Một
vị ẩn sĩ sống trong một khu rừng luôn bị một cô gái chơi đến cám dỗ.
Ngạc nhiên trước sự thanh thản của vị tu hành, nhưng đồng thời cũng nghi
ngờ sự bất bình thường của người đàn ông, cô liền hỏi một câu chế nhạo:
- Thầy không biết yêu sao?
Vị ẩn sĩ trả lời:
- Chưa đến giờ đó thôi?
Câu
chuyện bỏ lửng tại đó. Một lần kia, trong lúc đi khất thực, vị tu hành
phát hiện người con gái hay đến phá phách mình đó bị bọn cướp trấn lột
và đánh cho thừa sống thiếu chết bên lề đường. Ông bèn dừng chân lại săn
sóc cô ta, chữa các vết thương và đưa cô về thành phố điều trị
Cô gái sững sờ nhìn vị ân nhân mà chưa biết mở lời ra sao, thì vị ẩn sĩ mỉm cười nói:
- Đã đến giờ rồi đấy, giờ của lòng thương xót!
Người
thông luật trong bài Tin mừng hôm nay hỏi Chúa Giêsu: “Ai là người thân
cận của tôi?” Thay vì trả lời, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn người Samaria
tốt lành: Một khách bộ hành đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, bị bọn cướp
đánh nhừ tử, trấn lột, rồi bỏ nằm nửa sống nửa chết bên lề đường. Trong
khi hai thầy tư tế và Lêvi “tránh qua bên kia mà đi”, thì người Samaria
ngoại đạo lại dừng chân, băng bó vết thương, đem nạn nhân về nhà trọ săn
sóc.
Chúa
Giêsu hỏi lại người thông luật: “Vậy ai là người thân cận của kẻ bị
cướp?” Hỏi tức là trả lời. Và người thông luật đáp: “Chính là kẻ đã thực
thi lòng thương xót”. Chúa Giêsu bảo: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như
vậy.
Vị ẩn sĩ trong câu chuyện trên đây và người Samaria nhân hậu đã sống luật yêu thương một cách tuyệt vời, đó là “yêu bằng việc làm”.
Yêu không chỉ trên đầu môi chót lưỡi, rồi phủi tay không làm gì cả, mà
yêu chính là “miệng nói tay làm”, làm thực sự với hết khả năng của mình.
Những việc làm cụ thể thường hùng hồn hơn những lời nói suông. Con
đường dài nhất là con đường từ trái tim đến đôi tay. Chúa Giêsu muốn
chúng ta đi hết con đường đó: “Hãy đi và làm như vậy”. Pascal đã nói:
“Khuyết tật lớn nhất của một người là phục vụ quá ít cho những kẻ họ yêu
thương”.
Sở dĩ người ta không dám làm một cái gì đó cho những người anh em, là vì họ không có can đảm vượt qua nỗi sợ.
Sở
dĩ thầy tư tế và thầy Lêvi “tránh qua bên kia mà đi” là vì các thầy sợ ô
uế khi đụng vào xác chết, sợ bọn cướp còn ẩn nấp đâu đây, sợ rắc rối
phiền hà đến bản thân.
Sở
dĩ chúng ta không dám làm một cái gì đó cho người anh em khi họ cần
giúp đỡ, là vì chúng ta sợ phải thiệt thòi, sợ tốn công sức, sợ mất thời
gian, sợ phải trả giá, sợ đụng đến sự an toàn, tiện nghi của mình.
Chúng ta muốn được yên thân! Thầy tư tế và thầy Lêvi đã tự hỏi: “Điều gì
sẽ xảy ra cho tôi, nếu tôi dừng lại và săn sóc người anh em bị đánh nhừ
tử?” Trái lại, người Samaria đã đảo ngược câu hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra
cho người anh em bị đánh nhừ tử, nếu tôi không dừng lại và chăm sóc
người ấy?” Người Samaria tốt lành đã xả thân vào một hành động vị tha
đầy nguy hiểm.
Yêu thương không phải là cho đi một cái gì, nhưng là cho đi chính bản thân.
Yêu thương là hy sinh, là quên mình, là hiến thân phục vụ tha nhân:
Kahil Gibram có một câu nói chí tình: “Bạn cho đi quá ít khi chỉ cho đi
của cải. Chỉ khi nào cho đi chính mình, bạn mới thực sự cho đi”. Càng đi
tìm bản thân, con người càng đánh mất chính mình. Càng co cụm trong vỏ
ốc ích kỷ của mình, con người càng chết dần mòn trong nỗi cô đơn. Càng
muốn được yên thân, con người càng vong thân.
Nỗi khát khao hạnh phúc của con người chỉ có thể được lấp đầy khi họ biết đến gần, cúi xuống phục vụ tha nhân.
Con người chỉ thành đạt thực sự, con người chỉ thực sự là người khi họ dám sống chết cho anh em.
Người
tín hữu Kitô chỉ thực sự là con Chúa khi họ dám tiêu hao vì người khác.
Mẹ Têrêxa Calcutta nói: “Kitô hữu là người trao ban chính bản thân
mình”.
Yêu
rồi làm. Khi đã yêu rồi chúng ta sẽ biết phải làm gì cho người anh em.
Khi đã yêu rồi chúng ta sẽ có sáng kiến để xả thân vì mọi người, nhất là
những người nghèo hèn đau khổ. Khi đã yêu rồi, chúng ta sẽ biết cách
làm cho kẻ xa lạ nên người thân cận, kẻ thù địch nên người bạn tốt, chỉ
cần chúng ta dám dừng lại, đến gần và cúi xuống trước anh em.
