6 thg 7, 2019

Anh em hãy ra đi (7.7.2019 – Chúa nhật 14 thường niên năm C)

Lời Chúa: (Lc 10,1-12.17-20)
1 Sau đó, Chúa chỉ định bảy mươi hai người khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến. 2 Người bảo các ông: “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về. 3 Anh em hãy ra đi. Này Thầy sai anh em đi như chiên con đi vào giữa bầy sói. 4 Ðừng mang theo túi tiền, bao bị, giày dép. Cũng đừng chào hỏi ai dọc đường. 5Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này!” 6 Nếu ở đó, có ai đáng hưởng bình an, thì bình an của anh em sẽ đến đậu trên người ấy; bằng không, thì bình an đó sẽ quay về với anh em. 7 Hãy ở lại nhà ấy, và người ta cho ăn uống thức gì, thì anh em dùng thức đó, vì làm thợ thì đáng được trả công. Ðừng đi hết nhà nọ đến nhà kia. 8 Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em. 9 Hãy chữa những người đau yếu trong thành, và nói với họ: “Triều đại Thiên Chúa đã đến gần các ông”. 10 Nhưng vào bất cứ thành nào mà người ta không tiếp đón, thì anh em ra các quảng trường mà nói: 11 “Ngay cả bụi trong thành các ông dính chân chúng tôi, chúng tôi cũng xin giũ trả lại các ông. Tuy nhiên các ông phải biết điều này: Triều Ðại Thiên Chúa đã đến gần”. 12 Thầy nói cho anh em hay: trong ngày ấy, thành Xơđom còn được xử khoan hồng hơn thành đó”.
17 Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con”. 18 Ðức Giêsu bảo các ông: “Thầy đã thấy Xatan như một tia chớp từ trời sa xuống. 19 Ðây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp lên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. 20 Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”.
Suy Niệm
Ai được mời gọi gặt lúa?
Không phải chỉ là nhóm Mười Hai tông đồ,
mà là 72 môn đệ;
không phải chỉ là 12 chi tộc Israel,
mà là mọi người thuộc mọi dân nước.
Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít.
Mọi Kitô hữu đều được mời làm thợ gặt.
Cả linh mục, tu sĩ, giáo dân
đều được sai đến với cánh đồng hôm nay.
Một lời rao giảng làm rộn lên niềm vui:
Nước Thiên Chúa đã đến gần anh chị em.
Một lời chào thân thiện:
Bình an cho nhà này.
Một thứ hành trang nhẹ tênh:
không túi tiền, bao bị, giày dép.
Một việc phải làm:
chữa lành những người ốm đau.
Một thái độ phải có:
khiêm tốn và siêu thoát,
đón nhận những gì người ta cung cấp cho,
không tìm kiếm tiện nghi, dễ chịu.
Nếu hôm nay Ðức Giêsu sai chúng ta đi,
Ngài sẽ dặn chúng ta điều gì?
Chắc Ngài sẽ dặn khác,
vì cánh đồng con người đã đổi khác.
Chúng ta phải hiểu thấu nỗi khát vọng của bạn bè,
phải biết nói sao để họ hiểu được,
nhạy cảm để thấy điều họ thực sự đang cần,
và sống hài hòa với lời mình giảng.
Có thể chúng ta sẽ đi giày, và có ba, bốn áo,
sẽ có ví tiền và máy vi tính xách tay,
sẽ có văn phòng, máy fax và điện thoại.
Nhưng những thứ đó không làm chúng ta nặng nề.
Hành trang không được trở thành những cản trở
khiến ta mất sự tín thác vào Thiên Chúa
và xa lạ với con người,
nhất là những người nghèo khổ.
Hôm nay Chúa sai chúng ta làm chứng giữa đời,
đôi khi ta thấy mình như chiên non giữa bầy sói.
Chúng ta cứ phải trăn trở hoài
để Tin Mừng chúng ta rao giảng cho bạn bè
thực sự đáp ứng những khát khao thầm kín của họ:
khát khao an bình, tự do, niềm tin và hạnh phúc,
khát khao tình huynh đệ, sự chia sẻ, tha thứ, cảm thông;
để những việc chúng ta làm cho họ
xoa dịu được nỗi đau nhức nhối,
và giải phóng họ khỏi xiềng xích của ác thần,
đang nô lệ hoá con người dưới muôn vàn hình thức.
Các môn đệ hớn hở mừng vui
khi lần đầu tiên họ trừ được quỷ nhân danh Thầy.
Vương quốc của Satan bị đẩy lui
bởi những con người bình thường và yếu đuối.
Hôm nay, khi xây dựng một thế giới công bằng và yêu thương
chúng ta tiếp tục đẩy lui Satan,
để Nước Chúa lớn lên trên mặt đất này,
và trở nên viên mãn trong ngày sau hết.
Cầu Nguyện
Lạy Chúa Giêsu,
xin sai chúng con lên đường
nhẹ nhàng và thanh thoát,
không chút cậy dựa vào khả năng bản thân
hay vào những phương tiện trần thế.
Xin cho chúng con làm được những gì Chúa đã làm:
rao giảng Tin Mừng, trừ quỷ,
chữa lành những người ốm đau.
Xin cho chúng con biết nói Tin Mừng với niềm vui,
như người tìm được viên ngọc quý,
biết nói về Ngài như nói về một người bạn thân.
Xin ban cho chúng con khả năng
đẩy lui bóng tối của sự dữ, bất công và sa đọa.
Xin giúp chúng con lau khô những giọt lệ
của bao người đau khổ thể xác tinh thần.
Lạy Chúa Giêsu,
thế giới thật bao la
mà vòng tay chúng con quá nhỏ.
Xin dạy chúng con biết nắm lấy tay nhau
mà tin tưởng lên đường,
nhẹ nhàng và thanh thoát.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

