiệt này. Tô Đông Pha bỗng nhận ra rằng bạn Vương An Thạch, quan Tể tướng – không phải là người tầm thường, ông không trả thù hay “đầy” mình lên biên cương nhưng lại đã quan tâm, tạo điều kiện cho mình đi tận nơi, đến tận chỗ để có thêm kiến thức tự dân gian. Vừa thấm thía, biết ơn, vừa cảm phục bạn, nhà thơ Tô Đông Pha liền ngồi viết bức thư tạ lỗi Vương An Thạch..

Truyện thời cổ, về tình bạn thân thiết là thế, vậy mà cũng có lúc đi đến hiểu lầm, suýt mất mạng. Sống ở đời, ngoài tình bạn tri kỷ, thắm thiết còn nhiều thứ tình-tự cũng khắng khít, thân thương, nồng thắm. Thế nhưng, các cụ khi xưa từng trải-nghiệm về thứ tình nồng thắm, có lúc khá đắng cay của mọi cuộc tình nên vẫn bảo: “yêu nhau lắm, cắn nhau đau”, là thế đấy.

Truyện thời nay, tình yêu đôi lứa càng khắng khít, thắm nồng bao nhiêu càng có lúc không chỉ “cắn nhau đau” mà thôi, nhưng còn gây cho nhau buồn phiền và chết chóc, nữa. Chẳng thế mà, cả nhà thơ lẫn người viết nhạc hôm ấy, lại thấy chán mà ca lên:

“Thôi! Yêu dấu mà chi?
Ngày vui xế bóng, đôi lòng chia xa.
Hồn tàn hơi buốt giá,
Khi mùa xuân qua, úa phai nhạt hoa.”
(Văn Phụng – bđd)

Quả cũng đúng, như lời nghệ sĩ hát: một khi người tình mình đã cảm thấy “ngày vui xế bóng” rồi, ắt hẳn “lòng (sẽ) chia xa”, và “hồn buốt giá”. Và, khi “xuân (mùa) đã qua”, hoa nhạt úa, thì tình người cũng phai nhạt, “hồn tàn hơi”, và “đôi lòng (cũng) chia xa” , nhạt nhoà do bởi yếu tố rất lạ; chợt khi ấy, người người mới thấy rõ mọi việc.   
Về điểm này, cơ quan Liên Hiệp Quốc chuyên trách về cảnh tình của các nữ-phụ trên thế giới, thấy được như thế nên đã khẩn báo mọi người về thảm trạng mà các vị gọi là “bạo động chống phụ nữ” qua báo cáo Ủy Ban cho biết vào hạ tuần tháng 3/2013, có đôi điều cần ghi nhớ như sau:

“Hành-xử đầy dục-tình của nam nhân đối với phụ-nữ, có thể là hình-thức bạo động chống nữ phụ bởi nó có thể dẫn đến kết cuộc là: phụ nữ cứ phải lãnh hậu quả, là: có thai ngoài ý muốn.

Tuần qua, báo The New York Times đã tham gia vào “cuộc chơi” bằng một bài quan điểm/lập trường đã không ghi danh tánh người viết, lại cho rằng: Toà thánh La Mã, đất nước Iran và liên bang Nga đang tìm cách bãi bỏ thứ ngôn-ngữ chắc nịch bằng thông-cáo-chung nhất quyết rằng: yếu-tố tôn giáo, tập quán hoặc truyền thống không nên và không thể khiến cho giới cầm quyền dùng nó để đưa ra một số ràng-buộc nhằm chấm dứt tình-trạng bạo lực.

Báo New York Times còn tố cáo “Liên Minh không lành” này lại đã dửng dưng trước hình-thức bạo-động chống phụ-nữ, nên mới bảo: liên minh ấy sử-dụng tôn-giáo để bênh vực/bảo vệ kẻ vũ-phu chuyên xách-nhiễu vợ, đồng thời liên-minh này còn nhắc nhớ ta rằng: các nỗ-lực do Vaticăng và đất nước Iran đề nghị nên khống-chế phụ-nữ như họ vẫn quen làm như thế.

Xem thế thì, cáo buộc cho rằng nhiều nhóm hội/đoàn thể đang tìm cách bãi bỏ nỗ-lực bảo-vệ phụ-nữ, thì đó lại là lời nói dối trắng trợn. Thật ra, những gì đang xảy đến chỉ là sự việc Toà thánh La Mã và các đồng minh của Giáo hội đang tìm cách ngăn chặn đề nghị do Hoa Kỳ và Hiệp hội Châu Âu đưa ra, nhằm thăng tiến cổ cõ quyền phá thai của mọi người, mà thôi.” (xem Sheila Liaugminas, Advancing Radical Agenda, MercatorNet 22/3/2013)

Vốn dĩ ở đời, người người cũng sẽ nhận ra được điều đó, nên mới hợp giọng cùng người nghệ sĩ bèn hát thêm những câu ca da diết, thiết tha khi chợt thấy người thân yêu đã đi xa nên đã nhớ:

“Nhớ thương bao nhiêu
Một người than yêu, đã đi xa về miền hoang lieu
Những trang thư là hành trang theo
Cố nhân ơi, giận hờn chi.”

