19 thg 4, 2015

CAFE THÊM MUỐI




“Hãy tha thứ cho anh vì đã luôn dối em.Còn nhớ lần đầu tiên anh mời em uống cà phê không ? Không khí lại tệ quá, lúc đó anh rất buồn và cũng rất run, không biết nghĩ như thế nào, lại đi nói với cô phục vụ mang muối ra, thực sự là anh chưa từng thêm muối, lúc đó lỡ nói ra, nên phóng lao theo lao.”
______________

Anh và cố ấy quen nhau tại một buổi tiệc,lúc đó cô là một cô gái đẹp, bên cạnh cô có rất nhiều người theo đuổi, nhưng anh lại là một người rất bình thường.Buổi tiệc kết thúc, khi anh mời cô nàng đi uống cà phê, cô rất ngạc nhiên, vì lịch sự nên cô nhận lời.

Ngồi quán cà phê, không khí giữa hai người không được tự nhiên, không có gì nói, cô chỉ muốn nhanh chóng kết thúc để về nhà.Nhưng khi cô phục vụ mang cà phê ra, anh bất chợt nói : “Phiền cô mang ít muối đến, tôi có thói quen uống cà phê bỏ tí muối vào.”Lúc đó, cố ấy ngẩn người, cô phục vụ cũng vậy, ánh mắt của mọi người đều tập trung vào anh ấy, khiến anh đỏ mặt.

Cô phục vụ mang muối ra,anh ta bỏ chút vào, rồi từ từ uống.Cô ta là một cô gái hiếu kì, thấy lạ liền hỏi : “Anh tại sao phải cho muối vào ?” Anh ta im lặng một hồi, chậm rãi nói : “Lúc nhỏ, gia đình tôi ở ven biển, tôi lúc nào cũng ngâm mình dưới biển, khi sóng đến, nước biển tạt vào môi, vừa chát vừa mạnh. Bây giờ, đã lâu không về nhà, bỏ muối vào cà phê, cứ cho là biểu hiện của sự nhớ nhà, có thể kéo gần khoảng cách.

Cô đã bị làm cảm động, bởi vì, đây là lần đầu tiên cô nghe một người đàn ông nói nhớ nhà.Cô cho rằng, người đàn ông nhớ nhà nhất định là một người đàn ông biết lo cho gia đình và người đàn ông biết lo cho gia đình thì hiển nhiên sẽ yêu gia đình.Cô chợt có cảm giác muốn thổ lộ, kể với anh rằng quê nhà của cô xa xôi ngàn dặm, không khí lạnh lẽo lúc này dần dần trở nên ấm áp.Hai người trò chuyện rất lâu, hơn nữa cô không từ chối anh ấy đưa cô về.

Sau đó nữa, hai người hẹn nhau thường xuyên hơn, cô phát hiện trên thực tế anh ấy là một người đàn ông tốt, độ lượng, quan tâm, lịch thiệp, hội tụ đầy đủ những tính cách của những người đàn ông ưu tú mà cô ngưỡng mộ.Cô mừng thầm, cũng may vì lúc đó lịch sự, nên chưa bao giờ cùng anh ấy kề vai nhau.

Cô cùng anh ấy đi hết tất cả những quán cà phê trong thành phố, mỗi lần cô ấy đều nói : “ Vui lòng mang chút muối ? Bạn trai tôi thích uống cà phê bỏ thêm muối”. Rồi về sau, giống như truyện cổ tích trong sách, “hoàng tử và công chúa kết hôn, từ đó trở về sống một cuộc sống hạnh phúc.”

Họ đích thực sống với nhau rất hạnh phúc,sống với nhau hơn 40 năm,cho đến khi anh bệnh nặng sắp chết.Trước phút lâm chung, anh viết một là thư, lá thư viết cho cô ấy.

“Hãy tha thứ cho anh vì đã luôn dối em.Còn nhớ lần đầu tiên anh mời em uống cà phê không ?Không khí lại tệ quá, lúc đó anh rất buồn và cũng rất run, không biết nghĩ như thế nào, lại đi nói với cô phục vụ mang muối ra, thực sự là anh chưa từng thêm muối, lúc đó lỡ nói ra, nên phóng lao theo lao.Không ngờ đã làm cho em hiếu kì, từ lúc đó, anh phải cả đời uống cà phê thêm muối.Rất nhiều lần,anh muốn nói với em, nhưng lại sợ em giận, càng sợ vì vậy mà em rời khỏi anh.Bây giờ anh không còn lo nữa, người chết sẽ dễ dàng được tha thứ đúng không ?Kiếp này hạnh phúc lớn nhất là có em, nếu như kiếp sau, anh cũng sẽ mong muốn được cưới em, chỉ là anh không còn muốn uống cà phê thêm muối nữa.Cà phê mà thêm muối, lúc đó sao anh lại nghĩ ra nó nhỉ !”