5 thg 7, 2019

Thực hư chuyện các em nhỏ chết ở Ai Cập trong sách Xuất Hành


Xin cho con hỏi: con thấy Thiên Chúa trong Cựu Ước thật độc ác chứ chả nhân lành gì. Con nhớ có lần con xem phim “Exodus” và thấy cảnh Ngài giết chết những em bé ở Ai Cập chỉ để cứu dân Israel. Như vậy thật là tàn nhẫn quá! Tấm pano quảng cáo của bộ phim cũng cho rằng việc áp bức người dân là điều không tốt nhưng việc giết những trẻ em vô tội như vậy thì liệu có phải là quá tàn nhẫn. Các bạn con đã hỏi con nhưng con không biết trả lời ra sao?
Chào bạn,
Câu hỏi của bạn đã từng trở thành một luận cứ mà người ta vịn vào đó để chống lại tôn giáo (đặc biệt là Kitô giáo) và cho rằng không có một Thiên Chúa nhân lành tồn tại. Thật là nguy hiểm khi các nhà làm phim đã dựng lại những câu chuyện trong Cựu Ước nói riêng và Kinh Thánh nói chung mà không tìm cách chuyển tải cho đúng ý nghĩa thần học trong.
Soggin (1926 – 2010) một học giả nổi tiếng cho rằng chúng ta có rất ít các dữ kiện lịch sử chính xác liên quan đến dân tộc Israel trước khi nước này hình thành chế độ quân chủ (thời vua Saul, Davit… trở đi). Tất cả những gì mà khoa học có thể xác thực trước đó chỉ dựa vào những vết tích còn sót lại qua những mảnh gỗ, đá… được các nhà khảo cổ tìm thấy. Vào những năm 2000 BC, nền văn minh ở Ai Cập đã phát triển cao. Người ta tìm thấy một lá thư được cho là của một viên quan người Ai Cập, trong đó nói rằng Pharaon (vua Ai Cập) tỏ lòng hiếu khách với các bộ tộc đến từ Ê-đôm. Như thế, rất bình thường khi có những chuyến di dân của các dân du mục sống trong sa mạc tiến về Ai Cập để kiếm đồ ăn thức uống cũng như công việc. Bộ tộc mà sau này mang tên Israel có lẽ cũng không ngoại lệ. Người ta cho rằng Rammes là vị Pharaon vào thời các sắc dân di cư và định cư ở Ai Cập  và vào thời vị Pharaon kế tiếp, Mernephtah, đám dân bị áp bức này rời khỏi Ai Cập, lúc đó vào khoảng năm 1200 BC. Còn việc họ đã ra đi như thế nào thì không ai biết.
Điều đầu tiên chúng ta phải chân nhận là Kinh Thánh không phải là một cuốn sách lịch sử thuần túy, đơn giản là bởi vì, nó không phải do các sử gia nghiên cứu và biên soạn lại những biến cố lịch sử. Cho dù Kinh Thánh (đặc biệt là Cựu Ước) có thuật lại lịch sử đi nữa thì chủ tâm của người viết cũng đã có ý hướng nó sang ý nghĩa thần học rồi. Cho nên, đọc Cựu Ước, chúng ta không nên nghĩ là những gì đã được mô tả là xảy ra răm rắp như vậy, đúng 100%, mà phải hiểu cho được ý nghĩa thâm sâu mà tác giả gửi gắm.
Một cách cụ thể, sẽ là ngớ ngẩn khi chúng ta tưởng tượng là lúc đó, Chúa ngồi trên trời rồi điều khiển rắn rết bò cạp châu chấu ếch nhái đến phá Pharaon. Rồi sau đó, Ngài làm cho lòng Pharaon trở nên cứng cỏi, không chịu tin, để rồi lại tiếp tục biến nước thành máu, rồi sai Thiên Sứ đi giết con đầu lòng của họ. Nếu hiểu như thế thì Thiên Chúa của mình vừa tàn ác, vừa bạo lực mà cũng vừa vô lý nữa.
