13 thg 4, 2013

Tháng 03 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 4)


TUẦN 4
 HÃY LÀM HÒA CÙNG THIÊN CHÚA

Khai triển nội dung

1. Chúa Giêsu kêu gọi hối cải: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15). Lời kêu gọi này trước hết hướng đến những người chưa biết Đức Kitô và Tin Mừng của Người. Cho nên bí tích Rửa Tội chiếm vị trí đầu tiên và căn bản của việc hối cải. Tuy nhiên lời kêu gọi hối cải vẫn tiếp tục vang lên trong đời sống Kitô hữu, gọi là cuộc hối cải thứ hai. Thánh Ambrôsiô diễn tả cách cụ thể như sau: “Hội Thánh có nước và nước mắt, nước của bí tích Rửa Tội, và nước mắt của bí tích Giao Hòa”. Nỗ lực hối cải này không chỉ là việc của con người, nhưng đúng hơn là hành động của một “tâm hồn tan nát” được ân sủng thúc đẩy để đáp lại tình yêu thương xót của Thiên Chúa, Đấng đã yêu thương chúng ta trước.

2. Có thể chiêm ngắm cuộc hối cải của thánh Phêrô sau khi chối Thầy ba lần, để thấy được ý nghĩa đích thực của cuộc hối cải thứ hai này. Cái nhìn của Chúa Giêsu, cái nhìn tràn ngập lòng thương xót của Chúa đã khiến Phêrô ăn năn khóc lóc. Sau khi Chúa sống lại, thánh nhân đã ba lần tuyên xưng tình yêu của ông đối với Người (Ga 21,15-17). Cuộc hối cải thứ hai cũng mang chiều kích cộng đoàn : toàn thể Hội Thánh được mời gọi “hãy hối cải” (Kh 2,5.16).

3. Đức Kitô đã thiết lập bí tích Giao Hòa (bí tích Giải Tội, Thống Hối) cho tất cả các chi thể trong Hội Thánh của Người. Sau khi chịu Phép Rửa, chúng ta vẫn có thể phạm tội trọng, và như thế, đánh mất ân sủng Phép Rửa và làm tổn thương đến sự hiệp thông của Hội Thánh. Bí tích Giao Hòa ban cho chúng ta cơ hội mới để hối cải và tìm lại được ơn công chính hóa. Bí tích này gồm hai yếu tố chính: một là sự hối cải của con người dưới tác động của Chúa Thánh Thần: thống hối, thú tội, đền tội; hai là hành động tha thứ của Thiên Chúa qua sự can thiệp của Hội Thánh. Nội dung này được trình bày cách đầy đủ trong công thức giải tội.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Những người đã chịu Phép Rửa có cần phải hối cải không?
Thưa: Lời kêu gọi hối cải của Đức Kitô luôn vang vọng trong đời sống những người đã lãnh bí tích Rửa Tội. Việc hối cải này là cuộc chiến đấu liên tục của toàn thể Hội Thánh, vì tuy Hội Thánh có đặc điểm là thánh thiện nhưng lại bao gồm những tội nhân (số 299).

Hỏi: Hối nhân phải có những hành vi nào khi lãnh bí tích Giao Hòa?
Thưa: Những việc hối nhân phải làm là : xét mình cẩn thận, ăn năn tội cùng với quyết tâm không tái phạm nữa, xưng tội và làm việc đền tội (số 303).

Ý cầu nguyện:
Cho mọi Kitô hữu được ơn khiêm tốn nhìn nhận tội lỗi mình và trở về với Chúa.

Tháng 03 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 3)


TUẦN 3
HY TẾ CỦA CHÚA GIÊSU

Khai triển nội dung

1. Cả cuộc đời của Chúa Giêsu là của lễ dâng hiến Chúa Cha. Ngay từ phút đầu tiên Người nhập thể, Chúa Con đã gắn bó với kế hoạch cứu độ của Chúa Cha: “Lạy Thiên Chúa, này con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10,5); “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy và hoàn tất công trình của Ngài” (Ga 4,34). Sự gắn bó với kế hoạch yêu thương cứu chuộc của Chúa Cha đã truyền cảm hứng cho cả cuộc đời của Chúa Giêsu: “Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này! Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến” (Ga 12,27); “Chén mà Chúa Cha đã trao cho Thầy, lẽ nào Thầy chẳng uống” (Ga 18,11).