Bởi lẽ, kinh nghiệm trong đời không chỉ thấy “yêu nhau lắm, cắn nhau đau” mà thôi, nhưng còn cứ hát:

“Yêu, là tình thương đau,
Với xót xa lệ tình không tan
Biết nói sao những khi âu sầu
Những khi úa nhạt tâm tư.”
(Văn Phụng – bđd)

“Tâm tư úa nhạt”, “Lệ tình không tan”, có khi lại là tình huống của một số bạn đạo vốn nghe nhiều về đoạn Tin Mừng do thánh-sử Mátthêu viết, nhưng vẫn thắc mắc, như tâm tình của người giáo dân “miệt vườn” Sydney từng ghi thư hỏi han bậc cha/cố rất như sau:

“Thưa Cha. Trong cuốn “Lời Chúa cho mọi người” con đọc, thấy có đoạn viết: "Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng để lấy chồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình." (Mc 10: 11-12) Xem như thế, ta có nên hiểu: ngoại tình là lý do để cho vợ chồng ly dị và tục-huyền không?” Xin cha giải thích cho biết, để bớt lo.”   

“Để bớt lo” là muốn nói: bổn đạo mình, là nam hay nữ, lâu nay vẫn ưu-tư lo lắng về ý-nghĩa lời thánh-sử mà ta gặp ở Tin Mừng Nhất Lãm. Để giáo dân mình bớt “lo” về Lời Chúa có khác biệt, vị cố Đạo có trọng trách giải đáp thắc mắc ở tuần báo “The Catholic Weekly” Sydney, nay lại lấy giấy bút ra mà giải thích đôi điều, rất như sau:

“Bản văn mà anh/chị vừa trích dẫn, lâu nay vẫn là đề tài khiến nhiều người hiểu lầm và lẫn lộn về Lời Chúa. Lẫn lộn nhiều, ở câu trích: “Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp" được nhiều dịch-giả lại cứ dịch theo cách khác nhau, tùy bối cảnh. Chẳng hạn, bản dịch của Ủy Ban Các Giờ Kinh Phụng Vụ, có viết:“Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới người khác là phạm tội ngoại tình."(Mt 19: 9) Trong khi đó, sách “Kinh Thánh” do Lm Nguyễn Thế Thuấn CSsR lại dịch: “Ai rẫy vợ -trừ phi là nố dâm bôn- và cưới vợ khác, tức là phạm tội ngoại tình.” Dịch thế nào thì dịch, lời dịch tuy có khác, nhưng ý chính vẫn thế.

Trước khi đi sâu vào ý nghĩa của văn bản, thiết tưởng: ta nên chú trọng hai điều: Một, là chỉ mỗi thánh Mát-thêu mới đưa câu này vào Sách Thánh, thôi. Còn các thánh-sử khác như thánh Máccô và Luca, lại đã bỏ đoạn đó, viết rõ hơn: "Ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình đối với vợ mình; và ai bỏ chồng, để lấychồng khác, thì cũng phạm tội ngoại tình như vậy." (Mc 10: 11/Lc 16: 18) Bản văn hai thánh-sử này cho thấy: đó là chưa nói đến nguyên do cho phép vợ chồng được ly dị và tục huyền, ở đây.

Điều khác nữa, là: Tin Mừng do thánh Mátthêu ghi, xem ra cho thấy trường hợp dù ta có cho phép ly dị và tục huyền đi nữa, thì điều này vẫn nên hiểu theo ánh sáng của truyền thống sống động từ Hội thánh. Và, truyền thống này vẫn “trước sau như một” bởi: ngay từ đầu, Hội thánh chẳng bao giờ cho phép ly dị rồi lại tục huyền, vì bất kỳ lý do nào đi nữa. Trong khi anh em Thệ Phản lại dùng đoạn văn này để biện minh cho việc ly dị và tục huyền, thì Hội thánh Công giáo vẫn duy trì tính-cách không thể tách rời ở hôn-nhân.

Đức Giáo Hoàng Piô XI cũng đã khẳng điều này rất rõ ở tông thư “Casti connubii” do ngài viết vào năm 1930, trong đó nói: “Đây đích thực là Giáo-huấn có tự Kinh thánh vẫn trước sau như một và là Thánh truyền tự Giáo hội Chúa khắp hoàn cầu. Giáo huấn này, Công đồng Triđentinô long trọng tuyên bố là tín điều dùng lời Sách Thánh làm nền hầu công bố và thiết lập hôn-nhân như khế-ước vĩnh-toàn không thể tách rời tính hiệp nhất và ổn cố vốn có từ Thiên Chúa.”

Vậy thì, ý nghĩa của câu “ngoại trừ nố dâm-bôn” là thế nào? Tác giả Scott Hahn trong cuốn “Học hỏi Kinh thánh của Người Công giáo theo tinh thần của thánh Ignatiô” giải thích rằng: có ba ý nghĩa giúp cho ta dễ hiểu hơn, nhưng cả ba đều loại bỏ trưòng hợp ly-dị và tục huyền.