Nội dung lá thư khiến cô bất ngờ, đồng thời có cảm giác bị gạt. Nhưng, anh ấy không biết rằng, cô rất muốn nói với anh rằng, cô vui mừng biết bao, có người vì cô mà gạt cả đời như vậy.

(Nguồn Internet)

KHOAN DUNG


Trong thiền viện của thiền sư Tiên Nhai, có một vị học tăng rất ham chơi, vị này không chịu nổi cái cảnh vắng lặng yên bình của chốn thiền môn. Vào những buổi tối vị tăng sinh này thường ra vách tường sau chùa, đặt một cái ghế để leo qua tường ra bên ngoài chơi.
Sau khi thiền sư biết được, ngài không nói với ai. Một lần, vị tăng sinh này trèo tường trốn đi chơi, ngài đi theo phía sau và đem chiếc ghế để qua một bên rồi ngồi vào chỗ đó đợi vị học tăng trở về. Đêm khuya vắng vẻ, vị học tăng trở về, không biết chiếc ghế đã bị di chuyển nên vẫn leo qua vách tường và thò chân xuống ghế như mọi khi để vào chùa, nhưng khi vừa đặt chân xuống thì cảm thấy chiếc ghế dưới chân mình sao mềm mại là lạ, cúi xuống nhìn thì hoá ra mình đang đứng trên vai vị thiền sư thầy mình. Lập tức vị học tăng hồn bay phách tán quỳ xuống nói không ra lời. Thiền sư liền đỡ vị học tăng đứng lên và nhẹ nhàng nói : “Đêm khuya sương nhiều, cẩn thận chứ ướt lạnh hãy nhanh vào phòng nghỉ ngơi."

Sau khi về phòng vị tăng sinh cứ phập phồng lo sợ không yên, trắng đêm không ngủ, lo sợ thiền sư sẽ trách phạt mình trước mặt đại chúng. Nhưng sự việc thì ngược lại, cứ ngày ngày trôi qua, thiền sư không nhắc đến chuyện, cũng không nói cho ai biết. Vị tăng trẻ tự trong lòng cảm thấy rất hổ thẹn vô cùng, từ đó về sau không dám trốn ra ngoài chơi mà quyết chí tu học, cuối cùng trở thành một vị tăng nổi tiếng đương thời.

Nếu bạn là thiền sư bạn sẽ xử lý thế nào với hai sự việc như thế? vị thiền sư trong câu chuyện trên đã xử sự không giống những người bình thường chúng ta, mà lấy sự khoan dung đại trí, đại bi để thay đổi một tên lãng tử thành vị danh tăng.

Con người không phải là thánh nhân nên tất nhiên có những sai trái, đối với những người phạm lỗi chúng ta nên có thái độ rộng lượng khoan dung. Im lặng mà hơn cả to tiếng trách móc đây là phương pháp giáo dục tốt nhất.

Khoan dung là một phẩm chất đạo đức tốt, khoan hồng tha thứ lỗi cho người giống như ngọn gió mùa xuân mang mưa xuân đến thấm nhuần cây cỏ làm vạn vật thêm xanh tươi. Khoan dung còn hơn cả vàng, khoan dung là một phẩm chất không thể thiếu trong mỗi con người chúng ta.

(Sưu tầm)

18 thg 4, 2015

CHÚA NHẬT III PHỤC SINH - B



Tin Mừng   Lc 24,35-48

Bấy giờ, hai môn đệ từ Em-mau trở về, thuật lại những gì đã xảy ra dọc đường, và việc mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh. Các ông còn đang nói, thì chính Đức Giê-su đứng giữa các ông và bảo: "Bình an cho anh em!" Các ông kinh hồn bạt vía, tưởng là thấy ma. Nhưng Người nói: "Sao anh em lại hoảng hốt? Sao còn ngờ vực trong lòng? Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà! Cứ rờ xem, ma đâu có xương có thịt như anh em thấy Thầy có đây?" Nói xong, Người đưa tay chân ra cho các ông xem. Vì mừng quá, các ông vẫn chưa tin và còn đang ngỡ ngàng, thì Người hỏi: "Ở đây anh em có gì ăn không?" Các ông đưa cho Người một khúc cá nướng. Người cầm lấy và ăn trước mặt các ông. Rồi Người bảo: "Khi còn ở với anh em, Thầy đã từng nói với anh em rằng tất cả những gì sách Luật Mô-sê, các Sách Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm". Bấy giờ Người mở trí cho các ông hiểu Kinh Thánh và bảo: "Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Ki-tô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại, và phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. Chính anh em là chứng nhân của những điều này.



