Cuộc sống hằng ngày khi có việc người ta cần đến nhau, khi được việc lại thường quên nhau. Lời Chúa hôm nay khơi dậy lòng tin một người phong hủi trở lại biết ơn Chúa vì được thương xót và được chữa lành.
1. Biết ơn vì được thương xót
Tin mừng kể lại mười người cùi đến đón Chúa, đứng đằng xa và kêu xin Chúa Giêsu thương xót. Trong lúc mọi người "đóng chặt" thế giới người phong thì Chúa Giêsu lại đến với thế giới của họ. Chúa nói họ đi trình diện với các tư tế, trên đường đi họ thấy mình được sạch. Phép lạ thể hiện ngay niềm tin của người bệnh biết tựa vào lòng thương xót của Chúa. Và chỉ một người ngoại có lòng tin đi kèm lòng biết ơn mới xứng đáng lãnh nhận lòng thương xót của Chúa. Như Naaman trong sách các Vua quyển thứ hai tin vào lời Êlisa dìm mình xuống dòng sông Giođan và Chúa cho ông được khỏi bệnh phong. Ngày nay có nhiều chứng phong vô tình đang gặm nhấm tâm hồn chúng ta. Thái độ "khinh người" cũng là chứng phong thiếu bác ái...
2. Biết ơn vì được chữa lành
Chính việc được chữa lành là điều mười người phong phải trở lại cám ơn. Điều nghịch lý ở đây là người ngoại "thấy mình sạch liền quay lại ngay" biết ơn Chúa, còn chín người kia coi như vô ơn. Tin mừng không nói chín người kia trở lại trễ. Chúa Giêsu hỏi : "Thế chín người kia đâu ?". Thực tế trào lưu vô ơn ngày nay vẫn còn diễn ra trong cuộc sống chúng ta. Con người thường quên ơn người làm ơn cho mình. Khi được ơn người ta chỉ biết "tiệc tùng chúc mừng" mà quên Chúa ban ơn cho mình. Trên con đường đầy tuyết, chiếc xe mô tô của cậu sinh viên du lịch bị bể bánh. Sau một tiếng dắt bộ, cậu kiệt sức và dừng chân trước căn nhà lá bỏ hoang. Trời tối dần. Cậu ngồi gục mặt vào chiếc ba lô tuyệt vọng. Đột nhiên cậu nghe có tiếng nói : "Chắc anh mệt lắm, để tôi đưa về nhà tôi nghỉ tạm", tưởng là mơ, cậu dụi mắt để xem có đúng không. Quá mừng rỡ, cậu đi theo người đàn ông lạ. Đêm đó cậu ăn tối : dù chỉ có đậu hủ và tương, nhưng lòng rất sung sướng, sung sướng của người vừa đói vừa lạnh mà được ăn và có chỗ ở an toàn. Trái tim cậu ấm lại vì tình người. Sáng sớm cậu muốn gởi ít tiền vì cậu biết người vùng núi rất khó khăn, nhưng cặp vợ chồng chủ nhà không nhận, họ từ chối và nói : "Cậu không cần trả ơn chúng tôi, chỉ xin là trong tương lai nếu cậu thấy ai cần sự giúp đỡ thì cậu giúp cho họ, như vậy là chúng tôi vui lắm rồi". Cậu từ giã ra đi mà lòng tràn đầy sự biết ơn. Vì sao con người dễ quên ơn Chúa ? Chúng ta thường rơi vào người ngoại hay chín người kia ?
Khi ấy, các Tông Đồ thưa với Chúa Giê-su rằng: “Thưa Thầy, xin thêm lòng tin cho chúng con.” Chúa đáp: “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, thì dù anh em có bảo cây dâu này: ‘Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc’, nó cũng sẽ vâng lời anh em. Ai trong anh em có người đầy tớ đi cày hay đi chăn chiên, mà khi nó ở ngoài đồng về, lại bảo nó: ‘Mau vào ăn cơm đi’, chứ không bảo: ‘Hãy dọn cơm cho ta ăn, thắt lưng hầu bàn cho ta ăn uống xong đã, rồi anh hãy ăn uống sau!’? Chẳng lẽ ông chủ lại biết ơn đầy tớ vì nó đã làm theo lệnh truyền sao? Đối với anh em cũng vậy: khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng, chúng tôi đã chỉ làm việc bổn phận đấy thôi.”
* Bài hát: TIN LÀ Thể hiện: Thanh Sử Sáng tác: Phan Ngọc Hiến
Ca dao có câu: Công cha như núi Thái Sơn - Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Câu ca ngàn đời này ca ngợi công lao của cha mẹ lớn như trời biển, khi sinh thành và dưỡng dục con cái nên người. Và cũng từ đó giáo dục cho các thế hệ sau phải biết: “Một lòng thờ mẹ, kính cha - cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con”.