Lạy
Chúa, cuộc sống đạo của chúng con sẽ trở nên phù phiếm nếu cái cốt lõi
của đạo là yêu thương chỉ là điều phụ thuộc. Xin đừng để chúng con loay
hoay với những tính toán ích kỷ; chai đá, dửng dưng trước những khổ đau
của anh em. Nhưng xin dạy chúng con biết chạnh lòng xót thương và giúp
đỡ những ai đang cần đến chúng con. Amen.
(Trích dẫn từ ‘Như Thầy Đã Yêu’)
13 thg 7, 2013
CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN - C
Tin Mừng Lc 10,25-37
Một hôm, có người thông luật kia muốn thử Đức Giê-su mới đứng lên hỏi người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Người đáp: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” Ông ấy thưa: “Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và người thân cận như chính mình". Đức Giê-su bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống”. Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giê-su rằng: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” Đức Giê-su đáp: “Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”. Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Đức Giê-su bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy.”
Một hôm, có người thông luật kia muốn thử Đức Giê-su mới đứng lên hỏi người rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?” Người đáp: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” Ông ấy thưa: “Ngươi hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và người thân cận như chính mình". Đức Giê-su bảo ông ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy là sẽ được sống”. Nhưng ông ấy muốn chứng tỏ là mình có lý, nên mới thưa cùng Đức Giê-su rằng: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?” Đức Giê-su đáp: “Một người kia từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-khô, dọc đường bị rơi vào tay kẻ cướp. Chúng lột sạch người ấy, đánh nhừ tử, rồi bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ, có thầy tư tế cũng đi xuống trên con đường ấy. Trông thấy người này, ông tránh qua bên kia mà đi. Rồi cũng thế, một thầy Lê-vi đi tới chỗ ấy, cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi. Nhưng một người Sa-ma-ri kia đi đường, tới ngang chỗ người ấy, cũng thấy, và chạnh lòng thương. Ông ta lại gần, lấy dầu lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc. Hôm sau, ông lấy ra hai quan tiền, trao cho chủ quán và nói: “Nhờ bác săn sóc cho người này, có tốn kém thêm bao nhiêu, thì khi trở về, chính tôi sẽ hoàn lại bác”. Vậy theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?” Người thông luật trả lời: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Đức Giê-su bảo ông ta: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy.”
12 thg 7, 2013
TÌNH YÊU NHƯ NẮNG
Chuyện Phiếm đọc trong tuần thứ XV mùa Thường Niên Năm C 14-7-2013
“Tình yêu như nắng,
nắng đưa em về bên dòng suối mơ”
“Nhẹ vương theo gió,
gió mang câu thề xa rời chốn xưa.”
(Ngô Thụy Miên – Riêng Một Góc Trời)
(Phl 2: 1-2)
Mỗi lần, bần đạo nghe giọng Tuấn Ngọc hát lên những lời tương tự, là đã thấy ngay “Một góc Trời”, khá thời thượng. Góc trời thời thượng, nói nôm na thì: chẳng trời đất nào lại có góc, có cạnh ở đâu hết. Góc Trời rất riêng tây, mà bần đạo nay đề cập, là tình tự thấy rõ ở câu ca, vẫn hát tiếp:
“Tình như lá úa, rơi buồn trong nỗi nhớ.
Mưa vẫn mưa rơi,
Mây vẫn mây trôi
Hắt hiu tình tôi.”
(Ngô Thụy Miên – bđd)
À thì ra, góc trời riêng tây một cõi, là tình-tự của người viết nhạc và/hoặc của nghệ sĩ nay cứ hạt những là “lá úa”, “hắt hiu”,“như sương khói”. Tình tự người nghe nhạc, lại chỉ là những tình rất tự-sự của người đang sống với môi trường thực-tế cứ thấy đời mình như sương khói, “mơ hồ trong bóng tối” rất ê chề, hết cách chữa.
Có thể, người nghe nhạc ở đâu đó, chợt thấy người nghệ sĩ vẫn cứ hát thêm câu khá âu sầu:
“Tìm đâu thấy, tìm đâu thấy nữa
Khi mùa đông về theo cánh chim bay
Là chia cách đôi nơi
Là, hạnh phúc rã rời, người ơi!”
(Ngô Thụy Miên - bđd)
Chuyện rã rời đời người hôm nay, không chỉ là tình tự-sự giữa hai người, thôi. Mà, còn là và sẽ là sự rã rời nơi tình người đối với nhau và với không gian/môi trường không còn dễ sống và đáng sống nữa. Nhưng đã và sẽ một gãy đổ/rữa nát giả như con người, chứ không phải con vật ở rừng sâu, cứ tiếp tục gây vỡ đổ/rữa nát khiến môi trường sống không còn có thể sống lâu dài được nữa.