Sunday III of Easter

Gospel 

Lk 24:35-48

The two disciples recounted what had taken place on the way,
and how Jesus was made known to them
in the breaking of bread.

While they were still speaking about this,
he stood in their midst and said to them,
"Peace be with you."
But they were startled and terrified
and thought that they were seeing a ghost.
Then he said to them, "Why are you troubled?
And why do questions arise in your hearts?
Look at my hands and my feet, that it is I myself.
Touch me and see, because a ghost does not have flesh and bones
as you can see I have."
And as he said this,
he showed them his hands and his feet.
While they were still incredulous for joy and were amazed,
he asked them, "Have you anything here to eat?"
They gave him a piece of baked fish;
he took it and ate it in front of them.

He said to them,
"These are my words that I spoke to you while I was still with you,
that everything written about me in the law of Moses
and in the prophets and psalms must be fulfilled."
Then he opened their minds to understand the Scriptures.
And he said to them,
"Thus it is written that the Christ would suffer
and rise from the dead on the third day
and that repentance, for the forgiveness of sins,
would be preached in his name
to all the nations, beginning from Jerusalem.
You are witnesses of these things."
and that through this belief you may have life in his name.

17 thg 4, 2015

Chính Thầy đây (18.4.2015 – Thứ bảy Tuần 2 Mùa Phục sinh)



Lời Chúa: Ga 6, 16-21

Chiều đến, các môn đệ xuống bờ Biển Hồ, rồi xuống thuyền đi về phía Caphácnaum bên kia Biển Hồ. Trời đã tối mà Ðức Giêsu chưa đến với các ông. Biển động, vì gió thổi mạnh. Khi đã chèo được chừng hai mươi lăm hoặc ba mươi chặng đường, các ông thấy Ðức Giêsu đi trên mặt Biển Hồ và đang tới gần thuyền. Các ông hoảng sợ. Nhưng Người bảo các ông: “Chính Thầy đây, đừng sợ!” Các ông muốn rước Người lên thuyền, nhưng ngay lúc đó thuyền đã tới bờ, nơi các ông định đến.

Suy niệm:

Vào thời Đức Giêsu, người ta chờ Thiên Chúa sai đến một vị vua.
Vị Vua này chính là một Đấng Mêsia hùng mạnh, toàn thắng,
Đấng sẽ giải phóng dân khỏi ách nô lệ của người Rôma.
Sau khi Đức Giêsu cho dân chúng được ăn no nê một cách kỳ diệu,
họ nghĩ ngay Ngài chính là người họ mong đợi từ lâu.
Họ toan bắt Ngài để tôn làm vua,
làm người đứng lên lãnh đạo phong trào cách mạng (Ga 6, 15).
Nhưng Đức Giêsu đã chối từ sự mong mỏi của dân chúng.
Ngài trốn lên núi một mình.


Đức Giêsu biết mình không phải là một Mêsia đầy quyền lực,
để giải phóng dân Israel khỏi ách của người Rôma.
Nhưng Ngài sẽ là một Mêsia như người Tôi Trung đau khổ,
chịu chết ô nhục và sống lại để giải phóng nhân loại khỏi ách tội lỗi.

 Dân chúng hẳn đã bị hụt hẫng khi thấy Đức Giêsu trốn đi.
Các môn đệ chắc đã tiếc ngẩn tiếc ngơ,
vì Thầy bỏ qua cơ hội ngàn năm một thuở để tỏ mình cho dân Israel,
và chính họ cũng mất đi một cơ hội để tiến thân.


Tin Mừng của thánh Gioan không nói cho ta biết tại sao sau đó
các môn đệ lại chèo thuyền qua Caphácnaum, ở bờ bên kia (c. 16).
Nhưng theo Tin Mừng Marcô, Đức Giêsu đã bắt buộc họ (Mc 6, 45).
Ngài rõ ràng không muốn họ dính dáng vào chuyện chính trị này.

 Bị Thầy bắt qua lại bờ bên kia khi chiều đã sụp tối,
trong khi dân chúng và Thầy còn ở bờ bên này,
điều ấy chẳng dễ chịu chút nào cho các môn đệ.
Họ muốn ở lại hưởng chút dư vị của thành công vang dội vừa rồi.