Người viết lại trình thuật Xuất Hành này không phải là người trực tiếp chứng kiến các việc xảy ra. Họ chỉ nghe được câu chuyện này truyền lại từ bao đời trước, rồi mơ hồ tưởng tượng để viết lại thôi. Lúc này, tác giả có lẽ thuộc về thế hệ sau này, khi dân đã vào đất Canaan, lập nghiệp và sinh sôi nảy nở. Đây là lúc mà người dân bắt đầu nhìn lại chặng đường đã qua, đọc lại nó dưới cái nhìn đức tin. Tâm thức của người Do Thái ngày xưa luôn nghĩ rằng những gì xảy đến thường là do Chúa trực tiếp ra tay. Bạn hãy tưởng tượng nhé! Có một nhà văn, sau khi nghe kể lại câu chuyện ngày xửa ngày xưa này, biết là hồi trước dân Do Thái của mình làm nô lệ ở Ai Cập, bị áp bức, rồi có một nhân vật là Môsê lãnh đạo dân đứng dậy. Từ khi Môsê đi thương thuyết với Pharaon, có rất nhiều sự lạ xảy đến, nào là dịch bệnh, nào là mất mùa, thậm chí là chuyện nhiều trẻ em qua đời. Trước những biến cố ấy, Pharaon đã đồng ý bãi bỏ lệnh bắt người Do Thái làm nô lệ và trả tự do cho tất cả. Ông nhà văn đó ngẫm nghĩ lại những chuyện xảy ra, và tin rằng chắc có lẽ Chúa đã ra dấu chỉ, buộc Pharaon phải dừng lại những hành vi tàn ác của mình và thả hết những người nô lệ Do Thái. Và ông ta đã thêu dệt những tai ương kia thành một câu chuyện hoàn chỉnh, có tình tiết, cốt truyện, rồi gán cho Thiên Chúa là tác giả.
Để dễ hiểu hơn, bạn hãy tưởng tượng mấy trăm năm sau, người ta nghĩ về dịch bệnh Ebola, hay siêu bão ở Philippines, hay động đất ở Haity… Rồi để cho câu chuyện thêm hấp dẫn và hùng hồn, người ta sẽ nghĩ là chính Chúa đã giết chết những con người ấy. Nhưng chúng ta biết là Chúa đâu có hiện ra hay làm phép lạ gì để giết chết họ. Đó chỉ là một chuyện không may xảy đến theo quy luật của tự nhiên thôi. Câu chuyện những tai ương và cái chết của các em nhỏ trong trình thuật Xuất Hành cũng tương tự như vậy.
Vậy thì, khi tường thuật lại những gì đã xảy ra ở Ai Cập lúc đó, tác giả muốn nói ám chỉ điều gì? Chúng tôi xin mạn phép nêu ra một vài ý tưởng thần học mà tác giả nhắm đến.
  • Thiên Chúa là Đấng trung tín. Ngài đã hứa với Apraham là sẽ gìn giữ hậu duệ của ông, thì dù con cái ông có bội ước, Người luôn giữ lời hứa.
  • Thiên Chúa là Đấng quyền năng. Không một thế lực nào có thể chống lại Người. Sự dữ tuy có mạnh, nhưng cũng không bằng Thiên Chúa.
  • Dân Do Thái chính là Dân thuộc về Thiên Chúa, hình ảnh của Giáo Hội ngày nay. Dân Chúa luôn bị bách hại, nhưng nếu biết cậy trông vào Chúa thì Người sẽ cho tai qua nạn khỏi.
  • Pharaô mất đứa con đầu lòng là hình ảnh nói đến việc Thiên Chúa cũng mất đứa con đầu lòng của mình (Đức Giêsu chịu chết trên cây thập giá)
  • Hình ảnh nhà nào có máu chiên bôi trên cửa thì không chết có ý nói rằng người nào/nhà nào được đóng ấn bằng máu của Đức Kitô thì không chết đời đời, nhưng được cứu.
  • Cuộc vượt qua từ kiếp nô lệ thành người tự do tiên báo cuộc vượt qua từ thân phận phải chết thành con cái Thiên Chúa nhờ công nghiệp của Đức Kitô.
…
Như thế, nếu bạn đọc trình thuật sách Xuất Hành với một cái nhìn thần học, bạn sẽ thấy nó rất ý nghĩa và hệt như là cuộc tiên báo cho một biến cố sẽ xảy ra sau này trên đồi Canvê. Bạn sẽ thấy nơi đó là một Thiên Chúa vừa quyền năng (tiên liệu mọi sự), vừa yêu thương (muốn cứu mọi người), chứ không phải chỉ là chuyện nhiều người bị chết năm xưa.
Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Giữ được cả hai (6.7.2019 – Thứ bảy Tuần 13 Thường niên)