2. Khi gắn bó với tình yêu của Chúa Cha dành cho nhân loại, Chúa Giêsu đã “yêu thương họ đến cùng” (Ga 13,1), vì “không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hi sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Nhân tính của Chúa Giêsu đã trở thành dụng cụ tự do và hoàn hảo của tình yêu thần linh nơi Người, một tình yêu mong muốn cứu độ mọi người. Nghĩa là Chúa Giêsu hoàn toàn tự do khi chấp nhận cuộc khổ nạn và cái chết, vì tình yêu đối với Chúa Cha và vì tình yêu đối với nhân loại mà Người muốn cứu độ (x.Ga 10,18).

3. Trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã thực hiện trước việc tự nguyện dâng hiến mạng sống của Người: “Đây là Mình Thầy, bị nộp vì anh em” (Lc 22,19); “Đây là Máu Thầy, Máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26,28). Bí tích Thánh Thể mà Chúa Giêsu thiết lập lúc đó sẽ là việc tưởng niệm hy tế của Người, đồng thời Người dạy các Tông Đồ phải lưu truyền việc dâng hiến này mãi mãi: “Anh em hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Đức Kitô đã dâng hiến chính mình cho Chúa Cha như thế nào?

Thưa: Đức Kitô đã tự do dâng hiến tất cả đời sống cho Chúa Cha, để chu toàn ý định cứu độ của Ngài. Đức Kitô đã “hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mc 10,45) (số 119).

Hỏi: Việc dâng hiến của Chúa Giêsu được diễn tả như thế nào trong Bữa Tiệc Ly?

Thưa: Trong Bữa Tiệc Ly với các Tông đồ vào buổi tối trước cuộc khổ nạn, Chúa Giêsu vừa thiết lập bí tích Thánh Thể như việc tưởng nhớ hy tế của Chúa, vừa đặt các Tông đồ làm tư tế của Giao Ước mới (số 120).

Ý cầu nguyện:
Xin ơn biết kết hợp những đau khổ và hi sinh trong cuộc sống với hy tế của Chúa Giêsu trên thánh giá.

Tháng 03 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 2)


TUẦN 2
ĐỨC GIÊSU KITÔ,
ĐẤNG XÓA TỘI TRẦN GIAN

Khai triển nội dung

1. “Đức Kitô đã chết vì tội lỗi chúng ta đúng như lời Thánh Kinh” (1Cr 15,3). Thánh Phaolô tuyên xưng như thế, và ngài cho biết đó là lời tuyên xưng ngài đã “lãnh nhận” chứ không phải tự mình sáng chế. Thánh nhân còn viết thêm: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người” (2Cr 5,21). Sự chết của Đức Kitô mang lại ơn cứu chuộc cho nhân loại. Sự chết ấy hoàn thành cách đặc biệt lời tiên tri về Người Tôi Tớ đau khổ trong sách Isaia mà chúng ta nghe vào Thứ Sáu Tuần Thánh hằng năm (53,7-8). Người Tôi Tớ ấy chịu đánh đập vì chúng ta, mang thương tích vì chúng ta. Nhờ Người mà chúng ta được chữa lành.

2. Thánh Gioan Tẩy giả đã giới thiệu Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian (Ga 1,29,36). Chúa Giêsu vừa là Người Tôi Tớ đau khổ, mang lấy tội lỗi muôn người, vừa là Chiên Vượt Qua, biểu tượng cho việc cứu chuộc Israel trong cuộc Vượt Qua đầu tiên (Xh 12,3-14). Cả cuộc đời Đức Kitô diễn tả sứ vụ của Người : phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người (Mc 10,45).

3.  Sự chết của Chúa Giêsu bày tỏ kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa là kế hoạch của tình yêu lân mẫn, đi trước mọi công trạng của chúng ta: “Đức Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi, đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,8); “Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa trước, nhưng chính Ngài đã yêu thương chúng ta và sai Con của Ngài đến làm của lễ đền tội cho chúng ta” (1Ga 4,10). Tình yêu ấy không loại trừ một ai như chính Chúa Giêsu khẳng định: “Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất” (Mt 18,14). Vì thế Hội Thánh dạy rằng: “Trước kia, hiện nay cũng như sau này, không có một ai mà Đức Kitô không chịu khổ nạn cho họ”.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Tại sao cái chết của Chúa Giêsu lại nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa?