Lập trường đây, không phải của riêng bầy tôi/bần đạo cứ xục xạo các chuyện kể hoặc vấn đề thời đại, thời mà đàn anh/đàn chị bậc trưởng thượng hay đặt vấn nạn này nọ. Bậc trưởng thượng nay ưu tư, uẩn ức rất âu sầu về tình thương hết mọi thứ, cả những thứ không chỉ là ưu-tư của người thường, như đấng bậc nọ từng ghi thư gửi Giáo Hoàng mới đắc cử, ở bên dưới:
“Trọng kính Đức Giáo Hoàng Phanxico đáng kính,
Có nhiều điều và nhiều thứ khiến bản thân con vẫn muốn đề-cập đến trong thư này. Nhưng, con không biết bắt đầu thế nào cho phải lẽ. Bởi thế nên, nếu ngài cho phép con tâm sự chừng vài phút thôi, con sẽ san sẻ với ngài một vài ký ức của con như sau:
Cách nay không lâu, tại xứ sở mà mọi người vẫn gọi là Úc Châu, con đã thong dong tản bộ vào một buổi sáng thứ Bẩy ở khu thương mại để xem dân cho biết sự tình. Lý do là bởi nước Úc của con vẫn có thói quen thích các khu thị tứ đồ sộ với nơi đậu xe thật to lớn đến độ con cứ tự hỏi, sao ở đây không ai chối bỏ sự thể về lửa luyện ngục rồi còn tin vào các khu thương-xá rất vĩ đại.
Đặc biệt là sáng hôm ấy, con bước vào quán xá gọi một tách cà-phê nóng cho ấm lòng bèn thấy bàn bên cạnh lại là vị linh-mục mang cổ trắng khá nổi bật, cũng đang tìm cách gọi cà-phê như con. Vẫn đinh ninh ông là linh mục Anh-giáo hay sao đó, nhưng không rõ, bởi lẽ quây quần bên ông có đến bốn trẻ cứ gọi hết ba rồi lại bố rộn cả một góc trời. Trong số đám con đó, có một bé em cứ là đòi bố với ba mua cho được nhưng hai đôi giày khác nhau, một để chơi bóng tròn, một để chơi bóng bầu dục, kiểu của Úc.
Cô con gái của ông lại cũng đỏ mặt tía tai vì cái túi sách của cô không có chỗ nào đặc biệt cho chiếc di động khá đắt tiền của cô. Trong khi đó, một bé còn trong nôi cứ là khóc inh ỏi, còn bé kia thì cứ xé nhỏ cái bánh tiêu đường rồi vứt vào bé em trong nôi.
Vị linh mục kia cố gắng hết mình để sự việc được êm thắm, nhưng không xong. Ông bắt đầu mất bình tĩnh, chửi toáng kêu cả tên tục của cấp trên ra mà tả oán kể khổ. Và rồi, khi gỡ nắp đựng cốc cà-phê bằng giấy ra, bất chợt ông kêu tên cực trọng ra mà xin lỗi: Lạy Chúa, xin thứ tha cho lỗi của kẻ hèn mọn này.
Trọng kính Đức Thánh Cha,
Kể chuyện này, con chỉ muốn nói rằng: với con, sự kiện này là dấu chỉ về cuộc sống mỗi ngày của đám con cái cha đang ở đây, chí ít là đấng bậc linh mục như vừa thấy. Linh-mục ấy, nay cho thấy mình cũng mon men sát lằn ranh chịu đựng trong cuộc sống, đến độ khó có thể làm hơn thế. Ông cũng đã nguyện cầu bằng lời lẽ xuất tự tâm can. Và trong trường hợp vừa kể, ông cũng đã hoà mình với những người đi mua sắm ở khu này khá tương tự như công việc cử hành và chiến đấu với thực tại rất thật vào một buổi sáng thứ bẩy rất thường tình. Lý do mà lâu nay một số người vẫn biện luận cho rằng Giáo hội mình cần phong chức linh-mục cho các vị có gia đình, là chuyện không mấy thực tế. Trên thực tế, chừng như Giáo hội ta đang bị chứng ưu tư buồn bã làm cho tê cứng. Có lẽ Giáo hội ta đang cần đến các linh mục nào có khả năng mở rộng vòng tay với thứ thực tại của thế giới đương đại, dù các ngài có chọn sống đời độc thân thanh khiết, thiết tưởng cũng bị một áp lực tương tự như thế.
Có thể ngài không tin chuyện con kể ở đây là chuyện thực tế, nhưng sự việc xảy ra hôm đó lại cứ trở về với đầu óc của con rất nhiều lần khi con nhớ lại có lần đã đọc được ở đâu đó đôi giòng chảy ngài từng tỏ lộ trước khi được bầu làm vị thượng hoàng của cả Hội thánh. Điều ngài viết, ai cũng nhớ rõ mồn một như sau:
“Thật sự, thì tôi vẫn xác tín rằng: thời buổi hôm nay, chọn lựa căn bản để Hội thánh ta làm không phải là giảm thiểu hoặc bãi bỏ đi các giới lệnh này khác của Giáo hội; và biến giới lệnh này hay giới lệnh khác sao cho dễ thực hiện hơn, nhưng là: hãy cứ xuống phố đi vào các ngõ nhỏ để kiếm tìm đồng bào hầu hiểu rõ từng người, biết cả tên lẫn tuổi của họ; chứ, không phải chỉ là Giáo hội mình có bổn phận phải ra đi rao giảng Tin Mừng và coi đó như sứ mệnh được trao ban, mà: không làm thế, tự khắc sẽ tổn hại đến chính thanh danh của Giáo Hội. Rõ ràng là, nếu ta xuống phố đi vào đời có thể sẽ gặp phải tai nạn này khác xảy ra cho chính mình cũng không chừng. Nhưng riêng tôi, tôi vẫn một ngàn lần thích có một Giáo Hội bị tai nạn nhiều hơn là Hội thánh cứ bệnh hoạn mãi.” (x. Michael McGirr, A Letter to the Pope, Australian Catholics, Winter 2013, tr. 16)
Thích chọn một giáo hội “sứt càng gãy gọng” vì tai nạn, hơn một giáo hội đau yếu, bệnh hoạn. Vâng. Đó là lựa chọn của đấng bậc ở trên cao. Nhưng, như thế chưa hẳn là chọn lựa của toàn-thể hội thánh Chúa. Cũng thế, nếu là nghệ sĩ tức là người thích hát những câu ca “một góc trời” nào đó, thì có lẽ bạn và tôi, ta sẽ lại hát tiếp câu trên, như sau:
“Người vui bên ấy, xót xa nơi này thương hình dáng ai,
Vòng tay tiếc nuối bước chân âm thầm nghe giọt nắng phai.