Lời Chúa: Mt 9, 14-17
(14) Bấy giờ, các môn đệ ông Gioan tiến lại hỏi Ðức Giêsu rằng: “Tại sao chúng tôi và các người Pharisêu ăn chay, mà môn đệ ông lại không ăn chay?” (15) Ðức Giêsu trả lời: “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc, khi chàng rể còn ở với họ? Nhưng khi tới ngày chàng rể đã bị đem đi, bấy giờ họ mới ăn chay. (16) Chẳng ai lấy vải mới mà vá áo cũ, vì miếng vá mới sẽ co lại, khiến áo rách lại càng rách thêm. (17)Người ta cũng không đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, bầu sẽ bị nứt: rượu chảy ra và bầu cũng hư. Nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới: thế mới giữ được cả hai”.
Suy niệm:
Mỗi năm người Do thái dành một ngày chính thức để cả nước ăn chay.
Đó là ngày lễ Xá tội (Lv 23, 29).
Tuy nhiên cũng có những ngày ăn chay khác có tính tập thể
để kỷ niệm những biến cố đau buồn của dân tộc.
Ngôn sứ Giôen đã mời người ta ăn chay, khóc lóc và than van (Ge 2, 12).
Vào thời Đức Giêsu, các môn đệ của Gioan Tẩy Giả và nhóm Pharisêu
còn ăn chay do lòng đạo đức riêng, có người hai lần một tuần (Lc 18, 12).
Nhìn chung bầu khí ăn chay không phải là bầu khí vui tươi phấn khởi.
Bởi đó có người cố mang bộ mặt rầu rĩ để khoe là mình đang ăn chay.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, 
Đức Giêsu bị các môn đệ của Gioan tra hỏi 
về chuyện tại sao các môn đệ của Ngài lại không ăn chay như họ (c. 14).
Đối với họ ăn chay là một việc đạo đức quan trọng, không thể thiếu
trong đời sống của một nhóm như nhóm các môn đệ Đức Giêsu.
Đức Giêsu đã trả lời họ bằng một câu hỏi khác.
Gián tiếp Ngài nhận mình là chàng rể, các môn đệ là khách dự tiệc cưới.
Chính vì thế chuyện ăn chay than khóc hoàn toàn không hợp chút nào.
Bầu khí vui tươi là nét đặc trưng của thời kỳ Đấng Mêsia đến.
Đúng là cần phải sám hối, vì Nước Trời đã đến rồi (Mt 4, 17), 
nhưng Nước Trời được ví như một tiệc cưới lớn (Mt 22, 1-14; 25, 1-13),
nên phải đón lấy Nước này trong niềm vui của ngày hội.
Chỉ khi nào chàng rể Giêsu bị đem đi trong cuộc Khổ nạn,
khi ấy các môn đệ của Ngài mới ăn chay.
Các Kitô hữu sơ khai vẫn giữ việc ăn chay (Cv 13, 2; 14, 23; 2 Cr 6, 5)