Dù sao các môn đệ đã biết vâng phục.
Chuyến đi qua biển hồ cũng không suôn sẻ gì.
Họ phải chiến đấu với trận cuồng phong bất ngờ gây biển động.
Con thuyền bé nhỏ lênh đênh giữa sóng gió gào thét.
Cả nhóm gặp nguy hiểm mà không có Thầy trong thuyền.
Họ đã cố chèo được chừng năm, sáu cây số.
Có thể họ tự hỏi: tại sao Thầy lại vội sai mình ra khơi giữa đêm đen?

 Cuối cùng Thầy Giêsu cũng đến với họ như họ mong ước.
Nhưng Thầy không đến trên một chiếc thuyền như họ nghĩ.
Thầy đi trên mặt biển mà đến gần thuyền các ông (c. 19).
Cách đến của Thầy thật khác thường khiến họ hoảng sợ.
Có thể họ chưa nhận ra khuôn mặt của Thầy vì trời tối.
“Thầy đây mà, đừng sợ!”, Đức Giêsu vội vã trấn an.


 Giáo Hội hôm nay cũng có kinh nghiệm như nhóm môn đệ ngày xưa,
vất vả một mình chống chọi với sóng gió, khi không có Thầy ở bên.
Nhưng khi Chúa đến, chúng ta lại hoảng sợ, không nhận ra Ngài.
Thật ra Chúa chẳng bỏ chúng ta, dù có lúc Ngài để chúng ta một mình.
Phải tập quen dần với những cách xuất hiện mới mẻ của Chúa
để nhận ra Ngài vẫn có mặt trong thế giới hôm nay.


 Cầu nguyện:

 Lạy Chúa,
xin ban cho chúng con ánh sáng đức tin
để nhận ra Chúa hôm nay và hằng ngày,
nơi khuôn mặt khốn khổ
của tất cả những người bị thử thách:


những kẻ đói, không chỉ vì thiếu của ăn,
nhưng vì thiếu Lời Chúa;
những kẻ khát, không chỉ vì thiếu nước,
nhưng còn vì thiếu bình an, sự thật, công bằng và tình thương;


những kẻ vô gia cư,
không chỉ tìm kiếm một mái nhà,
nhưng còn tìm một con tim hiểu biết, yêu thương;


những kẻ bệnh hoạn và hấp hối,
không chỉ trong thân xác,
nhưng còn trong tinh thần nữa,
bằng cách thực thi lời hy vọng này:


“Điều mà ngươi làm
cho người bé mọn nhất trong anh em
là làm cho chính Ta”


 (Chân phước Têrêxa Calcutta)
Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

16 thg 4, 2015

Ăn bao nhiêu tùy ý (17.4.2015 – Thứ sáu Tuần 2 Mùa Phục sinh)