Đời như sương khó, mơ hồ trong bóng tối
Em df9ã xa xôi, tôi vẫn chơi vơi riêng một góc trời.”
(Ngô Thụy Miên – bđd)
Góc trời riêng tây ấy, nay thấy chơi vơi, chẳng vì “Em đã xa rồi” cho bằng tình tự của tôi, của em, của rất nhiều người nay cứ níu kéo:
“Người yêu dấu, người yêu dấu hỡi.
Khi mùa xuân vội qua chốn nơi đây,
Nụ hôn đã mơ say, bờ môi ướt mi cay cay nay còn đâu.
Tìm đâu thấy, tìm đâu thấy nữa
Khi mùa Đông về, theo cánh chim bay
là chia cách đôi nơi là hạnh phúc rã rời, ngươi ơi!”
(Ngô Thụy Miên – bđd)
Góc trời hội thánh hay cõi trời của tôi, của bạn và của mọi người, là cảnh-trí/môi trường ta sống đang ra như rã nát, bệnh hoạn rất không kém. Bằng chứng ư? Thật ra thì, bần đạo đây hay bạn bè các nơi cũng chẳng kiếm đâu ra được bằng chứng nào thuyết phục được mọi người. Chỉ dám cống hiến bạn đọc những giòng chữ này đôi ba truyện kể để ai cảm nghiệm được chừng nào, hay chừng nấy, thôi.
Trước hết là truyện tiếu lâm nhẹ nhưng có thật, để nói lên rằng: trong môi trường ta đang sống cũng có những chuyện lỉnh kỉnh, khá buồn cười để cho vui, trước khi đi vào câu chuyện nghiêm túc, đứng đắn:
“Báo “Unity”, một tập san do cộng đồng Công giáo ở miền đất phía Bắc Úc Châu có ghi lại một truyện kể về cụ bà cao niên cũng dễ nể, rằng: Hôm ấy, cụ lon ton bước từ khu thương mại ra bãi đậu xe chất đồ đạc vừa sắm sửa, bèn thấy 4 vị đàn ông lực lưỡng đang chễm chệ ngồi ở đó, miệng còn mủm mỉm như thách đố cụ bà cứ việc giải quyết cho hữu lý.
Thấy thế, cụ bà bèn bỏ mấy túi đồ vừa mới mua xuống đất, rút trong người khấu súng lục nhỏ nhắn bằng giọng hét vẫn rất lớn: “Bọn bay có biết là bà đây đang có súng và cũng biết cách xử dụng, chẳng thua ai không? Khôn hồn thì bước ra khỏi xe mà đầu hàng, cho được việc!”
Mấy người đàn ông nghe thế, bèn răm rắp tuân lệnh, biến khỏi hiện trường ngay tức thì. Nhưng, kỳ lạ thay, cụ xỏ chìa khoá xe vào ổ rất đúng cách mà sao máy vẫn không chịu nổ. Và, cớ làm sao lại có hai thùng bia hiệu Victoria Bitter còn nguyên xi. Thêm vào đó, còn có quả bóng bầu dục nữa mới hết biết? Trong một thoáng rất nhanh, cụ bà phát hiện ra rằng mình đã chui lộn vào xe người khác, nhưng trễ mất rồi, bọn tứ quái kia biến đâu mất làm sao mà thanh minh thanh nga đây. Cụ bà nhìn quanh quất mới thấy xe của cụ đang nằm chình-ình cách đó không xa, bèn lên xe chạy thẳng đến đồn cảnh sát báo cáo sự việc. Cảnh-sát-viên ở đó không nhịn cười được, bèn chỉ vào 4 người đàn ông ngồi phía bên kia cũng vừa đến báo cáo rằng: xe của họ vừa bị một lão bà có súng đến cướp cạn.
Chuyện chỉ mỗi thế. Cũng may là: chỉ vì sơ xuất và lầm lẫn, nên chẳng bên nào bị phạt vạ hoặc ký giấy gì hết.” (x. The Catholic Weekly 16/6/2013 tr. 3)
Truyện kể đúng thật chỉ có thế. Nhưng, như thế không có nghĩa là người kể quên gửi gắm một bài học, bảo rằng: Nếu bạn bắt gặp bất cứ chuyện gì có liên quan đến môi trường nay đổi thay, cũng đừng ngại ngần mà quan tâm cho đúng cách. Chuyện về cụ bà ở trên đã lầm lẫn xe mình với xe người, chỉ vì môi trường/mặt bằng nơi bãi đâu cũng đã thay đổi kể từ ngày cụ ghé đậu không bao lâu.