đặc biệt vào những ngày thứ tư và thứ sáu (sách Điđakhê 8, 1),
thay vì thứ hai và thứ năm như người Do thái.
Nhưng họ ăn chay không phải để chờ một Đấng chưa đến,
mà để chuẩn bị lòng mình đón đợi một Đấng sắp lại đến trong vinh quang.
Đức Giêsu đem đến những giáo huấn và tinh thần mới mẻ.
Liệu có thể ghép những cái mới đó vào cái khung của lối sống cũ không?
Bằng hai ví dụ, Ngài cho thấy điều đó khó thực hiện và gây nguy hại.
Miếng vải mới được vá vào chiếc áo cũ, sẽ co lại và làm áo rách thêm.
Rượu mới được đổ vào bầu da cũ, thì bầu sẽ bị nứt mà rượu lại chảy ra.
Đối với Đức Giêsu, muốn giữ được cả bầu lẫn rượu mới, thì cần có bầu mới.
Bầu mới chính là cách sống mới Luật Tôra của Thiên Chúa
như đã được Ngài giải thích lại trong Bài Giảng trên núi.
Kitô hữu được định nghĩa là những người luôn sống trong niềm vui,
bất chấp những bách hại và giá phải trả để làm môn đệ Đức Giêsu.
Chàng rể đã bị đem đi, nhưng Chàng rể vẫn đang ở lại (Mt 28, 20).
Bầu khí của tiệc cưới và rượu mới 
vẫn là bầu khí của mọi cộng đoàn Kitô hữu hôm nay.
Cầu nguyện:
Lạy Chúa,
xin dạy con luôn tươi tắn và dịu dàng
trước mọi biến cố của cuộc sống,
khi con gặp thất vọng, gặp người hờ hững vô tâm,
hay gặp sự bất trung, bất tín
nơi những người con tin tưởng cậy dựa.
Xin giúp con gạt mình sang một bên
để nghĩ đến hạnh phúc người khác,
giấu đi những nỗi phiền muộn của mình
để tránh cho người khác phải đau khổ.
Xin dạy con biết tận dụng đau khổ con gặp trên đời,
để đau khổ làm con thêm mềm mại,
chứ không cứng cỏi hay cay đắng,
làm con nhẫn nại chứ không bực bội,
làm con rộng lòng tha thứ,
chứ không hẹp hòi hay độc đoán, cao kỳ.
Ước gì không ai sút kém đi
vì chịu ảnh hưởng của con,
không ai giảm bớt lòng thanh khiết, chân thật,
lòng cao thượng, tử tế,
chỉ vì đã là bạn đồng hành của con
trong cuộc hành trình về quê hương vĩnh cửu.
Khi con loay hoay với bao nỗi lo âu bối rối,
xin cho con có lúc
thì thầm với Chúa một lời yêu thương.
Ước chi đời con là cuộc đời siêu nhiên,
tràn trề sức mạnh để làm việc thiện,
và kiên quyết nhắm tới lý tưởng nên thánh. 
Amen.
(dịch theo Learning Christ)
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