LỜI CHÚA:  Ga 6, 1-15
1 Sau đó, Đức Giê-su sang bên kia Biển Hồ Ga-li-lê, cũng gọi là Biển Hồ Ti-bê-ri-a.2 Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm.3Đức Giê-su lên núi và ngồi đó với các môn đệ.4 Lúc ấy, sắp đến lễ Vượt Qua là đại lễ của người Do-thái.
5 Ngước mắt lên, Đức Giê-su nhìn thấy đông đảo dân chúng đến với mình. Người hỏi ông Phi-líp-phê: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây? “6 Người nói thế là để thử ông, chứ Người đã biết mình sắp làm gì rồi.7 Ông Phi-líp-phê đáp: “Thưa, có mua đến hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ cho mỗi người một chút.”8 Một trong các môn đệ, là ông An-rê, anh ông Si-môn Phê-rô, thưa với Người:9 “Ở đây có một em bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá, nhưng với ngần ấy người thì thấm vào đâu! “10 Đức Giê-su nói: “Anh em cứ bảo người ta ngồi xuống đi.” Chỗ ấy có nhiều cỏ. Người ta ngồi xuống, nguyên số đàn ông đã tới khoảng năm ngàn.11 Vậy, Đức Giê-su cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, rồi phân phát cho những người ngồi đó. Cá nhỏ, Người cũng phân phát như vậy, ai muốn ăn bao nhiêu tuỳ ý.12 Khi họ đã no nê rồi, Người bảo các môn đệ: “Anh em thu lại những miếng thừa kẻo phí đi.”13 Họ liền đi thu những miếng thừa của năm chiếc bánh lúa mạch người ta ăn còn lại, và chất đầy được mười hai thúng.14 Dân chúng thấy dấu lạ Đức Giê-su làm thì nói: “Hẳn ông này là vị ngôn sứ, Đấng phải đến thế gian! “15 Nhưng Đức Giê-su biết họ sắp đến bắt mình đem đi mà tôn làm vua, nên Người lại lánh mặt, đi lên núi một mình.
SUY NIỆM
Có người coi tôn giáo như một thứ duy tâm, duy linh,
chỉ để ý đến chuyện linh hồn, chuyện đời  sau,
mà hững hờ với cái đói cái no của thân xác, với chuyện áo cơm thường nhật.
Kitô giáo hẳn không phải là thế.
Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã khai mở Nước Thiên Chúa trên trần gian
không phải chỉ bằng việc rao giảng như một thầy dạy,
mà còn bằng việc chữa bệnh thân xác như một thầy thuốc.
Ơn cứu độ do Ngài mang lại có tính toàn diện, cả xác lẫn hồn, 
và ơn cứu độ ấy đã bắt đầu ngay từ đời này rồi.
Trong Mùa Phục sinh, Giáo hội cho ta nghe đọc chương 6 của Tin Mừng Gioan,
bởi lẽ chương này nói về Đức Giêsu là Bánh hằng sống, Bánh ban sự sống.
Chương này khởi đầu bằng phép lạ hóa bánh ra nhiều.
Phép lạ diễn ra ở bên kia hồ Galilê, vào mùa xuân, cỏ mọc xanh mướt. 
Đám đông đến với Đức Giêsu đang ở trên núi với các môn đệ.
Tất cả bắt đầu bằng câu hỏi bất ngờ của Thầy Giêsu :
“Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây ?”
Các câu trả lời của hai ông Philípphê và Anrê thật đáng thất vọng.
Hai trăm quan tiền bánh cũng chẳng đủ mỗi người một chút (c. 7).
Năm cái bánh lúa mạch và hai con cá khô thì thấm vào đâu (c. 9).
Nhưng Đức Giêsu lại cần năm cái bánh và hai con cá đó.
Ngài đón nhận sự đóng góp của con người, dù là rất nhỏ mọn.
Nhỏ mọn nhưng là tất cả những gì tìm được ở chốn hoang vu này.
Không có sự đóng góp của một em bé, không chắc phép lạ đã xảy ra.
Khi mọi người đã ngồi xuống trên cỏ theo lệnh các tông đồ,
Đức Giêsu cầm lấy bánh, tạ ơn và phân phát cho họ.
Chắc các tông đồ đã giúp Ngài phân phát đến tay dân.
Chính khi bẻ ra để phân phát thì bánh và cá hóa nhiều.
Chúng ta không hiểu được điều gì đang diễn ra.
Mầu nhiệm chia sẻ vẫn làm chúng ta ngỡ ngàng, sửng sốt.
Chia sẻ là biến điều ít ỏi ta đang có trở thành kho báu vô tận cho mọi người.
Chia sẻ làm chúng ta chẳng vơi đi, nhưng còn mãi.
Hơn năm ngàn con người đã được ăn tùy ý, được no nê, được dư thừa.
Gần một tỷ con người sống trên trái đất hôm nay cũng mong được như vậy.
Đức Thánh Cha coi việc liên đới chia sẻ 
như một cách thức để thoát ra khỏi nạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu.
Ước gì việc chúng ta chia sẻ Tấm Bánh thánh trong nhà thờ
giúp chúng ta tiếp tục chia sẻ những tấm bánh vật chất ngoài cuộc sống.
LỜI NGUYỆN
Lạy Chúa, đây là ước mơ của con về thế giới :
Con mơ ước tài nguyên của cả trái đất này
là thuộc về mọi người, mọi dân tộc.
Con mơ ước
không còn những La-da-rô đói ngồi ngoài cổng,
bên trong là người giàu yến tiệc linh đình.
Con mơ ước mọi người đều có việc làm tốt đẹp,
không còn những cô gái đứng đường
hay những người ăn xin.
Con mơ ước
những ngưòi thợ được hưởng lương xứng đáng,
các ông chủ coi công nhân như anh em.
Con mơ ước
tiếng cười trẻ thơ đầy ắp các gia đình,
các công viên và bãi biển đầy người đi nghỉ.
Lạy Chúa của con,
con ước mơ một thế giới đầy màu xanh,
xanh của rừng, xanh của trời, xanh của biển,
và xanh của bao niềm hy vọng
nơi lòng những ai ham sống và ham dựng xây.
Nếu Chúa đã gieo vào lòng con những ước mơ,
thì xin giúp con thực hiện những ước mơ đó.
Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu, S.J.