Thế nhưng, cuộc sống bộn bề những gánh nặng chồng chất bởi cơm áo gạo tiền, bởi kiếm kế sinh nhai khiến con cái ngày nay xem ra thực dụng hơn. Họ toan tính thiệt hơn khi phải chăm sóc mẹ cha và đôi khi tàn nhẫn phủi tay trách nhiệm với cha mẹ. Có những người con coi khinh cha mẹ già yếu, thậm chí còn ngược đãi, hành hạ cha mẹ…
Có một câu chuyện mang tựa đề “Ngày thứ 31” viết về một gia đình sinh ra được ba, bốn người con. Tuy điều kiện kinh tế khó khăn, nhưng đôi vợ chồng này vẫn cần mẫn nuôi con khôn lớn. Tới khi con cái trưởng thành, cũng là lúc ông bà kiệt sức bởi tuổi già và bệnh tật.
Việc chăm sóc nuôi dưỡng bố mẹ già dường như đã trở thành gánh nặng với các con, chúng đùn đẩy cho nhau. Không ai chịu ai nên chúng bổ đều mỗi người phải nuôi bố mẹ ba mươi ngày luân phiên, bi kịch đã xảy ra khi vào tháng có 31 ngày, không đứa con nào chịu nuôi bố mẹ cái ngày dôi ra ấy, ông bà đành chịu đói nằm chờ qua ngày để đến tháng tiếp theo.
Gần đây có biết bao chuyện đau lòng khi con cái bất hiếu với mẹ cha. Thí dụ như chuyện một đôi vợ chồng già do con cái tranh chấp nhà cửa mà bị đẩy ra sống vất vưởng ngoài đường. Rồi chuyện đứa con ngang ngược hành hạ mẹ già, chỉ vì không cấp đủ tiền cho chúng ăn chơi, hoặc đau lòng hơn, vì mâu thuẫn mà có những đứa con nhẫn tâm đoạt cả mạng sống của chính người đã sinh ra mình… Để lại vết thương lòng nhức nhối trong xã hội.
Đây là kiểu sống không có tình ; chỉ có tính thương mại. Đúng như người xưa nói: ‘Mẹ nuôi con như trời như bể, con nuôi mẹ con kể từng ngày’.
Đây cũng là lối sống đạo đầy toan tính của con người thời đại hôm nay. Theo đạo để tìm lợi lộc vật chất như có người vẫn mong cầu trúng số, trúng thưởng hay được trả công bội hậu. Và cũng không thiếu những người xa rời đạo vì theo đạo chẳng được lợi lộc gì! Có người còn toan tính thiệt hơn khi cho Chúa, cho Giáo Hội họ sẽ nhận lại điều gì?
Các tông đồ năm xưa cũng từng hỏi Chúa Giê-su, họ đã từ bỏ mọi sự mà theo Chúa, họ sẽ nhận lại điều gì? Họ vẫn toan tính thiệt hơn theo kiểu thế gian “có qua có lại cho vừa lòng nhau”. Đây là loại người đức tin còn non yếu. Một đức tin chưa đủ trưởng thành để có thể tin tưởng hoàn toàn vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Một đức tin chưa đạt đến mức độ dấn thân để bước đi theo đường lối của Chúa.
Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta: đức tin sẽ giúp chúng ta đạt được những điều ngoài sức tưởng tượng và ngoài khả năng của chúng ta. Một đức tin có thể chuyển núi dời non. Một đức tin có thể làm những chuyện phi thường. Niềm tin chân thành cũng đòi hỏi chúng ta dấn thân hoàn toàn cho Chúa. Một sự dấn thân phó thác mọi sự trong sự quan phòng của Chúa. Thiên Chúa quyền năng, Ngài có thể làm mọi sự theo ý Ngài, thế nên hãy để ý Chúa được hiển trị trong cuộc đời chúng ta khi chúng ta sống vâng theo thánh ý Chúa. Hãy để quyền năng Chúa hiển trị trên sự yếu hèn của chúng ta khi chúng ta tín thác nơi Chúa.
Điều quan yếu để đức tin mang lại hoa trái cho cuộc đời chúng ta chính là nhìn nhận sự nhỏ bé, bất toàn của mình để cậy trông vào Thiên Chúa. Nhìn nhận mình chỉ là một đầy tớ vô dụng nhưng được Thiên Chúa yêu thương ân ban biết bao ơn lành hồn xác. Sức khỏe, trí tuệ, sắc đẹp, công việc đều là ân ban của Thiên Chúa. Thử hỏi:
- Trí óc ta thông minh ư ? Đó là nhờ Chúa sinh ra ta như thế. Nhiều người khác mới sinh ra đã đần độn. - Sức khoẻ ta dồi dào ư ? Cũng nhờ Chúa sinh ta ra sẵn như vậy. Nhiều kẻ sinh ra đã sẵn èo ọt. - Ta có nhiều năng khiếu ư ? Cũng do Chúa sinh ra ta như vậy. - Ta đẹp ư ? : cũng thế. - Ta làm nhiều việc thành công ư ? Đó là nhờ ta có sẵn thông minh, sức khoẻ, năng khiếu.