3 thg 7, 2019

Thấy họ có lòng tin (4.7.2019 – Thứ Năm Tuần 13 Thường niên)

Lời Chúa: Mt 9, 1-8
1 Đức Giê-su xuống thuyền, băng qua hồ, trở về thành của mình.2 Người ta liền khiêng đến cho Người một kẻ bại liệt nằm trên giường. Thấy họ có lòng tin như vậy, Đức Giê-su bảo người bại liệt: “Này con, cứ yên tâm, con đã được tha tội rồi! “3 Có mấy kinh sư nghĩ bụng rằng: “Ông này nói phạm thượng.”4 Nhưng Đức Giê-su biết ý nghĩ của họ, liền nói: “Sao các ông lại nghĩ xấu trong bụng như vậy?5 Trong hai điều: một là bảo: “Con đã được tha tội rồi”, hai là bảo: “Đứng dậy mà đi”, điều nào dễ hơn?6 Vậy, để các ông biết: ở dưới đất này, Con Người có quyền tha tội – bấy giờ Đức Giê-su bảo người bại liệt: “Đứng dậy, vác giường đi về nhà! “7 Người bại liệt đứng dậy, đi về nhà.8 Thấy vậy, dân chúng sợ hãi và tôn vinh Thiên Chúa đã ban cho loài người được quyền năng như thế.
Suy niệm
Khiêng một người bất toại trên một cái giường là điều không dễ.
Chẳng biết có mấy người khiêng và khiêng bao xa ?
Chẳng rõ tương quan giữa họ ra sao, có phải là bạn bè, họ hàng không ?
Có điều chắc là anh bất toại không thể tự mình đến với Thầy Giêsu được.
Chân của anh có vấn đề, và thời ấy không có xe lăn như bây giờ.
Anh cần đến sự giúp đỡ của bạn bè quen biết.
Và đã có những người đáp lại vì tình thương đối với anh chịu tật nguyền.
Rồi đã có một cuộc hẹn, và sau đó cả nhóm lên đường.
Tình bạn làm cho đường đến nhà của Thầy Giêsu ở Caphácnaum gần hơn.
Nhưng vất vả, nhọc nhằn thì vẫn không tránh được.
Đưa người bất toại đến với Thầy Giêsu quả là một kỳ công,
vì trong Tin Mừng theo thánh Máccô, họ đã phải đưa người bệnh xuống
qua một lỗ thủng ở trên mái nhà, bởi lẽ không có đường nào khác ! (Mc 2, 4).
Dù sao Thầy Giêsu cũng đã thấy lòng tin của họ (c. 2).
Lòng tin là cái bên trong, nhưng được lộ ra ngoài.
Cả người bất toại lẫn các người khiêng đều có chung một lòng tin.
Tin rằng đến với Thầy Giêsu là thế nào cũng được khỏi.
Họ nuôi một niềm hy vọng lớn : khi trở về không phải khiêng nhau nữa.
Anh bất toại có thể đi được bằng đôi chân của chính mình,
và đi ngang hàng với những người bạn khác.
Tin, yêu và hy vọng là những tâm tình có trong tim của nhóm bạn này.
Không có những điều đó thì cũng chẳng có phép lạ khỏi bệnh.
Ơn Thiên Chúa vẫn đến với con người ngang qua lòng tốt của con người.
Nhưng lạ thay Thầy Giêsu lại có vẻ không màng đến chuyện chữa bệnh.
Thầy nói với người bất toại: “Các tội của anh được tha thứ” (c. 2).
Ơn đầu tiên người bất toại nhận được là một ơn mà anh không xin,
ơn đó không phải nơi thân xác, nhưng nơi linh hồn.
Hẳn Thầy Giêsu không có ý nói rằng anh bị tật là vì đã phạm tội.
Nhưng Ngài muốn cho thấy uy quyền của lời Ngài nói.
Lời này có thể tha tội và lời này cũng có thể chữa lành.
Nếu các kinh sư nghĩ rằng Ngài đã nói phạm thượng (c. 3),
dám tiếm quyền tha tội dành cho một mình Thiên Chúa,
thì Ngài sẽ chứng tỏ cho họ thấy Ngài có quyền tha tội dưới đất.
Ngài bảo anh bất toại : “Đứng dậy, vác chõng mà đi về nhà” (c. 6).
Ngài đã không chọn điều dễ hơn (c. 5), điều khó kiểm chứng.
Anh bất toại đã đứng dậy và đi về nhà cùng với các bạn của anh.
Anh đã được hơn cả điều anh mong ước, đó là hồn an xác mạnh.
Đức Giêsu có quyền giải phóng ta khỏi bệnh tật và tội lỗi.
Tội lỗi cũng làm ta bất toại, không đến được với Thiên Chúa và tha nhân.
Nhưng Đức Giêsu đã muốn chia sẻ quyền này cho “loài người” (c. 8).
Môn đệ của Ngài vẫn làm thừa tác vụ chữa lành và tha tội cho đến tận thế.