BIẾT ĐIỂM DỪNG


Tuổi trẻ là khoảng thời gian mà người ta cảm thấy có nhiều năng lượng nhất. Ở lứa tuổi này, ta có cảm tưởng như mình có thể làm được mọi chuyện, có thể vượt qua được tất cả mọi chông gai thử thách. Với nguồn năng lượng dồi dào ấy, người trẻ chẳng quản ngại điều gì, chẳng lo sợ điều chi, vì chẳng bao giờ họ thấy mình kiệt sức. Họ muốn chinh phục những đỉnh cao, muốn đối đầu với mọi thử thách, muốn lao mình vào những chỗ cam go. Đây cũng là lứa tuổi mà ta chẳng sợ gì cả. Không sợ trời, không sợ đất, ta tự thấy mình làm chủ chính mình chứ chẳng cần ai sửa dạy hay chỉ bảo. Ta tự cho mình có tự do vô hạn nên muốn làm gì thì làm, mà chẳng cần kiêng nể ai, chẳng cần nghĩ đến tương lai, không lo bận tâm đến hậu quả, vì ta nghĩ là mình có đủ khả năng để giải quyết tất cả.
Có được một nguồn năng lượng dồi dào như vậy là một điều rất tốt nhưng cũng có thể là một điều xấu. Nó sẽ trở thành tốt khi ta biết sử dụng nó vào những mục đích sinh lợi nhằm tạo lập nền tảng vững chắc cho tương lai của mình. Nó sẽ trở nên xấu khi ta phóng đại nó lên, ảo tưởng về mình và đặt nó vào những hành vi tai hại. Đặc biệt, khi đang hứng thú chuyện gì đó, khi đang bị cảm xúc đưa dẫn, ta thường khó làm chủ mình, nhưng cứ để chúng kéo mình đi quá đà đến mất kiểm soát. Để rồi, khi nhìn lại, ta thấy mình đã lạc đường, mất hướng, thậm chí còn đánh mất những điều quý giá mà ta từng sở hữu trước đây. Cuộc sống là một cuộc hành trình tiến về phía trước. Nhưng ta không bước đi với một đôi mắt mù lòa hay bị đưa đẩy một cách vô thức. Phải có những lúc ta biết đâu là điểm dừng của mình. Biết điểm dừng không phải là hèn nhát nhưng là biểu hiện của sự khôn ngoan.
Vui chơi với bạn bè là điều tốt. Để cuộc vui được trọn vẹn, ta phải chơi hết mình. Nhưng hết mình không phải là đánh mất chính mình. Cứ mỗi khi hứng chí, hay khi có men say thấm vào người, ta thường không kiểm soát được những gì mình nói, những gì mình làm. Những hành vi của ta khi ấy dường như không nằm dưới sự kiểm soát của ta nữa, nên rất nhiều khi gây ra những điều nguy hại. Có óc hài hước và biết nói đùa là điều tốt. Nhưng có khi những lời nói đùa của ta không mang đến tiếng cười, mà vô tình làm tổn thương người ta. Có một tương quan là tốt, vì tương quan giúp ta thăng tiến chính mình và làm cho cuộc sống của mình thêm triển nở. Nhưng không phải tương quan nào cũng như tương quan nào. Mỗi tương quan đòi hỏi nơi ta một ý thức và một trách nhiệm riêng. Có những tương quan ta phải dấn thân trọn vẹn để vun đắp; nhưng cũng có những tương quan mà ta không được phép vượt qua ranh giới ngăn cản… Và còn có rất nhiều ví dụ tương tự như thế!