Thứ nhất, các thánh Giáo phụ từng giải thích ý-nghĩa này: khi có sự bất-trung hoặc ngoại-tình từ phía nào đi nữa của bậc vợ chồng, thì vợ chồng ấy có thể chia tay hoặc “ly dị” nhưng quan-hệ hôn-nhân vẫn không sứt mẻ và vợ chồng không được tự do tái giá thêm lần nữa. Truờng hợp này, tiếng Hy Lạp gọi là “nố dâm bôn” (“porneia”), có nghĩa: ngoại tình, tức: một ý-nghĩa khác thế. Cả thánh Phaolô cũng xác-định: “Với những người đã kết hôn, tôi ra lệnh này, không phải tôi, mà là Chúa, rằng: vợ không được bỏ chồng, mà nếu đã bỏ chồng, thì phải ở độc thân hoặc phải làm hoà với chồng; và chồng cũng không được rẫy vợ.”(1Cor 7: 10). Tương-tự như thế, Luật Hội thánh cũng đề cập: ngoại tình, coi như lý do để hai người chia tay/ly cách cùng một thể, vì trước đó Luật này có đề nghị người phía bên kia hãy tha thứ cho người bạn đời mình phiá bên này từng phạm tội ngoại tình (x. Giáo luật số 1152). Thế nhưng, dù gì đi nữa, cũng không thể cho phép hai người đi đến ly dị được.

Thứ đến, có chỉ dẫn bảo rằng “nố dâm bôn” qui về các cặp hôn-nhân nào mà người vợ hoặc chồng đang sống chung trong quan-hệ nào khác bị pháp luật ngăn cấm, như: trường hợp có quan-hệ giòng tộc/máu mủ chẳng hạn. Trường hợp mà tiếng Hy Lạp gọi là “porneia”, là qui về tình cảnh hai người có quan-hệ bất-chính sống chung với nhau không hôn thú theo luật định nên, vẫn có thể chia tay nhau một cách có hiệu lực. Lập trường này được nói ở hai đoạn Tân Ước trong đó “dâm bôn” qui về trường hợp “loạn luân” (x. Cv 15: 20, 29; 1Cor 5: 1-2). Muốn hiểu lai lịch Cựu Ước ủng-hộ lối giải thích này, phải qui về chuyện hôn nhân bị cấm giữa những người có quan-hệ gần gũi, thân-tộc. (x. Lêvi 18: 6-18)

Cuối cùng, giải thích trên cũng có nói: “Ngoại trừ nố dâm bôn” có nghĩa là bất kể lai lịch Cựu Ước nói về ly dị” lại nói rõ chuyện “dâm bôn” do người vợ mà ra (x. ĐNL 24: 1). Chiếu theo lối giải thích này, Đức Giêsu đã xoá bỏ điều mà Cựu Ước cho phép trong một vài trường hợp và Ngài cũng không muốn bàn cãi về chuyện ly-dị như thế. Ngài không làm khởi sắc cũng chẳng tái-khẳng-định việc Môsê cho phép làm thế nhưng cùng làm với nhau.                               

Bằng vào giáo huấn này, Đức Giêsu đã đưa hôn-nhân về lại theo cách của thời ban đầu, trước khi Adong và Evà bị sa ngã, là lúc cả hai bên đều có quyết tâm sống với nhau suốt đời tạo gương mẫu phản chiếu tình thương-yêu chung thủy của Chúa, với dân Ngài.” (x. Lm John Flader, Question Time, The Catholic Weekly 15/9/2013 tr. 10)

Giải thích, thì cứ giải thích. Vấn đề là: người trong cuộc nay có còn nghe theo lời huyên dạy của đấng thánh hiền từng bảo ban:

“Các môn đệ thưa Người:
"Nếu làm chồng mà phải như thế đối với vợ,
thì thà đừng lấy vợ còn hơn."
Nhưng Người nói với các ông:
"Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy,
nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu.”
Quả vậy, có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ,
họ đã không có khả năng;
có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn;
lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời.
Ai hiểu được thì hiểu."
(Mt 19: 10-12)

Là môn đồ từng theo Chúa diễn giảng đủ mọi chuyện, mà còn chưa hiểu, huống hồ là giáo dân hạng thứ ở phố chợ. Vấn đề còn lại, vẫn là: làm sao để “Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu”. Và khi hiểu được phần nào bằng cuộc sống, cũng nên cảm tạ Ơn trên đã cho mình huệ lộc ấy.
Cuối cùng, để cho dễ hiểu, cũng nên tìm về với truyện kể ở đời mà ngâm nga, rồi sẽ có ngày nhận được thêm ân-huệ, ta sẽ hân hoan mà vui sống. Vui để sống, có các truyện minh hoạ, vẫn theo mình, ở bên mình, kể rằng:

“Cặp vợ chồng trẻ nọ nhận được rất nhiều quà cưới quý giá, khi vừa xây tổ ấm ở vùng ngoại ô. Buổi sáng nọ, hai vợ chồng nhận được một phong bì qua đường bưu điệm trong đó đính kèm hai vé mời đi xem trình diễn văn-nghệ nổi tiếng trong thành phố. Trên phong bì chỉ kèm mỗi giòng chữ duy nhất: “Hãy đoán xem ai gửi tặng!”

Hai vợ chồng rất lấy làm thích thú và cố moi óc xem ai là người gửi tặng mà sao lại cứ giấu tên cùng tuổi, nhưng cả hai chẳng tài nào đoán nổi. Hôm sau, họ đi ra nhà hát xem vở diễn đúng theo giấy mời và tận hưởng một buổi tối rất vui.