Bởi vậy dù ta làm được gì thì ta cũng là đầy tớ vô dụng thôi. Xin Chúa giúp chúng ta nhận ra sự yếu hèn của mình để biết trông cậy vào ơn Chúa và biết tạ ơn mỗi khi được nhận lãnh. Amen
Chẳng khác gì ngọn hải đăng vĩ đại rực sáng lên giữa một bầu trời u ám, thánh Phanxicô quả là một sứ giả Thiên Chúa sai đến để đem cho thế giới công giáo thời trung cổ một nguồn sáng đức tin mãnh liệt giữa mọi sự như chìm sâu xuống vực thẳm đêm tối.
Phanxicô chào đời tại Assisi khoảng năm 1182, trong một gia đình quý phái. Cha ngài, ông Phêrô Bênađônê là một thương gia ngành tơ sợi rất có tiếng và mẹ ngài là bà Pica, một người rất đạo đức. Chính bà đã hun đúc Phanxicô thành một vĩ nhân của thời đại và đại thánh của Giáo hội. Ảnh hưởng của một bà mẹ thật sâu xa mạnh mẽ biết chừng nào.
Ông bà Bênađôniê được Chúa cho có một mụn con duy nhất. Ai có thể hiểu được lòng ông bà yêu thương, chiều chuộng Phanxicô lớn lao biết bao. Cậu con trai độc nhất ấy sống tràn ngập trong tình thương mến và trên rừng của núi bạc; thật có lẽ trên đời không còn ai có thể hạnh phúc hơn. Như bao thanh niên cùng giai cấp trưởng giả, Phanxicô đua đòi ăn chơi, luôn luôn tổ chức tiệc vui và những cuộc dạ hội ca vũ. Tuy nhiên, và đó là điều lạ lùng nhất, Phanxicô không bao giờ để mang tai tiếng hoặc là bê tha trong những cuộc truy hoan trái thuần phong mỹ tục.
Nhưng cuộc đời phù du! Đang lúc Phanxicô vui hưởng thanh bình với tất cả mọi hoan lạc của tuổi thanh xuân, thì bỗng một biến cố khốc liệt xảy tới: đám lê dân Assisi nổi lên chống lại phái trưởng giả. Đa thắng thiểu là lẽ dĩ nhiên, nhất là trong thời mà chiến sự chỉ là gậy gộc gươm giáo. Giai cấp trưởng giả, thất bại, Phanxicô cũng như nhiều người quý tộc khác bị cầm tù suốt một năm trời.
Trong thời gian tù đày, Phanxicô lại lâm bệnh nặng thập tử nhất sinh. Nhưng ý Chúa nhiệm mầu, Người dùng cơn bệnh ấy để cải hóa Phanxicô. Bởi thế, sau khi hồi phục, chính ngài cũng phải ngạc nhiên vì tự cảm thấy như chán ghét tất cả những thú vui phù phiếm khi xưa, đồng thời tâm hồn như nhẹ nhàng muốn bay tới những khát vọng siêu nhiên: ngài muốn là hiệp sĩ của Thiên Chúa.
Mãn tù ra, Phanxicô gặp một người trước kia cũng thuộc giới trưởng giả nhưng nay đã bị bóc lột tất cả, ngài liền cởi bộ áo nhường cho người đó. Tối hôm ấy, giữa lúc giấc điệp mơ màng, Phanxicô như nghe tiếng Chúa phán bảo và hôm sau, tại Polêtê ngài lại nghe tiếng lạ đó bảo phải gấp về quê nhà.
Một buổi chiều hè năm 1205, Phanxicô mở đại tiệc thiết đãi bạn hữu. Tiệc xong, mọi người ra về mang theo một mùi men nồng nặc vừa đi vừa ca hát vang động cả một khu phố. Giữa bầu không khí ồn ào đó, Phanxicô bỗng cảm thấy tâm hồn bị lay động rất mạnh, một mãnh lực huyền bí ngọt ngào xâm chiếm cõi lòng ngài... Ngài dừng lại và đứng bất động một lúc lâu, như để đón nhận ơn Chúa đang xuống trong tâm hồn. Lúc đó, quả thực ngài được Chúa ban ơn thúc giục thay đổi cuộc đời.
Từ đó, tâm hồn Phanxicô rất hoang mang lo lắng, chưa biết ý Chúa định liệu thế nào, ngài chỉ còn cách hoặc vào thánh đường Assisi, hoặc tới hang Subasiô ăn năn cầu nguyện, cuối cùng ngài lên đường hành hương thủ đô Giáo hội. Sau nhiều ngày ăn chay cầu nguyện, một hôm, vừa ra khỏi vương cung thánh đường thánh Phêrô, ngài liền được ơn soi sáng, lập tức ngài gọi một người hành khất đến và xin hắn đổi cho bộ áo cũ rách. Từ đó, ngài quyết chí sống đời nghèo khó và tự nhận ơn kêu gọi của mình là: “Người nghèo khó hèn mọn”. Trở về Assisi, ngài đem tiền bạc của cải, phân phát cho những người nghèo khó, và từ đó, bạn bè quý hóa nhất của ngài là những người túng bấn nghèo khổ.