Thưa: Để tất cả mọi người, là những kẻ đáng chết vì tội lỗi, được giao hòa với Ngài, Thiên Chúa đã khởi xướng một việc đầy yêu thương là sai Con của Ngài đến phó mình chịu chết vì những kẻ tội lỗi (số 118).

Hỏi: Cái chết của Chúa Giêsu đã được loan báo như thế nào?

Thưa: Cái chết của Chúa Giêsu đã được loan báo trong Cựu Ước, đặc biệt như hy tế của Người Tôi trung đau khổ, và cái chết ấy đã xảy ra “theo như lời Thánh Kinh” (số 118).

Ý cầu nguyện:
Xin ơn nhận biết tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện nơi Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh, để tình yêu ấy biến đổi chúng ta.

Tháng 03 - NĂM ĐỨC TIN ( Tuần 1)

Chúng ta đã bước vào Mùa Chay. Vì thế chủ đề giáo lý của tháng 3/2013 là : TIN LÀ THEO CHÚA GIÊSU KITÔ TRONG MẦU NHIỆM KHỔ NẠN CỦA NGƯỜI.
Chúng ta cùng tìm hiểu chủ đề này trong 4 tuần lễ :
Tuần 1: Vụ án Chúa Giêsu.
Tuần 2: Chúa Giêsu Kitô, Đấng xóa tội trần gian.
Tuần 3: Hy tế tình yêu của Chúa.
Tuần 4: Hãy làm hòa cùng Thiên Chúa
                                                                    (Bí tích Giao Hòa).
                                            *****************************

TUẦN 1
VỤ ÁN CHÚA GIÊSU

Khai triển nội dung
1. Các nhà cầm quyền tôn giáo ở Giêrusalem đã không nhất trí với nhau về cách xử sự đối với Chúa Giêsu. Nhóm Pharisêu dọa khai trừ những ai đi theo Chúa. Có những người sợ rằng “mọi người sẽ tin vào ông Giêsu, rồi người Rôma sẽ đến phá hủy cả nơi thánh của ta lẫn dân tộc ta” (Ga 11,48). Thượng tế Caipha đưa ra đề nghị: “Thà một người chết thay cho dân còn hơn là toàn dân bị tiêu diệt” (Ga 11,50). Thượng Hội Đồng tuyên bố Chúa Giêsu đáng phải chết vì tội nói phạm thượng, nhưng vì đã mất quyền tuyên án tử hình, nên họ đã nộp Chúa Giêsu cho người Rôma và tố cáo Người về tội nổi loạn chính trị. Vì thế Chúa Giêsu bị xếp đồng hàng với Baraba là người bị tống ngục vì một vụ bạo động (Lc 23,19). Các thượng tế cũng đưa ra những lời đe dọa mang tính chính trị để buộc quan Philatô kết án tử hình Chúa Giêsu. 

2. Chúng ta không thể quy trách nhiệm cho mọi người Do Thái ở Giêrusalem lúc đó, càng không được mở rộng trách nhiệm đến những người Do Thái ở những nơi chốn và thời đại khác. Công Đồng Vaticanô II khẳng định rất rõ điều này: “Không thể nói rằng Thiên Chúa đã loại bỏ người Do Thái hoặc đã chúc dữ cho họ, coi đó như là điều được dạy trong Thánh Kinh” (Tuyên ngôn Nostra Aetate, số 4).

3. Khi suy niệm về cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu Kitô, Hội Thánh luôn nhắc nhở điều này: Các tội nhân là những tác giả và tác viên của mọi cực hình mà Đức Kitô đã phải chịu. Thánh Phanxicô Assisi kêu lên: “Ma quỷ cũng không đóng đinh Người vào thập giá, nhưng chính bạn cùng với chúng đã đóng đinh Người, và bạn vẫn còn đóng đinh Người bằng cách hưởng lạc thú trong các nết xấu và tội lỗi”.