Về đến nhà vào giờ đã khuya khi hai vợ chồng vẫn cố suy đoán xem tung tích của người tặng vé mời cứ giấu tên kia, thì mới khám phá ra rằng: nhà mình đã bị cuổm sạch hết mọi đồ giá trị. Trên bàn ở phòng ăn, hai vợ chồng thấy có mảnh giấy viết đôi giòng cùng một nét chữ như trên phong bì đựng vé mời xem hát, có ghi: “Bây giờ thì nhị vị biết rõ ai tặng vé mời rồi chứ nhỉ?”

Người vợ buồn rầu nói:
-Chết rồi anh ơi! Mất hết đồ đạc thế này, làm sao mình sống nổi?
-Không sao đâu em! Mất gì thì mất. Đừng mình tình mình yêu nhau là được. Mất đồ ta sắm lại được, chứ đừng để mất tình yêu giữa chúng mình, nhé em.”(truyện kể trích từ trang mạng)

Truyện kể ở trên, tưởng chừng như nghe quen quen. Duy có điều không quen nghe, là lời bàn của người kể cứ bảo rằng: “Nguyên nhân và cũng là hậu quả thảm khốc của mọi cuộc chia tay/tách rời giữa vợ chồng là tự mình để mất tình yêu mình từng thề hứa. Một khi tình yêu giữa hai người không còn, thì chẳng còn luật lệ hoặc lời khuyên nào nào đáng giá hết.”
Lời cuối của phiếm luận hôm nay, lại cũng là lời chúc hết mọi người: đừng bao giờ để mất tình thương của nhau, và với nhau. Có nó rồi, chẳng bao giờ sợ bất cứ chuyện gì đi nữa, chí ít là ly dị với ly thân hoặc ly trần, trong nuối tiếc.  
Nói thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta lại ngâm nga câu ca ở trên, để hát rằng:

“Yêu, là lòng bâng khuâng,
            nhớ hay thương một chiều thu vương,
Gió êm đưa, dạt dào tre đua,
Lá rơi rơi, rơi tả tơi.”
(Văn Phụng – bđd)

Tả tơi hay gì đi nữa, cũng không sợ. Chỉ sợ mỗi điều, là: mất trộm tình yêu, rất diễm kiều. Mình trân trọng.

            Trần Ngọc Mười Hai
Luôn tâm niệm
những điều đơn giản như thế,
mãi suốt đời.

2 thg 11, 2013

Chúa Nhật XXXI Thường Niên - Năm C


Tin Mừng Lc 19: 1-10
Sau khi vào Giê-ri-khô, Đức Giê-su đi ngang qua thành phố ấy. Ở đó có một người tên là Da-kêu; ông đứng đầu những người thu thuế, và là người giàu có. Ông ta tìm cách để xem cho biết Đức Giê-su là ai, nhưng không được, vì dân chúng thì đông, mà ông ta lại lùn. Ông liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung để xem Đức Giê-su, vì Người sắp đi qua đó. Khi Đức Giê-su tới chỗ ấy, thì Người nhìn lên và nói với ông: “Này ông Da-kêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông!” Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón rước Người. Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: “Nhà người tội lỗi mà ông ấy cũng vào trọ!” Còn ông Da-kêu thì đứng mà thưa với Chúa rằng: “Thưa Ngài, này đây phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo; và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn.” Đức Giê-su nói về ông ta rằng: “Hôm nay, ơn cứu độ đã đến cho nhà này, bởi người này cũng là con cháu tổ phụ Áp-ra-ham. Vì Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.”

Sunday XXXI in Ordinary Time - YearC

TRỞ VỀ CÁT BỤI

Vì nghe lời đường mật của ma quỷ, và kiêu ngạo muốn bằng Thiên Chúa, ông bà Nguyên Tổ đã phạm tội bất tuân, thế nên Thiên Chúa nói: “Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là BỤI ĐẤT, và sẽ trở về với BỤI ĐẤT” (St 3:19).
Tháng Cầu Hồn và Mùa Chay là dịp thuận tiện để chúng ta tái chân nhận số kiếp phàm nhân mong manh và hữu hạn của mình. Ai cũng một lần về với cát bụi. Về với cát bụi là chết. Chết là điều thật hơn sự thật, chắc chắn 100%, dù chúng ta vẫn thắc mắc: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi…” (Cát Bụi – NS Trịnh Công Sơn). Và cụ thi hào Nguyễn Du cũng xác định: “Trăm năm còn có gì đâu! Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì” (Truyện Kiều).
 
NS Lê Dinh (*) đã cảm nhận cuộc đời ngắn ngủi nên ông sáng tác ca khúc “Trở Về Cát Bụi”. Một ca khúc được nhiều ca sĩ thể hiện, và cũng được nhiều người yêu thích. Không biết ông có là Kitô hữu hay không, nhưng ý tưởng đầy tính triết lý sống, gần gũi đời thường và rất giống tư tưởng Công giáo.
Ca khúc “Trở Về Cát Bụi” được viết ở âm thể thứ (đoản), man mác buồn nhưng không ủy mị, gợi những suy tư thực tế: “Sống trên đời này người giàu sang cũng như người nghèo khó, Trời đã ban cho ta cám ơn Trời dù sống thương đau. Mai kia chết rồi trở về cát bụi giàu khó như nhau, nào ai biết trước số phận ngày sau ông trời sẽ trao”. Giàu hay nghèo cũng vẫn biết cám ơn Trời. Hay quá! Bởi vì chính những gì mình đang sở hữu cũng không là của mình, và rồi ai cũng ra đi với hai bàn tay trắng. Bước vào cuộc đời không có gì, giã biệt cuộc đời cũng chẳng đem theo gì. Dù là ai thì mọi người hoàn toàn bình đẳng và như nhau: Tay trắng!