Lan man kể truyện nhẹ ở trên, là để dẫn nhập vào với câu chuyện ta mạn đàm về môi trường, thời buổi này. Nói chữ “môi trường” đôi lúc thấy cũng rộng và rắc rối. Bởi, nó dấy lên nhiều cuộc tranh cãi, rất mê say biện luận. Nói đến môi trường, có vị lại cứ liên tưởng đến sự việc rừng rậm/rừng thưa xưa rày đầy mầu xanh, nay chỉ lớt phớt đôi ba cây trơ cả gốc ngọn đến lo ngại. Có vị hễ cứ đề cập đến môi trường lại cứ lo cho loài thú hiếm nay truyệt chủng vì loài người ham đốn rừng lấy gỗ/lấy củi, khiến đất đai khô cằn thiếu nước, thiếu sức sống rất đáng sợ.
Nói đến môi trường hôm nay, còn hỏi là: nhà Đạo mình tính sao về những chuyện như thế? Nhà Đạo mình có trách nhiệm gì về gìn giữ môi trường cho dân con mình được sống? Và, có chăng một thần học môi trường?
Nói về môi trường hôm nay là nói rất nhiều giờ và nhiều thứ. Có những thứ/những sự mà người nhà Đạo nói hoài/nói mãi, không biết mệt. Không mệt, là bởi Đạo Chúa nói về môi trường từ thuở ban đầu của lịch sử, khi Giavê Thiên Chúa tạo dựng trời đất có con người, ở sách Sáng Thế ký. Rồi đến thánh vịnh lại cũng cất lời ngợi khen nét vẻ mỹ miều của thế giới, nơi ta sống. Thế giới đây, không chỉ là đất miền để ta khai thác đến tận cùng mà tồn tại. Nhưng còn để tạo vật nhìn vào đó mà ngợi ca kỳ công Chúa thiết lập. Chúa lập nên chốn ta sống, có cỏ cây hoa lá có cả sinh vật vẫn cùng với con người sống kết hợp/sẻ san hầu gìn giữ nó cho thế hệ sau có cơ hội mà sống sót.
Tin Mừng không đề cập trực tiếp đến chuyện môi trường sống của con người. Đức Kitô không nói rõ bằng Lời về cuộc sống có kết hợp với môi trường trong đó mọi sinh vật đều đang sống. Nhưng cuộc sống và cái chết của Chúa đã tạo cho tín hữu Ngài có thái độ đúng đắn với môi trường. Chính Chúa đã chứng minh bằng hành động và sinh hoạt của Ngài đối với Chúa Cha và thế trần do Ngài lập.
Chúa thương con người đến độ Ngài đã để cho Con Một Ngài tham gia vào cuộc sống ở dưới thế với con người và như con người. Giống và như con người, Ngài cũng có những băn khoăn, trăn trở, khổ đau và cuối cùng cũng chết đi để cứu vớt con người và trần thế. Chúa đến với thế trần, không chỉ để cứu mỗi linh hồn của con người mà thôi, nhưng Ngài còn cứu vớt cả thế giới để rồi đổi mới tất cả, cùng với con người.
Bằng Tin Mừng Ngài loan báo, Chúa tỏ cho dân con mọi người thấy được điều cần thiết giữ gìn cuộc sống ở trần thế, biết chiêm ngưỡng nét đẹp của vạn vật. Bằng sự kiện cụ thể, Ngài kể cho dân con mọi người các dụ ngôn bình dị liên quan đến thiên nhiên vạn vật, như: hoa quả, tiết trời, nhà nông trồng tỉa, gặt hái thành tựu của vụ mùa, nhất nhất tỏ cho mọi người thấy Ngài cảm kích sống với thế gian mà không màng chấp nhận mọi ràng buộc của môi trường hạn hẹp, nhiều bức bách. Và, Ngài chấp nhận đồng cam đồng khổ với con người, và cùng với mọi người kinh qua mọi giai đoạn của cuộc sống, rất giống nhau.
Sống trong môi trường cụ thể, con người nay giống Chúa vẫn gặp nhiều thách thức đặt ra cho chính mình. Thách thức thuộc đủ mọi tầm cỡ quyết chăm lo cho đất mẹ do Chúa tạo dựng. Thách thức ngày nay thấy rõ nơi thời tiết đổi thay, thực phẩm và nước uống cứ cạn dần. Thách thức còn thấy rõ, ở sự việc buộc mọi người phải tìm cách cải thiện cuộc sống nhờ y khoa, biến chế thực phẩm từ thiên nhiên ngõ hầu giúp con người sống dai, sống mạnh, sống phúc hạnh hơn khi trước.
Bước tiến của khoa học và kỹ thuật đã giúp cải thiện cuộc sống của con người cũng rất nhiều. Ngoài ra, các phương tiện con người đang có trong tay cũng giúp họ tìm tòi và phát triển nhiều giải phát thực tiễn hầu giải quyết mọi khó khăn đang gặp phải trong cuộc sống mà mội trường đang dần dà bị hủy hoại do nhiều thứ xúc tác, đến từ ngoài. Thách thức quan trọng và cuối cùng, là: con người vẫn phải thật thà và tự tin. Tin rằng: bằng vào thiện chí sẵn có cộng thêm sự hỗ trợ của ơn trên, ta cũng sẽ giải quyết được mọi khó khăn đặt ra cho môi trường mình hiện sống cùng và sống với.