Lời nguyện

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa đã giúp cho bao người què đi được trên đôi chân của mình.
Chúa đã làm cho người bất toại
nằm chờ đợi nhiều năm bên hồ nước
bất ngờ chỗi dậy, vác chõng và bước đi.
Chúa đã làm cho người bất toại
mà bạn bè vất vả đưa xuống từ lỗ hổng của mái nhà,
được khỏi bệnh, lòng bình an vì được tha thứ.
Chúa đã cho kẻ bại tay được đưa tay ra
và tay anh trở lại bình thường.
Bất toại trên thân xác thật là điều đáng sợ.
Nhưng đáng sợ hơn là thứ bất toại của tâm hồn.
Có thứ bất toại làm chúng con không đến được với người khác,
dù nhà họ ở kế bên nhà chúng con,
không đến được với Chúa, dù Chúa vẫn luôn chờ đợi.
Có thứ bất toại làm chúng con không thể đưa tay ra
để bắt tay người đối diện hay để chia sẻ một món quà.
Có thứ bất toại làm trái tim chúng con khô cứng,
hững hờ trước nỗi đau của người anh em.
Xin giúp chúng con ra khỏi
những thành kiến và mặc cảm, thù oán và ghen tương,
để chuyển động mềm mại hơn dưới sự tác động của Chúa.
Xin cũng giúp chúng con biết khiêm tốn
nhìn nhận sự bại liệt của mình,
và chấp nhận để người khác đưa mình đến gặp Chúa.

Lm . Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

2 thg 7, 2019

Đừng cứng lòng nữa (3.7.2019 – Lễ thánh Tôma, tông đồ)