Để ghi nhớ (Sách Toát Yếu GLHTCG)

Hỏi: Chúa Giêsu bị kết án vì những lời tố cáo nào?
Thưa: Một số thủ lãnh Israel đã tố cáo Chúa Giêsu chống lại Lề luật, chống lại Đền thờ Giêrusalem và nhất là chống lại niềm tin vào Thiên Chúa duy nhất, vì Người tự xưng mình là Con Thiên Chúa. Chính vì thế, họ đã nộp Người cho quan Philatô, để Người bị kết án tử hình (số 113).

Hỏi: Ai chịu trách nhiệm về cái chết của Chúa Giêsu?
Thưa: Không thể quy trách nhiệm cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu một cách không phân biệt cho mọi người Do thái thời đó, cũng như con cháu họ sau này. Mỗi tội nhân, nghĩa là mọi người, thực sự là nguyên nhân và công cụ gây nên những đau khổ của Đấng Cứu Chuộc. Chịu trách nhiệm nặng nề hơn nữa là những người, nhất là các Kitô hữu, thường xuyên sa ngã phạm tội và ham thích những thói xấu (số 117).

Ý cầu nguyện:
Cầu cho mọi Kitô hữu biết “mặc lấy Chúa Giêsu Kitô và không chiều theo tính xác thịt” (Rm 13,14).

12 thg 4, 2013

THẮC MẮC VỀ TƯỚC ĐỨC ÔNG

Đức ông ( Monsignor) là một tước vị danh dự do Đức Thánh Cha ban theo đề nghị của các giám mục địa phương cho một số linh mục có công trạng trong việc phục vụ Giáo hội tại các giáo phận trên toàn thế giới, hoặc cho các linh mục nhân viên của Tòa Thánh làm việc trong các cơ quan trung ương tại Giáo triều Rôma hoặc trong các phái bộ ngoại giao của Tòa Thánh ở các quốc gia trên thế giới. Tước vị này thường được viết tắt là Mgr., Msgr.,hay Mons. và không phải là chức thánh trong Giáo hội. Đức Ông vẫn là một linh mục. Theo quyết định của Đức Thánh Cha, tên của các Đức Ông sẽ được ghi vào Niên Giám của Tòa Thánh (Annuario Pontificio). Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh sẽ gửi văn thư và văn bằng chính thức đến các Tòa Giám Mục để ấn định nghi thức trao văn bằng và phẩm phục cho các tân Đức Ông.
Trong một số quốc gia, người ta cũng còn dùng “Monsignor” để xưng hô với các Giám mục.
 Tước hiệu này đã có từ lâu trong Giáo Triều Rôma và theo thời gian cũng thay đổi nhiều với những cấp bậc, quyền lợi và trách vụ khác nhau.
Từ nguyên "Monsignor" của danh hiệu Đức Ông được xem là xuất phát từ danh xưng trong tiếng Pháp "mon seigneur". Danh xưng này xuất hiện đầu tiên vào thế kỷ thứ 14, vào thời kỳ Tòa Thánh đặt ở Avignon, Pháp (1309-1376), được dùng để gọi các vị luật sư trong Tòa án Công giáo. Những vị luật sư này tuy không thuộc hàng giáo phẩm của giáo hội, nhưng trong tòa án họ cũng đeo dây đỏ và mặc áo chùng thâm có nút áo đỏ giống như các giám mục.
Khi Tòa Thánh trở lại Roma vào năm 1377, người Ý bắt đầu dùng biến âm của danh xưng "mon seigneur" thành "monsignore" như một tước vị dùng cho các giáo sĩ phục vụ tại Giáo triều Rôma. Theo thời gian, tước vị này có nhiều thay đổi, với những khác biệt về cấp bậc, quyền lợi và trách vụ.
Trước cuộc cải tổ của Đức Thánh Cha Phaolô VI, có tới 14 cấp bậc khác nhau của tước hiệu Đức Ông.
Mãi đến ngày 28 tháng 3 năm 1968, Đức Giáo hoàng Phaolô VI ra sắc chỉ (Motu proprio) Pontificalis Domus  nhằm đơn giản hóa việc phân loại các tước vị Đức Ông. Theo đó, các tước vị Đức Ông rút xuống chỉ còn 3 bậc từ cao đến thấp như sau:
     1. Đệ Nhất Lục Sự của Tòa Thánh (tiếng Latin: Protonotarii Apostolicii). Cấp bậc này chia làm 2 bậc nhỏ hơn:
•           Chánh Lục Sự (de numero): đây là cấp bậc cao nhất của tước vị, chỉ được phong cho 7 vị giáo sĩ thành Roma.
•           Phó Lục Sự (supranumerarii): đây là cấp bậc cao nhất của tước vị có thể phong cho các giáo sĩ bên ngoài thành Roma.
    2. Giám Chức Danh dự của Đức Giáo hoàng (tiếng Latin Praelatos Honorarios Sanctitatis Suae).
        3. Tuyên úy của Đức Giáo hoàng (tiếng Latin Cappellanis Sanctitatis Suae).
Năm 1969, Phủ Quốc vụ khanh Tòa Thánh đã ra hướng dẫn quy định về phẩm phục dành cho tước vị Đức ông như sau:
•           Bậc Đệ Nhất Lục Sự của Tòa Thánh: Phẩm phục chung là áo chùng ĐEN dành cho giám mục, có nút và viền màu ĐỎ, đai (sash) TÍM, áo choàng tím, và mũ biretta màu ĐEN với búi màu ĐỎ.
•           Bậc Giám chức  Danh dự: Phẩm phục thường là áo chùng ĐEN dành cho giám mục, có nút và viền màu ĐỎ và đai TÍM. Trong các nghi thức phụng vụ trọng thể, phẩm phục là áo chùng TÍM có nút ĐỎ, viền ĐỎ và cổ tay áo ĐỎ.
•           Bậc Tuyên úy của Giáo hoàng: Phẩm phục là áo chùng ĐEN có nút và viền màu TÍM và đai TÍM trong tất cả các dịp. 