Và, một thách thức khác không kém quan trọng, là: biết mình chỉ là tạo vật rất hạn chế; thế nên, luôn cần đến sự hiệp thông hỗ trợ từ mọi phía, mọi người. Có như thế, mình với ta vẫn cứ là một. Một con người. Một sức mạnh vốn dĩ có thể thực thi mọi điều tốt đẹp sao cho phù hợp với tình thương Chúa ban và tình người đang mở rộng chào đón mỗi người và mọi người. Để rồi, tất cả mọi người đều có thể ngồi cùng bàn mà thưởng lãm tình tự thương yêu được làm con Chúa, được sống với anh em trong môi trường rất con người.
Còn lại, chỉ mỗi việc là: làm sao đáp ứng được ước vọng từ nhiều người, nhiều phía. Cả từ phía của người thường rất nghệ sĩ vẫn hát câu ca vang vọng tận “một góc trời” có những lời như:
“Tìm đâu thấy, tìm đâu thấy nữa khi mùa đông
về theo cánh chim bay là chia cách đôi nơi,
là hạnh phúc rã rời, người ơi!
Một mai em nhé, có nghe thu về bên hàng lá khô.
Ngàn sao lấp lánh, hát câu mong chờ em về lối xưa.
Hạ còn nắng ấm, thấy long sao buốt giá
Gọi tên em mãi trong cơn mê này mình nhớ thương nhau.”
(Ngô Thụy Miên – bđd)
Thật rất đúng. Trong cơn mê này, cơn mê của môi trường sống nay đi dần vào chốn rữa nát, vẫn cứ gọi tên em, gọi tên nhau mãi, trong cơn mê này mình nhớ thương nhau. Thương nhau, mình rất nhớ. Nhớ cả những lời được đấng thánh hiền vẫn bao ban, nhắc nhở, rằng:
“Nếu quả thật sự liên kết với Đức Kitô
đem lại cho chúng ta một niềm an ủi,
nếu tình bác ái khích lệ chúng ta,
nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí,
nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau,
thì xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn,
là hãy có cùng một cảm nghĩ,
cùng một lòng mến,
cùng một tâm hồn,
cùng một ý hướng như nhau.”
(Phillip 2: 1-2)
Tâm tình ấy. Ý hướng này, bạn và tôi, ta đều nắm vững. Nắm vững rồi, chỉ còn mỗi việc, là: ta nhất quyết biến nó thành hiện thực. Hiện và thực, cho đời mình, đời người và đời cỏ cây/sinh vật trong môi trường sống ta trải nghiệm, tất cả đều vui/đều mừng như đấng thánh từng dặn dò, nhắn nhủ rất không nhiều, nhưng cũng đủ để nhớ mãi suốt cuộc đời.
Trần Ngọc Mười Hai
Vẫn thường tự nhắn và tự nhủ
Những điều rất thường như thế.
7 thg 7, 2013
CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN - C
Một hôm, Chúa Giê-su chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. Người bảo các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. Đừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: "Bình an cho nhà này!" Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đến đậu trên người ấy; bằng không, thì bình an đó sẽ quay về với anh em. Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Đừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần các ông". Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Đại Thiên Chúa đã đến gần”. Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Xơ-đom còn được xử khoan hồng hơn thành đó.” ... Nhóm Bảy Mười Hai trở về, hớn hở nói: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con”. Đức Giê-su bảo các ông: “Thầy đã thấy Xa-tan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời.”
MỘT CHÚT DUYÊN MỘT CHÚT TÌNH
Tuy là vùng ven cách xa các tuyến thi, nhưng trong đợt I kỳ tuyển sinh Đại học năm nay, Giáo xứ Thiên Ân, Hạt Tân Sơn Nhì, SaiGon cũng đã chung tay đón nhận được 30 em cùng với thân nhân từ các tỉnh xa về Thành phố dự thi (từ ngày 1/7 đến 5/7).
Ngoài nơi ăn ở miễn phí, mọi người còn được:
- Ban Caritas giáo xứ phục vụ ăn uống.
- Giới trẻ phục vụ đưa đón các thí sinh đến các điểm thi.
Tất cả nói lên tinh thần sẻ chia, yêu thương và phục vụ của cả cộng đoàn dân Chúa...
Kết thúc kỳ thi tuyển đợt 1, Cha Chánh xứ Giuse đã khoản đãi buổi tiệc gia đình, ngài cám ơn tất cả mọi người đã đóng góp công sức cách này cách khác để chung lo cho các em thí sinh và thân nhân đến trọ nơi đây một cánh chu đáo, nhiệt tình suốt thời gian qua..
Ngoài ra, chương trình Văn nghệ Party Gala lần III "Bệ Phóng Tài Năng Giêsu" đã được Cha Phụ tá Phaolo chủ xướng cùng Giới trẻ Thiên Ân thực hiện trong đêm sinh hoạt giao lưu với các em trước khi trở về gia đình đã đễ lại "chút gì để nhớ" cho các bạn trong thời gian ngắn ngủi nhưng đầy ấp yêu thương...
Ngoài nơi ăn ở miễn phí, mọi người còn được:
- Ban Caritas giáo xứ phục vụ ăn uống.
- Giới trẻ phục vụ đưa đón các thí sinh đến các điểm thi.
Tất cả nói lên tinh thần sẻ chia, yêu thương và phục vụ của cả cộng đoàn dân Chúa...