Thật vậy, NS Lê Dinh phân tích: “Này nhà lớn lầu vàng son, này lợi danh, chức quyền cao sang, có nghĩa gì đâu, sao chắc bền lâu, như nước trôi qua cầu”. Tất cả chỉ là “con số không”. Thế mà người ta vẫn tranh giành nhau, kèn cựa nhau từng ly từng tí. Vật chất đã vậy, những thứ trừu tượng cũng chẳng hơn gì: “Này lời hứa, này thủy chung, này tình yêu, chót lưỡi đầu môi, cũng thế mà thôi, sẽ mất ngày mai, như áng mây cuối trời”. Ôi, thế thái nhân tình!
Thắp nhang, cúng trái cây, đốt vàng mã hoặc thứ này, thứ nọ, đó chỉ là cảm nhận phàm phu tục tử, là ý nghĩ nông cạn của con người. Người vô hình đâu có như người hữu hình, vì hai “lối sống” hoàn toàn khác biệt!
Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng. Biết mình và biết đời để không luyến tiếc, không ác tâm, không kiêu căng, không lọc lừa, không gian dối: “Sống trên đời này tựa phù du có đây lại rồi lại mất, cuộc sống mong manh xin nhắc ai đừng đổi trắng thay đen. Nào người sang giàu, đừng vì tham tiền bỏ nghĩa anh em, người ơi xin nhớ cát bụi là ta, mai này chóng qua”. Biết vậy nhưng không bi quan, không yếm thế, mà chúng ta sẽ “vô tư” và sống thoải mái hơn, vì “đời là thế” mà!
Phần Coda được lặp đi lặp lại như lời xác định và nhắc nhở, đầy chất tâm linh: “Người nhớ cho ta là cát bụi trở về cát bụi, xin người nhớ cho!”. Bài hát kết thúc, cũng như cuộc đời chúng ta sẽ kết thúc bất cứ lúc nào. Hãy cố gắng chuẩn bị bằng cách “thắp đèn sáng mà chờ đón Chúa”.
Nhận biết thân phận mềm yếu của mình thì mới có thể sống tốt hơn, mà có muốn chối bỏ cũng chẳng được! Thế thì tại sao lại không chấp nhận để mà thanh thản sống? Vì như thế mới có thể tự giải thoát mình, tự gỡ bỏ những “xiềng xích” để tự giải phóng mình. Đó là khôn ngoan vậy!
Có câu chuyện “Bán Sự Khôn Ngoan” thế này:
Một ngày nọ, triết gia Diogène (Hy Lạp) đến giữa chợ Athènes và dựng lên một căn lều với tấm bảng ghi đậm hàng chữ: “Ở đây có bán sự khôn ngoan”.

Một bậc khoa cử tình cờ đi qua căn lều, đọc được lời rao và cười thầm trong bụng. Muốn biết phía sau căn lều ấy có những gì, ông mới sai người đầy tớ cầm tiền để dò la và mua cho được cái mà người bán gọi là sự khôn ngoan.

Người đầy tớ cầm tiền ra đi làm theo lời căn dặn của chủ. Anh ta đưa cho Diogène 3 hào và nói rằng chủ của anh muốn có sự khôn ngoan. Cầm lấy 3 hào bỏ vào túi, triết gia Diogène ôn tồn và thản nhiên nói với người đầy tớ: “Anh hãy về đọc lại cho chủ anh nghe câu này: ‘Trong tất cả mọi sự, hãy nghĩ đến cùng đích’. Vậy nhé!”.

Vị khoa cử thành Athènes vô cùng thích thú vì lời khôn ngoan này. Ông đã cho viết trước cửa nhà như khuôn vàng thước ngọc để chính ông suy niệm mỗi ngày, và cũng để mọi người đi qua trước nhà ông đều có thể đọc được: “Trong tất cả mọi sự, hãy suy nghĩ đến cùng đích”.

Nghĩ tới cái chết không là tư tưởng tiêu cực, bi quan, chán đời hoặc yếm thế, mà lại chính là KHÔN NGOAN.

TRẦM THIÊN THU

1 thg 11, 2013

LỄ CÁC THÁNH (01.11)