Sở dĩ ta phải biết điểm dừng là vì ta không phải là người toàn năng, ta không thể làm được mọi thứ và không thể đảo ngược thời gian để thay đổi những gì ta đã gây ra. Tạo Hóa đã ban cho con người chúng ta có tự do để làm gì mình muốn, nhưng Ngài cũng ban cho chúng ta có lý trí nhận định và cân nhắc để không sử dụng tự do của mình đi quá giới hạn. Ta thường dễ để mình hùa theo những thúc đẩy, hơn là mạnh dạn dừng lại trước khi đi quá xa. Người biết điểm dừng là người làm chủ được chính mình, người đó có ý thức cao về mình, có lập trường vững chắc và không bị những trào lưu hay cảm xúc dẫn dắt. Họ biết giới hạn của mình và họ không làm gì để vượt qua giới hạn đó. Họ biết dừng vì họ ý thức về sự hữu hạn của mình. Họ không ảo tưởng, không hống hách, không ngang tàng, không bướng bỉnh, không cố chứng tỏ bản thân, không cần những danh dự hão, không bị những thách thức và khiêu khích của người khác khuấy động tâm can. Vậy nên, để có thể dừng lại, người ta phải có một sức mạnh rất lớn trong mình.
Biết điểm dừng và dừng lại khi cần thiết không phải là thất bại, không là nhút nhát, nhưng là khiêm nhường, khôn ngoan và ý thức về giới hạn của mình. Ngược lại, những ai bất chấp và điên cuồng, không biết dừng lại chính là những người ảo tưởng, kiêu ngạo và ngu dốt. Dừng lại cũng không có nghĩa là ta không có quyền làm điều gì đó, nhưng là ta biết rằng mình không nên làm. Quả vậy, người nào biết dừng lại kịp thời là người còn làm chủ mình, còn sống dựa vào lý trí của mình, chứ không “mất tay lái” và bị những xúi dục thúc đẩy lôi kéo.
Rất nhiều khi, ta bị rơi vào cạm bẫy bởi những khiêu khích của người khác. Những khiêu khích ấy đụng chạm đến lòng tự ái của ta. Ta không muốn thua ai, ta không muốn bị ai coi thường. Cái tôi muốn chứng tỏ trong ta bừng dậy, thúc đẩy ta cứ thế mà “chơi tới bến”, chẳng ngán chẳng sợ gì, bất chấp cả hậu quả. Cũng có khi ta bị những thúc đẩy của đam mê và cảm xúc lôi kéo. Yêu người này, thích người nọ, muốn làm điều kia… dù biết rõ là sai, là không được phép, là đi ngược lại với chân lý, là không có tương lai ta vẫn cứ nhắm mắt đưa chân vào. Bỏ ngoài tai những luân thường đạo lý, những lời khuyên hữu ích, ta cứ vô tư “vượt rào” để chiều theo những cảm xúc ấy. Càng đi vào sâu, ta càng cảm thấy mình không thể bứt ra được, và cứ thế, ta trở nên nô lệ cho chúng, ta đánh mất chính mình, đánh mất tương lai của mình, đánh mất cả những gì tốt đẹp mà ta đang thụ hưởng.
Cái ngông nghênh của tuổi trẻ còn nằm ở tính kiêu ngạo và ảo tưởng nữa. Vừa mới vào đời, kinh nghiệm còn non nớt, kiến thức chưa tới đâu, nhưng lúc nào ta cũng cho là mình đã trải qua phong sương, đã biết hết tất cả. Chính từ thái độ tự phụ ấy, ta chẳng coi ai ra gì, chẳng thèm nghe theo lời khuyên bảo của người khác. Có đôi khi ta còn muốn chứng tỏ bản lĩnh của mình, muốn cho người khác thấy ta tài hoa ra sao, để người khác phải thần phục và khen mình bằng những lời tán thưởng. Bởi thế, ta không thể chấp nhận được thì có ai đó chê ta, không coi ta ra gì. Cái thói chứng tỏ mình nhiều khi làm cho ta trở nên điên cuồng và bất chấp tất cả, chẳng biết đâu là điểm dừng để ngừng lại và trau dồi bản thân hơn.
Các bạn trẻ thân mến, hãy dừng đúng lúc đúng nơi. Điều đó chẳng gây thiệt hại gì cho các bạn cả. Nhưng nó sẽ nói cho người khác biết, bạn đích thực là một con người vững mạnh vô cùng. Có một định nghĩa cho rằng người trưởng thành là người biết nói “không” khi cần thiết.
Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Đấng từ trên cao mà đến (16.4.2015 – Thứ năm Tuần 2 Phục sinh)