Kết thúc kỳ thi tuyển đợt 1, Cha Chánh xứ Giuse đã khoản đãi buổi tiệc gia đình, ngài cám ơn tất cả mọi người đã đóng góp công sức cách này cách khác để chung lo cho các em thí sinh và thân nhân đến trọ nơi đây một cánh chu đáo, nhiệt tình suốt thời gian qua..
Ngoài ra, chương trình Văn nghệ Party Gala lần III "Bệ Phóng Tài Năng Giêsu" đã được Cha Phụ tá Phaolo chủ xướng cùng Giới trẻ Thiên Ân thực hiện trong đêm sinh hoạt giao lưu với các em trước khi trở về gia đình đã đễ lại "chút gì để nhớ" cho các bạn trong thời gian ngắn ngủi nhưng đầy ấp yêu thương...
3 thg 7, 2013
KHÔNG THẤY KHÔNG TIN
Nhưng: ” Phúc thay những người không thấy mà tin”( Ga 20, 29 ).
*********************
Thánh Tôma – Ðược gọi là “Tôma Hồ Nghi”.
Tử Đạo: Bị đâm bằng thương tại Corehandal, East Indies vào năm 52 A.D.
2 thg 7, 2013
CHÚ RÙA
Một
gia đình nhà rùa nọ muốn làm một chuyến du ngoạn và cắm trại ngoài
trời. Mấy chú rùa đã ròng rã chuẩn bị cho cuộc đi chơi này trong vòng
bảy năm. Khi mọi sự đã sẳn sàng, gia đình rùa bắt đầu lên đường tìm một
nơi thích hợp cho cuộc cắm trại. Vào năm thứ hai của cuộc hành trình,
mấy chú rùa đã tìm được một chỗ vừa ý. Trong vòng sáu tháng các chú rùa
lo dọn dẹp chỗ ở, mở các giỏ thức ăn đem theo, và sắp xếp mọi sự đâu vào
đấy. Tuy nhiên, lúc đó các chú rùa mới phát hiện ra một điều là đã quên
đem muối. Cả nhà rùa đồng ý với nhau, nếu cuộc cắm trại ngoài trời mà
không có muối thì thật là không thú vị chút nào.
Sau một cuộc thảo luận dài, chú rùa trẻ nhất được tuyển chọn để đi về nhà lấy muối. Tuy là chú rùa nhanh nhảu nhất trong họ hàng chậm chạp của nhà rùa, khi được chọn, chú rùa trẻ này đã cằn nhằn khóc lóc. Cuối cùng, nó cũng đồng ý đi về nhà lấy muối với một điều kiện là: không ai được ăn cho đến khi nó trở lại. Cả nhà rùa đồng ý và chú rùa ra đi.
Ba năm trôi qua, chú rùa con vẫn chưa trở lại, rồi năm, sáu năm trôi qua cũng không thấy bóng dáng chú rùa con đâu. Đến năm thứ bảy, con rùa lớn tuổi nhất không thể kiềm chế được cơn đói, liền tuyên bố rằng nó sẽ phải ăn thôi và bắt đầu tháo miếng bánh mì sandwich ra. Ngay lúc đó, chú rùa con bất ngờ xuất hiện từ phía sau bụi cây và la lên. “Thấy chưa! Tôi biết là các anh, các bác sẽ không chờ tôi mà! Bây giờ tôi sẽ không đi lấy muối nữa đâu.”
Cũng giống như chú rùa con này, nhiều người trong chúng ta sống thiếu tin tưởng hay không bao giờ tin tưởng vào anh chị em xung quanh. Chúng ta nghĩ xấu cho anh chị em mình và mong đợi họ sẽ trở nên xấu như điều chúng ta thầm nghĩ. Chúng ta lãng phí cả cuộc đời mình để chờ đợi người khác sống theo sự mong đợi tiêu cực của chúng ta. Chúng ta tạo cớ cho anh chị em vấp phạm và rồi bắt lỗi họ. Chúng ta không nhìn vào những thiện chí cố gắng của anh chị em mà chỉ nhìn vào lỗi lầm của họ để lên án, chỉ trích.
Thiên Chúa không hề đối xử với chúng ta như vậy. Cho dù chúng ta có xấu xa hèn hạ thế nào, Ngài vẫn chấp nhận và tin tưởng chúng ta. Ngài luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho chúng ta. Khi chúng ta sa ngã, lỗi lầm, Ngài tha thứ và quên đi tất cả, rồi Ngài cho chúng ta cơ hội khác để làm lại từ đầu.
Chúa Giêsu đã nêu gương cho chúng ta về cách đối xử với anh chị em xung quanh. Chúa không nhìn vào lầm lỗi của kẻ khác để lên án nhưng nhìn đến thiện chí cố gắng của họ và sẵn sàng tha thứ, đón nhận họ.
Câu chuyện ông Giakêu là một thí dụ điển hình. Không như những người Biệt phái và Luật sĩ, Chúa Giêsu không nhìn Giakêu như một người tội lỗi vì ngành nghề thu thuế và chức vụ đứng đầu của ông, nhưng Chúa đã nhìn đến thiện chí cố gắng của ông: vì muốn biết Chúa, ông đã cố gắng trèo lên cây sung để trông cho thấy mặt Ngài. Chúa đã bỏ qua lỗi lầm của ông và đã đến thăm nhà ông: “này Giakêu, xuống mau đi vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”. Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón tiếp Người. Ông Giakêu đã thưa với Chúa rằng: “thưa Ngài, này đây phân nửa gia sản của tôi, tôi cho người nghèo, và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19, 5 – 6, . Cái nhìn tích cực và cách đối xử quảng đại của Chúa Giêsu đã làm cho ông Giakêu hoán cải và trở thành người tốt hơn. Đây cũng là cái nhìn và cách thức Chúa muốn chúng ta đối xử với nhau.
Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì Chúa luôn thương yêu và chấp nhận chúng con cho dù chúng con có nhiều khuyết điểm lỗi lầm. Chúa luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho chúng con và nhìn đến thiện chí cố gắng của mỗi người chúng con. Xin cho chúng con đừng bao giờ ngã lòng trông cậy vào tình yêu Chúa nhưng biết vươn lên sống tốt đẹp hơn. Xin cũng giúp chúng con biết nâng đỡ, khích lệ anh chị em xung quanh bằng cách luôn mong muốn những điều tốt đẹp cho họ và nhìn đến thiện chí cố gắng của họ như chính Chúa Giêsu đã nêu gương và dạy chúng con. Amen.
Đặng Thế Dũng
Sau một cuộc thảo luận dài, chú rùa trẻ nhất được tuyển chọn để đi về nhà lấy muối. Tuy là chú rùa nhanh nhảu nhất trong họ hàng chậm chạp của nhà rùa, khi được chọn, chú rùa trẻ này đã cằn nhằn khóc lóc. Cuối cùng, nó cũng đồng ý đi về nhà lấy muối với một điều kiện là: không ai được ăn cho đến khi nó trở lại. Cả nhà rùa đồng ý và chú rùa ra đi.
Ba năm trôi qua, chú rùa con vẫn chưa trở lại, rồi năm, sáu năm trôi qua cũng không thấy bóng dáng chú rùa con đâu. Đến năm thứ bảy, con rùa lớn tuổi nhất không thể kiềm chế được cơn đói, liền tuyên bố rằng nó sẽ phải ăn thôi và bắt đầu tháo miếng bánh mì sandwich ra. Ngay lúc đó, chú rùa con bất ngờ xuất hiện từ phía sau bụi cây và la lên. “Thấy chưa! Tôi biết là các anh, các bác sẽ không chờ tôi mà! Bây giờ tôi sẽ không đi lấy muối nữa đâu.”
Cũng giống như chú rùa con này, nhiều người trong chúng ta sống thiếu tin tưởng hay không bao giờ tin tưởng vào anh chị em xung quanh. Chúng ta nghĩ xấu cho anh chị em mình và mong đợi họ sẽ trở nên xấu như điều chúng ta thầm nghĩ. Chúng ta lãng phí cả cuộc đời mình để chờ đợi người khác sống theo sự mong đợi tiêu cực của chúng ta. Chúng ta tạo cớ cho anh chị em vấp phạm và rồi bắt lỗi họ. Chúng ta không nhìn vào những thiện chí cố gắng của anh chị em mà chỉ nhìn vào lỗi lầm của họ để lên án, chỉ trích.
Thiên Chúa không hề đối xử với chúng ta như vậy. Cho dù chúng ta có xấu xa hèn hạ thế nào, Ngài vẫn chấp nhận và tin tưởng chúng ta. Ngài luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho chúng ta. Khi chúng ta sa ngã, lỗi lầm, Ngài tha thứ và quên đi tất cả, rồi Ngài cho chúng ta cơ hội khác để làm lại từ đầu.
Chúa Giêsu đã nêu gương cho chúng ta về cách đối xử với anh chị em xung quanh. Chúa không nhìn vào lầm lỗi của kẻ khác để lên án nhưng nhìn đến thiện chí cố gắng của họ và sẵn sàng tha thứ, đón nhận họ.
Câu chuyện ông Giakêu là một thí dụ điển hình. Không như những người Biệt phái và Luật sĩ, Chúa Giêsu không nhìn Giakêu như một người tội lỗi vì ngành nghề thu thuế và chức vụ đứng đầu của ông, nhưng Chúa đã nhìn đến thiện chí cố gắng của ông: vì muốn biết Chúa, ông đã cố gắng trèo lên cây sung để trông cho thấy mặt Ngài. Chúa đã bỏ qua lỗi lầm của ông và đã đến thăm nhà ông: “này Giakêu, xuống mau đi vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông”. Ông vội vàng tụt xuống, và mừng rỡ đón tiếp Người. Ông Giakêu đã thưa với Chúa rằng: “thưa Ngài, này đây phân nửa gia sản của tôi, tôi cho người nghèo, và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19, 5 – 6, . Cái nhìn tích cực và cách đối xử quảng đại của Chúa Giêsu đã làm cho ông Giakêu hoán cải và trở thành người tốt hơn. Đây cũng là cái nhìn và cách thức Chúa muốn chúng ta đối xử với nhau.
Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì Chúa luôn thương yêu và chấp nhận chúng con cho dù chúng con có nhiều khuyết điểm lỗi lầm. Chúa luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất cho chúng con và nhìn đến thiện chí cố gắng của mỗi người chúng con. Xin cho chúng con đừng bao giờ ngã lòng trông cậy vào tình yêu Chúa nhưng biết vươn lên sống tốt đẹp hơn. Xin cũng giúp chúng con biết nâng đỡ, khích lệ anh chị em xung quanh bằng cách luôn mong muốn những điều tốt đẹp cho họ và nhìn đến thiện chí cố gắng của họ như chính Chúa Giêsu đã nêu gương và dạy chúng con. Amen.
Đặng Thế Dũng
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