Giáo hội như người mẹ hiền hàng ngày mừng lễ các con cái Người. Nhưng vì đoàn con được hưởng phúc trên trời nhiều quá, Giáo hội không thể không biết hết được; vì thế, Giáo hội hằng năm chọn một ngày mừng chung tất cả các con cái, để không ai bị lãng quên hoặc bỏ sót, đồng thời cũng để khơi lên trong tâm hồn con cái còn ở trần gian những niềm hân hoan vui sướng và lòng can trường khát mong về quê trời là nơi tất cả những anh chị em Chúa đã gọi về trước đang chiêm ngưỡng thánh nhan Ngài.
......................................................................
Đối với chúng ta, ngày lễ các thánh phải là ngày lễ của gia đình, vì hôm nay cùng với Giáo hội, chúng ta tưởng nhớ đến tất cả những người thân yêu Chúa đã gọi về trước, và tất cả những linh hồn chúng ta tưởng nhớ trong thánh lễ mỗi buổi sáng. Họ là những người đã cương quyết theo Chúa bằng con đường tám mối phúc thật. Chúng ta tưởng nhớ đến tất cả những bạn hữu đã cùng chúng ta làm trọn bổn phận của người con ngoan của Chúa và Giáo hội, trong gia đình ngoài xã hội, ở thành thị náo nhiệt cũng như ở thôn quê hẻo lánh, trên ghế nhà trường cũng như ở nơi xưởng máy, hay nơi chợ búa ồn ào… Những người bạn đó ngày nay không còn nữa. Là người con ngoan của Giáo hội chúng ta hãy hợp với Giáo hội để dâng lời chúc tụng những linh hồn thánh thiện ấy và ước chi các ngài ban cho chúng ta chính nghị lực của các ngài, để chúng ta vững mạnh trên con đường các ngài đã đi trước.
.......................................................
Nhìn vào đoàn thể các thánh, chúng ta nhớ lại lời thánh Âutinh: “Ông kia bà nọ nên thánh, sao tôi lại không?” Những tấm gương sống động ấy làm chúng ta phấn khởi. Những khuyết điểm trong đời sống các thánh cũng có thể khích lệ ta. Nhìn thấy các ngài chiến đấu với những yếu hèn của con người còn sống nơi dương thế, chúng ta cảm thấy các ngài cũng là người như chúng ta, và bởi đấy chúng ta không bao giờ được thất vọng trong sự nghiệp nên thánh.
Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại một điểm trong kinh Tin kính: “Tôi tin các thánh cùng thông công”. Những vinh hiển hay những đau khổ của các thánh là những vinh hiển và đau khổ của chúng ta. Lúc sinh thời, lời cầu nguyện của các thánh còn có hiệu nghiệm, lẽ nào lúc các ngài được vinh hiển, lời cầu nguyện của các ngài lại kém đi được? Như những chi thể trong thân thể mầu nhiệm, các thánh sẽ là những vị nâng đỡ, dìu dắt chúng ta trên bước đường về quê trời. Chúng ta hãy kính cẩn nghiêng mình nhớ đến các thánh, xin các ngài ban cho chúng ta chút nghị lực để bước theo con đường các ngài đã đi, để sau mấy chục năm sống ở trần gian, chúng ta được gia nhập đoàn thể các thánh mà thánh Gioan đã chiêm ngắm trong sách Khải huyền. Để được như thế, chúng ta hãy nhớ luôn rằng: “Tôi chỉ là thánh trên thiên đàng một khi đã là thánh dưới trần gian, và nên thánh đó là nghĩa vụ buộc tất cả mọi người”.
Nguồn: HẠNH CÁC THÁNH

Trường Tình Thương Tân Sơn Nhì & Lễ Hội Halloween.

30 thg 10, 2013

LỄ HỘI HALLOWEEN

Lễ hội gây tranh luận: Hàng năm, người Công giáo và người ngoài Kitô giáo tranh luận: Lễ hội Halloween là ngày lễ hội ma quỷ hay chỉ là lễ hội thế tục? Trẻ em Công giáo có nên mặc đồ như ma quỷ? Lễ này có tốt khi trẻ em sợ hãi? Vấn đề là lịch sử lễ hội Halloween, thực sự lễ này có nguồn gốc Kitô giáo khoảng 1.300 năm.
Nguồn gốc Kitô giáo của kễ hội Halloween: Halloween nghĩa là “không có gì tự nó”, viết tắt từ cụm từ “All Hallows Eve” (nghĩa đen là “vọng các thánh”, tiếng Việt gọi là “ma lộ hình”), và nó chỉ định ngày trước Lễ Các Thánh (vigil of All Hallows Day). “Hallow” là danh từ trong cổ ngữ Anh, nghĩa là “thánh”. Là thành ngữ, nó có nghĩa là làm cho cái gì đó trở nên thánh hoặc tôn kính cái đó là thánh. Lễ Các Thánh vào ngày 1-11, ngày đền ơn đáp nghĩa (Holy Day of Obligation), cả ngày lễ vọng và ngày chính lễ đều được cử hành từ đầu thế kỷ VIII, khi 2 lễ này được ĐGH Grêgôriô III thiết lập ở Rôma. Một thế kỷ sau, ĐGH Grêgôriô IV mở rộng cho cả Giáo hội.

Nguồn gốc ngoại giáo của lễ hội Halloween: Mặc dù những năm qua người Công giáo và người ngoài Kitô giáo quan ngại về “nguồn gốc ngoại giáo” của lễ hội Halloween, thực ra không có gì. Các nỗ lực đầu tiên cho thấy có mối liên hệ giữa ngày trước Lễ Các Thánh, và lễ hội thu hoạch của người Celtic là lễ hội Samhain có sau 1.000 năm so với Lễ Các Thánh trở nên phổ biến hoàn vũ, không có chứng cớ về việc ĐGH Grêgôriô III hoặc ĐGH Grêgôriô IV biết lễ hội Samhain.
Tuy nhiên, theo văn hóa nông dân Celtic, các yếu tố của lễ hội thu hoạch còn lại, ngay cả trong những người Kitô giáo, như Cây Giáng Sinh (Cây Noel) có nguồn gốc từ truyền thống người Đức tiền Kitô giáo chứ không là nghi thức ngoại giáo.