Một buổi chiều kia trên đường trở về nhà, Phanxicô bỗng gặp một người tàn tật, khắp mình đầy chốc lếch, ghẻ lở. Phản ứng đầu tiên là ngài muốn quay cương ngựa đi thẳng, nhưng nghe tiếng Chúa phán bảo trong lòng, ngài liền xuống ngựa đến gần người phong cùi và, với tấm lòng đầy xót thương, ngài liền kề môi hôn những mụn nhọt hôi thối của người ấy.
Được ít lâu, đang khi Phanxicô quỳ cầu nguyện trước ảnh chuộc tội, Thiên Chúa đã cho ngài biết thánh ý của Người qua tiếng phán bảo từ thánh giá vọng xuống như sau:
“Phanxicô, con Cha, con hãy trùng tu lại ngôi nhà của Cha vì nó sắp sụp đổ”. Lập tức bạn người nghèo, tôi tớ kẻ phong cùi liền đứng dậy quyết trở thành người xây dựng nhà Chúa. Về nhà, Phanxicô định ngưng tải tơ sợi ra chợ bán và đem dâng số tiền hàng đó cho cha xứ thánh Đamianô, nhưng cha xứ từ chối vì sợ phật ý ông Bênađônê. Sau một lúc suy nghĩ, Phanxicô nhất định để món tiền đó nơi cung thánh đồng thời xin cha xứ cho phép được ở lại giúp việc ngài.
Nghe tin đó, ông Bênađônê nổi giận đùng đùng, chạy đến nhà cha xứ thánh Đamianô để bắt Phanxicô về. Nhưng chí đã quyết, Phanxicô nhất định thoát ly gia đình để theo Chúa, ngài liền trốn vào một cái hang trong núi gần đó.
Đau khổ đến tuyệt vọng, ông Bênađônê quyết từ con, đồng thời bắt phải hoàn trả món tiền hàng hôm nọ. Trước mặt Đức Giám mục Guiđô, với cái nhìn khiêm tốn nhưng bừng lên một niềm khát khao thiên quốc, từ từ lột bỏ tất cả bộ y phục và với tất cả số tiền còn lại, ngài đem đặt trước mặt thân phụ mà nói rằng:
“Cho đến hôm nay, tôi vẫn gọi ông Phêrô Bênađônê là cha, và tôi xin hoàn lại ông ấy số tiền bạc và quần áo mà tôi giữ của ông ta. Còn từ nay tôi có thể nói rằng: tôi chỉ có một Cha ở trên Trời”.
Ít lâu sau, dân chúng thấy Phanxicô xuất hiện trên các đường phố thành Assisi, mình vận chiếc áo khổ tu, lưng thắt dây da, chân đi dép và ca những bài hát du dương để lôi cuốn quần chúng rồi quyên tiền để tu bổ lại giáo đường thánh Đamianô.
Ngày 24-02-1209, lễ kính thánh Matthia, Phanxicô đi dự lễ và nghe Phúc âm về sự thực hành đức khó nghèo. Lời Phúc âm khiến ngài quyết định hẳn thái độ sống: cởi bỏ áo choàng, giày dép, thắt lưng, đi chân không và chỉ mặc một áo dài, lưng thắt sợi dây thô. Tại các góc phố, cũng như bên các bờ giếng, dân chúng tụ lại nghe ngài giảng, ai nấy đều như bị cảm hóa qua lời nói thiết tha và đời sống khó nghèo của ngài.
Nhiều người hâm mộ và muốn bắt chước đời sống của ngài. Ngài vui lòng nhận tất cả những ai đến xin làm môn đệ, nhưng với hai điều kiện đơn giản song không dễ thực hành: bán hết của cải và đi gõ cửa ăn xin. Tưởng với điều kiện ấy sẽ không ai dám theo ngài, nhưng trái lại số môn đệ vẫn mỗi ngày một tăng. Có người cộng tác, ngài liền sai đi truyền giáo tại miền Ombria và Tuscia. Khi cộng đồng đã khá đông, Phanxicô liền nghĩ đến việc thảo hiến pháp dòng và sang Rôma xin Đức Giáo Hoàng châu phê.
Đức Giáo Hoàng tuy rất mến Phanxicô và hội dòng ngài lập, song vì các vị Hồng Y phản đối, nên chưa quyết định châu phê luật dòng ngài. Nhưng một đêm trong khi ngủ, Đức Giáo Hoàng chiêm bao thấy thánh đường Latêranô là đầu và là mẹ mọi thánh đường trong Giáo hội bị lay chuyển tận nền móng và sắp xụp đổ. Trong khi đó, một người dáng điệu khiêm tốn, mình vận một chiếc áo dài vải thô, đi chân không, lưng thắt sợi dây đến ghé vai vào tường, rồi lấy hết sức chống đỡ thánh đường khiến nó lại đứng thẳng và vững chắc hơn bao giờ hết.
Ngày hôm sau, Phanxicô lại được vời vào chầu Đức Giáo Hoàng để trình bày hiến pháp dòng lần nữa. Vừa thấy ngài, Đức Giáo Hoàng Innôxentê III hết sức xúc động, vì ngài nhận ra người đã chống đỡ đền thờ không ai khác mà chính là thầy dòng hèn mọn này. Đức Giáo Hoàng liền ôm lấy ngài chúc lành cho ngài và các anh em, đồng thời cho phép tiếp tục sống cuộc đời khó nghèo và truyền bá Phúc âm. Trước khi từ giã Rôma trở về nhà dòng tại Portiuncula, thầy Phanxicô được Đức hồng y Colonna truyền chức phó tế.