Lời Chúa: Ga 3, 31-36
Khi ấy, ông Gioan nói để làm chứng về Chúa Giêsu rằng: “Đấng từ trên cao mà đến thì ở trên mọi người; kẻ từ đất mà ra thì thuộc về đất và nói những chuyện dưới đất. Đấng từ trời mà đến thì ở trên mọi người; Người làm chứng về những gì Người đã thấy đã nghe, nhưng chẳng ai nhận lời chứng của Người. Ai nhận lời chứng của Người, thì xác nhận Thiên Chúa là Đấng chân thật. Quả vậy, Đấng được Thiên Chúa sai đi, thì nói những lời của Thiên Chúa, vì Thiên Chúa ban Thần Khí cho Người vô ngần vô hạn. Chúa Cha yêu thương người Con và đã giao mọi sự trong tay Người. Ai tin vào người Con thì được sự sống đời đời; còn kẻ nào không chịu tin vào người Con thì không được sự sống, nhưng cơn thịnh nộ của Thiên Chúa đè nặng trên kẻ ấy.”
Suy niệm:
Giêsu ơi! Ngài từ đâu đến?
Tôi là Đấng từ trên cao mà đến.
Tôi là Đấng từ trời mà đến (c.31).
Tôi sinh ra trên đất, sống trên đất, chết trên đất.
Nhưng tôi không thuộc về đất, đất không phải là gốc của tôi.
Gốc của tôi ở nơi cung lòng Thiên Chúa (Ga 1, 18).
Dù cư ngụ trên mặt đất, tôi vẫn luôn hướng về Cha tôi trên trời.
Khi làm xong sứ mạng, tôi sẽ trở về với gốc của tôi.
Giêsu ơi! Ngài làm gì vậy?
Tôi làm chứng về điều tôi đã thấy và đã nghe (c. 32).
Tôi làm chứng về Thiên Chúa là Cha của tôi.
Tôi đã thấy việc Người làm và đã nghe tiếng Người nói.
Nhiều vĩ nhân diễn tả rất hay, rất đúng về Thiên Chúa
và cũng có kinh nghiệm rất sâu về Người.
Nhưng họ không phải là Con như tôi.
Họ chẳng thể nào gần mầu nhiệm Thiên Chúa như tôi.
Chẳng ai biết Cha bằng Con, không ai biết Cha trừ ra Con (Lc 10, 22).
Chỉ mình tôi mới có thể vén mở trọn vẹn khuôn mặt Thiên Chúa.
Giêsu ơi! Ngài là ai?
Tôi là người được Thiên Chúa sai đến với nhân loại trên mặt đất (c. 34).
Chẳng có giây phút nào tôi quên mình là Con, người được sai.
Chẳng có giây phút nào tôi quên Cha tôi là Đấng sai tôi.
Khi nhận mình triệt để tùy thuộc vào Cha, tôi chẳng hề xấu hổ.
Tôi đáng tin vì chính sự tùy thuộc đó.
Tôi chẳng làm điều gì tự mình,
tôi chỉ làm điều tôi đã thấy Cha tôi làm (Ga 5, 19).
Tôi chẳng nói điều gì tự mình,
tôi chỉ nói điều tôi đã nghe Cha tôi nói (Ga 8, 26).
Chính khi tôi tùy thuộc trọn vẹn vào Cha mà tôi được tự do.
Giêsu ơi! Ngài có hạnh phúc không?
Tôi hạnh phúc vì tôi yêu và được yêu.
Cha tôi yêu mến tôi và tôi ở lại trong tình yêu của Cha (Ga 15, 10),
Người vẫn ở với tôi và không để tôi cô độc (Ga 8, 29).
Người yêu mến tôi vì tôi dám hy sinh mạng sống cho đoàn chiên (Ga 10, 17).
Tình yêu của Cha thể hiện qua việc Người trao phó mọi sự trong tay tôi (c. 35).
Tôi có quyền phán xét, quyền cho sống lại ngày sau hết, quyền trên mọi xác phàm.
Bởi vậy tôi mới nói mọi sự Cha có là của tôi (Ga 16, 15).
Hãy đón nhận lời chứng của tôi (c. 33).
Hãy tin vào tôi để được sự sống vĩnh hằng ngay từ đời này (c. 36).
Hãy đến với tôi để được chia sẻ cùng một sứ mạng và vinh quang.
Cầu nguyện:

Lạy Cha,
con phó mặc con cho Cha,
xin dùng con tùy sở thích Cha.

Cha dùng con làm chi, con cũng xin cảm ơn.
Con luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả.

Miễn là ý Cha thực hiện nơi con
và nơi mọi loài Cha tạo dựng,
thì, lạy Cha, con không ước muốn chi khác nữa.

Con trao linh hồn con về tay Cha.
Con dâng linh hồn con cho Cha,
lạy Chúa Trời của con,
với tất cả tình yêu của lòng con,

Vì con yêu mến Cha,
vì lòng yêu mến
thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha,
thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha,
không so đo,
với một lòng tin cậy vô biên,
vì Cha là Cha của con.
(Charles de Foucauld)


Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