Kết hợp ngoại giáo và Kitô giáo: Các yếu tố Celtic gồm đêm đốt lửa mừng (như lửa trại), chạm trổ củ cải đỏ (ở Mỹ dùng trái bí), đi từ nhà này sang nhà khác, nhận sự thết đãi – như trong đêm vọng Giáng sinh, người ta đi từ nhà này sang nhà khác để hát những bài hát giáng sinh và nhận sự thết đãi. Nhưng phương diện “huyền bí” của lễ hội Halloween – ma quỷ và yêu tinh – thực sự có nguồn gốc từ đức tin Công giáo. Người Công giáo tin rằng, vào thời điểm nào đó trong năm (Lễ Giáng Sinh là dịp khác), tấm màn ngăn cách thế gian với luyện hình, thiên đàng, và cả hỏa ngục, trở nên mỏng hơn, các linh hồn nơi luyện hình và ma quỷ có thể được nhìn thấy. Như vậy, trang phục truyền thống Halloween thuộc về niềm tin Kitô giáo cũng như truyền thống Celtic.

Người chống Kitô giáo tấn công lễ hội Halloween (lần 1): Sự tấn công hiện nay vào lễ hội Halloween không là lần đầu. Thời hậu Cải cách ở Anh quốc, Lễ Các Thánh và lễ vọng đều bị áp chế, và tục lệ nông dân Celtic kết hợp với lễ hội Halloween bị đặt ngoài vòng pháp luật. Lễ Giáng Sinh và các truyền thống xoay quanh lễ này bị tấn công, Quốc hội Thanh giáo (Puritan Parliament) cấm Lễ Giáng Sinh từ năm 1647. Tại Mỹ, các tín đồ Thanh giáo (Puritans) không mừng Lễ Giáng Sinh và lễ hội Halloween. Dân nhập cư Công giáo Đức khôi phục lễ Giáng Sinh và dân nhập cư Công giáo Ai-len khôi phục lễ hội Halloween hồi thế kỷ XIX.
Hãy đừng hóa trang thành MA QUỶ trong dịp lễ Halloween . Hãy biến ngày lễ HALLOWEEN thành HOLY WEEN , nghĩa là ăn mặc hoặc hóa trang như các Thánh .Chúng ta là con cái của Chúa không phải là con cái Ma quỷ . Hãy biến đêm của Sợ Hãi thành 1 đêm của niềm vui Thánh Thiêng.

Thương mại hóa lễ hội Halloween: Tiếp tục sự phản đối lễ hội Halloween là cách thể hiện của chủ nghĩa chống Công giáo (kể cả định kiến chống Ai-len). Nhưng đầu thế kỷ XX, Halloween (cũng như Lễ Giáng Sinh) đã bị thương mại hóa. Các lễ phục và các đồ trang trí làm sẵn, kể cả kẹo đặc biệt, đều có sẵn nhiều, và nguồn gốc Kitô giáo của lễ hội này bị áp chế. Có nhiều phim kinh dị, nhất là phim ác liệt hồi thập niên 1970 và 1980, làm cho lễ hội Halloween mang tiếng xấu, như những người thờ cúng ma quỷ đã tạo ra truyện thần thoại mà lễ hội Halloween là lễ hội của họ, sau đó người Kitô giáo cũng hợp tác.

Người chống Kitô giáo tấn công lễ hội Halloween (lần 2): Một sự phản ứng mới đối với lễ hội Halloween từ phía những người ngoài Kitô giáo bắt đầu từ thập niên 1980, một phần vì cho rằng lễ hội Halloween là “đêm của ma quỷ”, một phần vì truyền thuyết về chất độc và lưỡi dao lam trong kẹo Halloween, và một phần vì sự minh nhiên chống Công giáo. Jack Chick, một người theo trào lưu chính thống chống Công giáo dữ dội đã góp phần làm những cuốn sách nhỏ khôi hài về Kinh thánh, làm thay đổi nhãn quan người ta. Cuối thập niên 1990, nhiều cha mẹ Công giáo, do không biết về nguồn gốc chống Công giáo đối với lễ hội Halloween, đã nghi ngờ lễ hội Halloween và thay đổi cách vui lễ hội này.

Thay thế các hoạt động của lễ hội Halloween: Mỉa mai thay, một trong những cách phổ biến nhất của người Kitô giáo vui lễ hội Halloween là “Lễ hội Thu hoạch”, nó trở nên phổ biến trong lễ hội Samhain của người Celtic hơn là trong Lễ Các Thánh của Công giáo. Không có gì sai với việc mừng lễ hội thu hoạch, nhưng không cần bỏ cách mừng lễ hội liên quan lịch phụng vụ Công giáo.
Một cách khác phổ biến trong người Công giáo là “Bữa Tiệc Lễ Các Thánh”, thường tổ chức vào ngày lễ hội Halloween và lễ phục (giống các thánh hơn giống ma quỷ), và kẹo nữa. Đó là nỗ lực Công giáo hóa một lễ hội vốn dĩ mang tính Kitô giáo rồi.

An toàn và sợ hãi: Các bậc cha mẹ quyết định con cái họ có thể tham gia an toàn trong các hoạt động của lễ hội Halloween hay không, trong thế giới ngày nay, có thể hiểu rằng nhiều người chọn sai. Một mối quan ngại thường thái quá là hậu quả của sự sợ hãi có thể ảnh hưởng trẻ em. Dĩ nhiên, một số trẻ em rất nhạy cảm, nhưng đa số đều thích được sợ và làm người khác sợ (dĩ nhiên, trong giới hạn – ví dụ, sợ ma mà ai cũng thích nghe truyện ma!). Lễ hội Halloween cung cấp một môi trường có cấu trúc về nỗi sợ. Chính nỗi sợ cũng có phương diện tích cực.