Về tới dòng, thầy Phanxicô và các anh em lại tiếp tục rao giảng Lời Chúa. Lời nói đi đôi với việc làm của các ngài quả đã lôi cuốn được nhiều linh hồn về với Chúa. Một hôm tại thánh đường Assisi, trong số thính giả có một thiếu nữ quý phái tên là Clara, sau khi nghe thầy Phanxicô giảng, liền quyết tâm dâng mình phụng sự Chúa Giêsu. Ít lâu sau, Anê em Clara cũng bước đi theo chị. Hai thiếu nữ này là những người tiên phong và nền tảng cho một hội dòng nữ: dòng thánh Clara, chính là tên chị Clara sau này đã trở thành một vị đại thánh.
Vì sẵn có ý hướng làm tông đồ nhiệt thành của Chúa, nên nhân lúc nghĩa quân thánh giá đang tiến mạnh bên Đông phương, thầy Phanxicô liền muốn lợi dụng cơ hội đó, để truyền bá Phúc âm cho những người Hồi giáo. Mùa thu năm 1212, ngài xuống tầu tại Ancôna, nhưng một cơn phong ba thổi mạnh, đánh bạt tầu ngài vào bãi biển Dalmatia. Năm 1214, ngài lại muốn đi truyền giáo cho những người Hồi giáo tại Marốc, nhưng chẳng may ngài lại bị bệnh nặng phải nằm tại Tây Ban Nha. Sau khi bình phục, ngài liền đi Ai cập vào bệ kiến vua Melekel Kamel. Nhà vua ân cần tiếp đãi và chăm chú nghe ngài giảng, nhưng nhất định không tòng giáo. Thất vọng, thầy Phanxicô lên đường về Ý,.
Năm 1224, thầy Phanxicô lui về Alverna, một nơi hoang vắng cách nạm bắc thành Assisi độ 15 dặm để chuyên việc suy niệm và ăn năn đền tội. Ngày 14-9, lễ Suy tôn Thánh giá, đang khi suy ngắm, thầy Phanxicô ngất trí và nhìn thấy ở trên trời một nhân vật giống như thiên thần Sêraphim và một ảnh chuộc tội. Lúc tỉnh lại, ôi lạ lùng thay, chân tay và cạnh sườn ngài đã được in năm dấu thánh của Chúa Giêsu đóng đinh.
Lòng đầy mến yêu Thiên Chúa, thầy Phanxicô cất tiếng ca lên bài ca chúc tụng Thiên Chúa, Đấng tạo hóa của muôn loài, đó là “Bài ca mặt trời” mà lời lẽ vui tươi sốt sắng như sau:
“Ôi Chúa cao cả, toàn năng, chỉ mình Chúa đáng được chúc tụng, vinh quang, danh dự, và vinh phúc. Chỉ mình Chúa thôi, lạy Đấng chí cao, loài người không ai xứng đáng hết.
Lạy Chúa vinh danh Chúa, vì mọi loài tạo vật của Chúa, đặc biệt là anh mặt trời soi sáng ban ngày và chiếu rọi cho chúng con. Anh đẹp biết bao, sáng láng dường nào, anh là một chứng nhân của Chúa.
Lạy Chúa vinh danh Chúa, vì chị Hằng nga và các vì tinh tú Chúa đã tạo dựng chúng sáng láng mỹ miều trên bầu trời cao thẳm.
Lạy Chúa, chúc tụng Chúa, vì anh gió, vì không khí, mây mù, sương sa.
Lạy Chúa, chúc tụng Chúa vì chị nước rất hữu ích, quý giá và tinh tuyền.
Lạy Chúa, vinh danh Chúa vì anh lửa, nhờ anh mà đêm tối được sáng, anh tươi đẹp, vui vẻ, uy hùng và mạnh mẽ biết bao.
Lạy Chúa, chúc tụng Chúa vì bà mẹ địa cầu đã nâng đỡ nuôi nấng và sinh sản muôn vàn hoa trái với những bông hoa thắm mầu xinh tươi…
Anh em hãy ca ngợi và chúc tụng Chúa, hãy cảm tạ và bước theo Người với cõi lòng đơn sơ, khiêm tốn”.
Ngoài “bài ca mặt trời” trên đây, thánh Phanxicô còn sáng tác một bản “Kinh nguyện Hòa bình” với những lời lẽ tha thiết và sốt sắng như sau:
“Lạy Chúa khoan nhân, xin dậy chúng con nhận biết yêu thương và phụng sự Chúa trong mọi người chẳng trừ ai.
Lạy Chúa, xin hãy dùng con làm khí cụ bình an của Chúa: để con đem yêu thương vào nơi thù oán, đem tha thứ vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi bất thuận, đem sự thật vào chốn lỗi lầm, đem đức tin vào nơi nghi hoặc, đem cậy trông vào nơi tuyệt vọng, đem ánh sáng vào chốn tối tăm, đem yên vui vào nơi sầu thảm.
Lạy Chúa, hãy dạy chúng con: tìm an ủi người, hơn được người an ủi; tìm hiểu biết người, hơn được người hiểu biết; tìm yêu mến người hơn được người mến yêu. Vì chính lúc hiến thân, là lúc nhận lãnh, chính lúc quên mình, là lúc gặp lại bản thân, chính lúc tha thứ, là lúc được thứ tha, chính lúc chết đi là lúc sống lại cuộc đời bất diệt.
Hỡi Thần Linh Thánh Ái, hãy mở rộng cõi lòng chúng con và ban xuống trần gian bình an Chúa cho hết mọi người thiện chí”. Amen.
Thánh Phanxicô dọn mình chết trong một túp lều gần nơi sinh trưởng. Ngài xin các tu sĩ dòng đặt ngài nằm trần trụi trên mặt đất. Lúc này đây, ngài thật đúng là con người sinh ra trần trụi và khi chết cũng trần trụi.
Ngày hôm sau, khi người ta đọc cho ngài nghe bài thương khó trong Phúc âm thánh Gioan, thì thánh nhân lâm cơn hấp hối. Các thầy đặt ngài xuống đất và ngài xin lấy tro rắc trên mình ngài. Đoạn ngài xướng thánh vịnh 141: Tiếng con kêu thấu đến Chúa, rồi ngài tắt thở trong niềm hoan hỉ cậy trông.
Năm 1228, thầy Phanxicô được Đức Giáo Hoàng Grêgôriô tôn lên bậc hiển thánh và năm 1230, xác ngài được di chuyển từ nhà thờ thánh Giócgiô đến vương cung thánh đường thánh Phanxicô vừa được xây cất để dâng kính ngài. Thánh Phanxicô nghèo quả là một vị thánh có một không hai trong lịch sử các thánh. Quả vậy, không ai đã tỏ ra giống Chúa Giêsu cho bằng ngài. Ngài thật là một tấm gương vĩ đại về đức khó nghèo cho muôn thế hệ soi chung.
Lạy thánh Phanxicô, xin ngài cầu cho chúng con được can đảm để lướt thắng mọi cám dỗ vinh hoa và bền tâm bắt chước ngài, đừng ham mê tiền bạc giữa thế giới đầy tham lam gian trá này.
Thư Gửi Các Linh Mục Của Thánh Louis De Monfort Về Kinh Mân Côi
BBT: Đây như là bức tâm thư của thánh Louis Marie Grignion de Monfort, vị tông đồ kinh Mân Côi, gửi cho các linh mục. Điều thánh nhân muốn nói với các linh mục là quan tâm rao giảng về kinh Mân Côi và thực hành đọc hay suy gẫm về kinh Mân Côi. Kinh Mân Côi là cách rất tốt để cải hoá các linh hồn hơn tất cả những lời giảng hùng hồn của chính vị linh mục. Điều này chính tác giả bức tâm thư này đã cảm nghiệm được. Sau đây là nguyên văn bức thư được trích trong tác phẩm của thánh nhân “Bí Mật Kinh Mân Côi”.
Bông Hồng Trắng Tặng Các Linh Mục
Quí thừa tác viên của Đấng Tối Cao thân mến, các cha là những vị linh mục đồng hành với con trong công cuộc rao giảng chân lý của Thiên Chúa và giảng dạy Phúc Âm cho mọi dân nước, xin hãy cho phép con được gửi đến các cha cuốn sách nhỏ này, như là một bông hồng trắng, mong các cha hãy giữ lấy nó.
Những sự thật trong cuốn sách này được giải bày một cách rất đơn sơ và dễ hiểu, như các cha sẽ thấy. Xin giữ chúng trong lòng của các cha, để các cha có thể mang ra thực hành kinh Mân Côi thánh và nếm hưởng hoa trái của nó. Xin các cha cũng đọc kinh Mân Côi nữa, để các cha luôn rao giảng kinh Mân Côi, nhờ đó, qua việc chỉ dẫn về sự tuyệt diệu của lòng sùng kính thánh đức này, các cha có thể cải thiện được các linh hồn.
Con xin các cha hãy coi chừng luồng tư tưởng cho kinh Mân Côi là một điều không mấy quan trọng, như những người không hiểu biết, hay ngay cả các bậc đại thức giả kiêu kỳ vẫn nghĩ như thế. Kinh Mân Côi là một kho tàng vô giá, được Thiên Chúa linh ứng, vượt trên mức độ bình thường.
Thiên Chúa toàn năng đã ban kinh Mân Côi cho các cha, vì Người muốn các cha dùng kinh này như phương tiện để cải thiện các tội nhân cứng lòng nhất, cũng như những kẻ lạc đạo ngoan cố nhất. Thiên Chúa đã gắn liền kinh Mân Côi với ơn phúc ở đời này và vinh quang ở đời sau. Các thánh đã trung thành đọc kinh Mân Côi và các Đức Thánh Cha đã chuẩn nhận kinh này.
Khi Chúa Thánh Linh mạc khải bí mật này cho một vị linh mục, vị quản nhiệm các linh hồn, thì phúc cho vị linh mục ấy. Bởi vì, phần lớn đại đa số dân chúng không biết gì về bí mật này, hay dù có biết đi nữa, cũng chỉ biết một cách hời hợt vậy thôi. Một khi thực sự hiểu được bí mật này rồi, vị linh mục sẽ đọc kinh Mân Côi hằng ngày và sẽ khuyên giục kẻ khác đọc nữa.
Thiên Chúa và Mẹ Thánh của Người sẽ tràn đổ muôn vàn ơn ích vào linh hồn vị linh mục ấy, để ngài trở nên khí cụ của Thiên Chúa trong việc làm vinh danh Người; và, lời nói của ngài, mặc dù đơn sơ, trong vòng một tháng mà thôi cũng sẽ có lợi hơn là các lời nói của các vị giảng thuyết trong cả mấy năm trời.
Bởi thế, hỡi anh em linh mục đồng hành thân mến của con, dạy cho người ta việc tôn sùng này mà thôi chưa đủ; chính chúng ta phải thực hành việc tôn sùng này nữa. Cho dù chúng ta có tin một cách chắc chắn vào tầm quan trọng của kinh Mân Côi thánh mà tự chúng ta lại không bao giờ đọc đến, thì dân chúng sẽ khó lòng mà nghe theo lời khuyên bảo của chúng ta, bởi không ai có thể cho cái mà họ không có: “Chúa Giêsu bắt đầu làm và dạy dỗ” (Cv 1,1). Chúng ta phải tự bắt chước Chúa là Đấng bắt đầu bằng việc làm điều mà Người giảng dạy. Chúng ta phải làm như thánh Phaolô, người chỉ biết giảng dạy duy một điều là Chúa Giêsu tử giá. Điều này rất hợp với việc mà các cha sẽ làm trong việc rao giảng về kinh Mân Côi thánh. Đây không phải là một tổng hợp các kinh Lạy Cha và Kính Mừng, ngược lại, đó là một toát lược thần linh về các mầu nhiệm của đời sống lẫn tử nạn, sự chết và vinh hiển của Chúa Giêsu cùng với Mẹ Maria.
Con có thể chia sẻ nhiều với các cha về các ơn Thiên Chúa đã ban cho con trong việc biết được bằng kinh nghiệm những công hiệu của việc rao giảng kinh Mân Côi thánh, và những cuộc trở lại lạ lùng do việc rao giảng kinh Mân Côi này mang lại mà chính mắt con đã từng chứng kiến. Con rất hân hạnh kể hầu các cha nghe về tất cả những điều này, nếu con thấy rằng chúng sẽ đánh động các cha để các cha rao giảng sự sùng kính cao đẹp mà hiện nay các linh mục không có thói quen làm. Tuy nhiên, thay vì kể cho các cha về những điều ấy, con nghĩ rằng, cuốn sách toát lược nhỏ bé do con viết đây cũng đủ để con kể hầu các cha một ít câu truyện cổ đáng tin về kinh Mân Côi thánh, những câu truyện con đúc kết để kể cho giáo hữu Pháp.
(BBT giới thiệu và trích từ Thánh Louis Marie Grignion de Monfort, Bí mật kinh Mân Côi – Bông hồng trằng tặng các linh mục, bản dịch tiếng Việt của Đa Minh Maria Cao Tấn Tĩnh, BLV; nguồn:http://conggiao.org/bi-mat-kinh-man-coi/bimatKMC1.htm).
Sống ở trần gian chỉ có 24 tuổi đời, thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã để lại cho trần gian một con đường nên thánh xem ra đơn sơ, giản dị, nhưng cũng là một linh đạo tuyệt vời: ”Con đường thơ ấu thiêng liêng”. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu là ai ? Con đường thơ ấu thiêng liêng nói gì cho ta ?
MỘT CON NGƯỜI. MỘT CUỘC ĐỜI: Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, con ông Louis Martin và bà Maria Guérin. Người sinh ngày 2 tháng 1 năm 1873 tại Alencon nước Pháp. Gia đình Ông bà Louis Martin sinh được 9 người con. Tuy nhiên 4 người con đã qua đời, chỉ còn lại 5 chị em gái. Tất cả 5 chị em gái sau này đều bước vào đời tận hiến trong các Dòng tu. Têrêsa mồ côi mẹ từ lúc chưa tròn 4 tuổi. Nỗi buồn mất mẹ cứ hằn sâu trong cuộc đời của Têrêsa. Ông Louis Martin bỏ Alencon lui về Lisieux với cả gia đình. Với truyền thống của một gia đình đạo đức và với tấm lòng đơn sơ, yêu mến Chúa, Têrêsa đã nhất quyết chọn cho mình một con đường. Do đó, thánh nhân đã xin vào tu viện nhà kín Cát Minh tại Lisieux vào tháng 4 năm 1888 lúc Người mới chưa tròn 15 tuổi.
Thánh Têrêsa luôn cảm nghiệm sâu xa tình yêu của Thiên Chúa và Người đã sống cái diệu cảm của một con người đầy ắp Chúa. Tâm hồn của Người thật đạo đức, thánh thiện. Người cảm thấy ơn gọi của Người thật kỳ diệu vì chính vào đêm giáng sinh năm 1886, một biến cố làm cho Người quay trở về với Chúa và Người nhận thấy con người của mình được biến đổi hoàn toàn. Từ đây, ơn gọi yêu mến Chúa và yêu tha nhân thôi thúc Têrêsa. Người đã có thể nói như thánh Phaolô tông đồ: ”Tình yêu Chúa Kitô thúc bách tôi “. Đời sống trong tu viện Cát Minh càng lúc càng nung đốt tâm hồn của thánh nhân. Đời sống nội tâm của Têrêsa càng ngày càng lên cao. Người đã có mối liên hệ mật thiết với Chúa ở một tầm cao mới, chiều sâu mới, quan hệ tình yêu. Thánh nhân cảm thấy càng ngày càng phải kết hợp với Chúa trong cuộc thống khổ của Ngài. Thánh nhân coi thánh kinh là sách gối đầu và là sách duy nhất giúp Người nên thánh và gần gũi Chúa. Tuy nhiên sự thử thách nội tâm và sự đau khổ thể xác diễn ra hằng ngày trong đời sống của thánh nhân đã làm cho thánh nhân càng ngày càng cảm nghiệm sâu xa mầu nhiệm tình yêu cao vời của Chúa.
Năm 1896 trong đêm thứ sáu tuần thánh, Têrêsa bị ho ra máu lần đầu tiên. Thánh nhân đã sống những tháng ngày trong sự đau khổ triền miên của bệnh tật. Có thể nói, mười tám tháng cuối cùng của cuộc đời Người là một cuộc tử đạo không ngừng. Thân xác bị đau đớn, nội tâm bị thử thách. Nhưng, thánh nhân đã sống hết mình vì tình yêu.
Người lìa trần vào ngày 30 tháng 9 năm 1897, hưởng thọ 24 tuổi. Cái tuổi còn đầy sinh lực và nhựa sống. Người ra đi trong tiếng thì thào:” Lạy Chúa, con yêu Chúa”. Đức Giáo Hoàng Piô XI nâng Người lên bậc hiển thánh và đặt Người làm bổn mạng các xứ truyền giáo.
CON ĐƯỜNG THƠ ẤU THIÊNG LIÊNG CỦA THÁNH TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU: Thánh Têrêsa đã bỏ cõi đời để đi vào cõi sống vĩnh hằng, Người đi vào cái trọn vẹn, cái lớn lao: yêu Chúa hơn bất cứ người nào trên dương thế này; Têrêsa muốn dâng mình cho tình yêu vô vị lợi, tình yêu nhân từ vô biên của Chúa như của lễ dâng hiến toàn thiêu; Têrêsa muốn yêu mọi người như Chúa Giêsu đã yêu nhân loại.
Người đã sống trọn vẹn con đường tình yêu của Chúa. Người đã chọn một linh đạo cho cuộc đời mình, linh đạo tình yêu nhỏ bé. Con đường của Người là con đường thơ ấu thiêng liêng. Têrêsa tựï ví mình như trẻ nhỏ, mà nhỏ nghĩa là yếu đuối, hèn mọn, không thể tự sức mình làm được gì; nên phải yêu mến thật nhiều, yêu mến không giới hạn để đạt được điều mình ao ước, mong chờ.
Quan niệm của Têrêsa giống như những người nghèo của Thiên Chúa mà đặc biệt là thái độ của Mẹ Maria trong kinh Magnificat. Têrêsa đã cảm nghiệm được con đường nên thánh qua thái độ, cử chỉ của Đức Mẹ. Têrêsa đã hiểu được bí quyết nên thánh theo thánh kinh:” trở nên người lớn nhất phải trở nên bé nhỏ nhất”. Đây là kinh nghiệm sống của Têrêsa trong cuộc sống hằng ngày. Con đường nên thánh của Người là con đường thơ ấu thiêng liêng. Muốn đi con đường ấy, bí quyết thật giản dị: “ Hãy dâng mình yêu Chúa, hãy chấp nhận đau khổ hy sinh vì Chúa, hãy chia sẻ tâm tình của Chúa cứu độ đang đau khổ trong các chi thể của Hội Thánh để cứu rỗi thế gian”.
Hãy yêu Chúa và yêu tha nhân thật nhiều. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu đang mời gọi mọi người nên thánh bằng con đường tình yêu, con đường thơ ấu thiêng liêng…Nên thánh không phải là làm những việc vĩ đại, nhưng con người trở nên thánh bằng con đường nhỏ bé thiêng liêng. Têrêsa đã ví chiếc thang máy bác lên Trời là tình yêu. Con người chỉ có thể đạt được Nước Trời khi họ sống bé nhỏ và yêu thương.
Lạy thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, với tư tưởng phong phú, đầy thánh thiện và đạo đức của Người, xin cho chúng con hiểu được con đường nhỏ bé đầy tình yêu của Người. Xin Người làm rơi hoa hồng là những ân huệ từ Trời xuống thật nhiều cho chúng con. Amen.