Tác giả:  Lm. Giuse Nguyễn Ngọc Bích DCCT

7 thg 4, 2013

ĐỪNG CỨNG LÒNG NHƯNG HÃY TIN

"LẠY CHÚA LÀ THIÊN CHÚA CỦA CON"!
Tin Mừng   Ga 20,19-31
Vào chiều ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do-thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em!" Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Người lại nói với các ông: "Bình an cho anh em! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em." Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha; anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ." Một người trong Nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. Các môn đệ khác nói với ông: "Chúng tôi đã được thấy Chúa!" Ông Tô-ma đáp: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin." Tám ngày sau, các môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em!" Rồi Người bảo ông Tô-ma: "Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin." Ông Tô-ma thưa Người: "Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con!" Đức Giê-su bảo: "Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thấy mà tin!" Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ; nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người.

6 thg 4, 2013

Thứ Bảy Tuần Bát Nhật Phục Sinh

CHÚA VẪN HIỆN DIỆN
Bài Tin Mừng hôm nay như là một bài tóm kết cả một tuần lễ sau phục sinh, tường thuật nhiều biến cố lạ thường mà Chúa Kitô Phục Sinh đã làm nên:

- Chúa hiện ra với người phụ nữ tên là Maria Mađalêna, để từ nay, bà sẽ làm chứng cho ơn tha thứ mà Chúa dành cho bà thật ngoạn mục.
- Chúa hiện ra với hai môn đệ trên đường đi về làng Emau, để từ nay, họ lên đường dấn thân loan báo Tin Mừng Phục Sinh của Chúa.
- Chúa hiện ra với nhóm Mười Một để củng cố lòng tin của các ông. Từ nay, các ông sẽ là kẻ chinh phục tâm hồn con người và mở mang Nước Chúa, đế Nước Chúa ngày càng trải rộng mọi nơi, mọi chốn.
Ngày nay, Chúa vẫn hiện diện trong đời ta. Người thôi thúc ta lên đường dấn thân và phục vụ anh chị em đồng loại, nhân danh tình yêu của Chúa, hiến dâng lên Chúa, Đấng đã hiến mạng sống vì ta, tất cả sự nỗ lực của chính bản thân ta, để thế giới thắm đầy tình yêu cứu độ của Người.
Lạy Chúa, xin dạy con yêu Chúa để con luôn là chứng nhân cho Tin Mừng Phục Sinh của Chúa. Xin Chúa Phục Sinh tuôn tràn ơn Phục Sinh của Ngưới để chúng con luôn bước đi trong ánh sáng của Thiên Chúa là tình yêu. Amen.
Lm. JB NGUYỄN MINH HÙNG