Lời Chúa: Ga 20, 24-29
Khi ấy, một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tôma, cũng gọi là Ðiđymô, không ở với các ông khi Ðức Giêsu đến. Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa!” Ông Tôma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.” Tám ngày sau, các môn đệ Ðức Giêsu lại có mặt trong nhà, có cả ông Tôma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Ðức Giêsu đến, đứng giữa các ông và nói: “Chúc anh em được bình an.” Rồi Người bảo Tôma: “Ðặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Ðưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Ðừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin.” Ông Tôma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!” Ðức Giêsu bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!”
Suy niệm:
Chẳng rõ vì lý do gì mà ông Tôma đã không ở với nhóm môn đệ
khi Đức Giêsu phục sinh hiện ra gặp các ông.
Có vẻ có một sự xa cách nào đó giữa Tôma và mười ông kia.
Chuyện này trở nên rõ hơn khi ông Tôma từ chối tin vào lời của họ:
“Chúng tôi đã thấy Chúa!” (c. 25).
Ông đòi tự mình kiểm chứng, thấy tận mắt, sờ tận tay.
Thấy dấu đinh nơi bàn tay Thầy, xỏ ngón tay mình vào lỗ đinh,
thọc bàn tay vào cạnh sườn Thầy: đó là những điều kiện ông đòi để tin.
Tôma không đứng dưới chân thập giá như người môn đệ Chúa yêu,
nhưng ông đã được nghe chuyện Thầy bị đóng đinh, bị đâm nơi cạnh sườn.
Đối với ông, nếu Thầy thực sự phục sinh,
thì thân xác Thầy vẫn còn phải mang những vết thương đó.
Phục sinh không làm mất đi những vết sẹo của tình yêu cứu độ.
Đấng phục sinh lại có ý chiều ông, đó mới là chuyện lạ.
Ngài biết óc thực tiễn của ông, và Ngài không muốn mất ông (Ga 17, 12).
Ngài dám thỏa mãn những đòi hỏi táo bạo và cụ thể của ông,
để đưa ông về với đức tin, về với cộng đoàn.
Một tuần sau, cũng vào ngày thứ nhất trong tuần,
Đức Giêsu phục sinh đến như thể cho một mình ông thôi,
và mời ông làm những điều ông đòi hỏi.
Chẳng rõ Tôma có dám thực hiện hay không,
nhưng chính thái độ bao dung và yêu thương của Thầy đã chinh phục ông.
Môi ông bật lên lời tuyên xưng đức tin cao nhất trong Tân Ước:
“Lạy Chúa của tôi; lạy Thiên Chúa của tôi” (c.28).
Lời tuyên xưng này vượt quá những gì giác quan ông có thể cảm nhận.
“Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những ai không thấy mà tin!”Chúng ta ngày nay tuy không được hưởng kinh nghiệm như thánh Tôma,
nhưng chúng ta lại được hưởng một mối phúc mà ngài không có được.
Đó là mối phúc của người tin, không phải nhờ thấy tận mắt,
mà nhờ nghe lời chứng của các môn đệ (Ga 17, 20), trong đó có Tôma.
Xin cám ơn sự cứng lòng của thánh Tôma, cám ơn lời chứng của ngài.
Chính sự cứng cỏi của ngài làm chúng ta mềm mại hơn để tin,
vì chúng ta biết chuyện Chúa phục sinh không do một ảo giác tập thể.
Tôma là một người hoàn toàn tỉnh táo.
Trong tập thể chúng ta đang sống, vẫn có những Tôma:
hoài nghi, bướng bỉnh, đòi hỏi, xa cách với cộng đoàn…
Thầy Giêsu dạy chúng ta bao dung và nhẫn nại, chứ không kết án.
Quanh chúng ta vẫn có nhiều người chưa biết Chúa,
họ cũng đòi thấy và đụng chạm đến Thiên Chúa. 
Kitô hữu chúng ta phải có kinh nghiệm sâu xa như các tông đồ xưa,
để làm chứng được rằng: “Chúng tôi đã thấy Chúa” (c. 25).
Cầu nguyện:
Lạy Chúa Giêsu phục sinh
lúc chúng con tìm kiếm Ngài trong nước mắt,
xin hãy gọi tên chúng con
như Chúa đã gọi tên
chị Maria đứng khóc lóc bên mộ.
Lúc chúng con chán nản và bỏ cuộc,
xin hãy đi với chúng con trên dặm đường dài
như Chúa đã đi với hai môn đệ Emmau.
Lúc chúng con đóng cửa vì sợ hãi,
xin hãy đến và đứng giữa chúng con
như Chúa đã đến đem bình an cho các môn đệ.
Lúc chúng con cố chấp và xa cách anh em,
xin hãy kiên nhẫn và khoan dung với chúng con
như Chúa đã không bỏ rơi ông Tôma cứng cỏi.
Lúc chúng con vất vả suốt đêm
mà không được gì,
xin hãy dọn bữa sáng cho chúng con ăn,
như Chúa đã nướng bánh và cá cho bảy môn đệ.
Lạy Chúa Giêsu phục sinh,
xin tỏ mình ra
cho chúng con thấy Ngài mỗi ngày,
để chúng con tin là Ngài đang sống, đang đến,
và đang ở thật gần bên chúng con. Amen.
 Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.