Quyết định: Cuối cùng, nếu bạn chọn cách cho con cái tham gia lễ hội Halloween, hãy nhấn mạnh nhu cầu an toàn thể lý (kể cả việc kiểm tra kẹo khi chúng về nhà), và giải thích về nguồn gốc lễ hội Halloween cho con cái biết. Trước khi cho con cái đi dự lễ hội này, hãy cùng nhau cầu nguyện với Tổng lãnh Thiên thần Micae, và nói rằng người Công giáo chúng ta tin có ma quỷ. Hãy giải thích mối liên quan minh nhiên của chiều tối trước Lễ Các Thánh và giải thích cách mừng lễ này, để chúng biết Lễ Các Thánh KHÔNG là “ngày buồn chán khi chúng ta phải tới nhà thờ trước khi ăn kẹo”.

Hãy khôi phục lễ hội Halloween cho Kitô giáo bằng cách trả lại nguồn gốc cho Giáo hội Công giáo!
TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ Catholicism.ab

28 thg 10, 2013

THÁNH SIMON & THÁNH GIUĐA TÔNG ĐỒ

HAI MÔN ĐỆ TRUNG KIÊN

Ơn gọi là một cái gì huyền nhiệm. Bất cứ ai sinh ra trên thế giới này, một cách nào đó đều nghe được một tiếng mời gọi âm thầm nào đó trong cuộc đời của mình và rồi, con người đi theo tiếng gọi. Chúa Giêsu không chọn bất cứ ai mà không cầu nguyện lâu giờ và không đi vào cõi thâm sâu để hỏi ý Thiên Chúa Cha. Chúa cầu nguyện, chúng ta không biết Chúa nói gì, không biết Chúa trao đổi, bàn luận gì với Đức Chúa Cha, nhưng có một điều chúng ta nhận thấy Chúa luôn luôn làm theo ý Cha của Ngài. Thánh Simon và thánh Giuđa, tông đồ không nằm ngoài dự định của Chúa Giêsu. Ơn gọi của các Ngài cũng na ná trường hợp của các tông đồ khác. Chúa đi ngang nơi nào đó, Ngài kêu gọi, các tông đồ nhận ra tiếng gọi của Chúa và họ bỏ mọi sự để theo Đức Kitô.

Chúa tuyển chọn các Ngài và gọi các Ngài là “ Apostoloi “, nghĩa là người được sai đi. Nhưng, trước khi gọi các Ngài là Apostoloi, Chúa Giêsu đã cầu nguyện thâu đêm với Chúa Cha. Ngài chọn các tông đồ là do sự nhưng không, do ân huệ tuyệt vời của Ngài. Chúa không dựa trên những tiêu chuẩn mà người đời thường dùng để chọn hoặc cất nhắc một nhân vật nào đó như trình độ, tri thức, vóc dáng bề ngoài, cao, lớn, mập, gầy vv…Chúa tuyển chọn các tông đồ hoàn toàn do ý định của Ngài, không ai có quyền đòi Ngài phải chọn hay không chọn, Ngài tuyển chọn là do tình thương của Ngài.

Thánh Simon còn có biệt hiệu Simon người Cana, hay Simon nhiệt thành. Thánh Giuđa, có biệt danh là Tađêô, con của Giacôbê, anh em với Chúa Giêsu. Sở dĩ Hội Thánh mừng thánh Simon và Giuđa cùng một ngày là vì có sự trùng hợp trong việc loan báo Tin Mừng và trong việc tuyên xưng đức tin, đổ máu đào để làm chứng cho Chúa Giêsu. Và thực tế, thánh Simon người Cana hoàn toàn khác với thánh Simon Phêrô, vị tông đồ trưởng và là người làm đầu Giáo Hội tiên khởi. Theo thánh truyền, thánh Simon và thánh Giuđa đi truyền giáo ở hai nơi hoàn toàn khác nhau. Thánh Simon rao giảng, loan báo Đức Kitô tại Ai Cập, còn thánh Giuđa tại miền Mésopotamia. Được Chúa Thánh Thần thúc đẩy, sau khi gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp trong việc rao giảng, hai thánh Simon và Giuđa đã cùng sang giảng đạo tại xứ Ba Tư. Chính tại nước Ba Tư, hai vị thánh này đã được phúc tử đạo làm chứng cho Chúa như các tông đồ khác.Thánh Giuđa rất trung thành với lời rao giảng, với lời Chúa nên Ngài không sợ hãi mà luôn chống lại những kẻ có thái độ khích bác Tin Mừng.

Hai thánh tông đồ Simon và Giuđa đã hiên ngang làm chứng cho Chúa phục sinh. Các Ngài đã lãnh triều thiên vinh quang Chúa dành cho những kẻ trung tín với Ngài.


Lạy thánh Simon và thánh Giuđa tông đồ, xin cầu bầu cùng Chúa cho chúng con để chúng con luôn hiên ngang làm chứng cho Chúa Kitô chịu đóng đinh thập giá và vinh quang sống lại. Amen.
Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT